0060.0085

13/1/16
0060.0085
  • PDF
    GoogleDocs

    giao phó cho một quan võ trông coi ; nếu xảy có giặc biển thì việc tiếp ứng cứu viện cũng hơi xa. ấy là 3 điều.


    Vả lại, nơi ấy, rừng rậm bao quanh, buôn bán không tiện. Từ khi dựng tỉnh lỵ đến nay, quân và dân ở lẫn, chỉ vài mươi nhà. Phía ngoài quanh tỉnh, tuyệt không thấy khói bếp người ở. Phóng hết tầm con mắt chỉ thấy rừng rậm bát ngát. Quan lại ở tỉnh đều nói : năm trước, mỗi lần đón sứ Xiêm tất phải mời họ đi đêm, vì sợ ban ngày trông thấy, có lẽ họ sẽ kinh ngạc trước cảnh hoang vu lạnh lẽo ! Xem như thế, thật không phải là cách làm cho nơi biên phòng được oai mạnh mà ngăn ngừa được sự nhòm ngó của nước ngoài.



    Vả lại, xét ra trấn lỵ trước, dựa núi làm thành, ngăn biển làm hào. Đường núi có thể đặt đồn trại, cửa biển có thể tập quân thuỷ. Tựa trên cao mà trông xuống, khống chế rất mạnh. Tả, hữu và phía sau, ba mặt đã có luỹ đá cũ, có thể nhân đấy để nắm thế cao ; trước mặt lại có pháo đài Kim Đữ, có thể giữ ở trên núi mà dòm ngó xuống biển. Nếu dời tỉnh lỵ về đấy lại chia đặt đồn đóng quân để giữ con đường xung yếu, thì dù có mọi rợ ngu xuẩn như ruồi, muỗi, cũng khó bay qua cửa ải ấy được. Vả, đối với giặc Đồ Bà, ở mặt biển, tưởng cũng dễ ngăn cản được. Còn địa thế thì rộng rãi, nước thì ngọt lành, lại là một điều lợi về địa lợi.


    Khi trước tỉnh lỵ còn ở đấy, nhân dân sum họp đông đúc, đó là một nơi đô hội lớn. Vừa rồi, nhân có đám vô lại rông cuồng, nên cư dân hoảng sợ, tan tác ! Bọn thần đã mấy phen thân đi chiêu dụ vỗ về, thì dân dần dần đã lại quay về.


    Nay xin dời tỉnh lỵ đến chỗ ấy, sửa đắp lũy cũ, dựa thế hiểm trở, giữ chỗ xung yếu, vỗ về an ủi nhân dân, khiến cho được sum họp yên ổn như cũ. Còn nơi lỵ sở hiện tại thì đặt một đồn quân, phái binh đến đóng giữ.


    Vua phê bảo : “Việc trước mắt ấy, ngươi nói rất phải. Chuẩn cho được cả như lời thỉnh cầu mà thi hành”.


    Trong Kinh kỳ, giá gạo còn cao. Vua dụ rằng : “Phàm các quan viên văn võ ở Kinh từng đã bị phạt bổng đáng phải chiết trừ vào kỳ 3 tháng về quý đông và tính theo tháng mà phát lương bổng thì không cứ là phạm tội công hay tư, không cứ là đã chiết trừ hay chưa chiết trừ, về gạo lương, chuẩn cho chiếu theo phẩm trật cũ, được lĩnh toàn lương, từ mồng 1 tháng 10 đến cuối tháng 12, để chi dùng. Duy có khoản lương bằng tiền thì vẫn chiết phạt theo đúng lệ. Từ Bát, Cửu phẩm trở xuống, nay về sau, nếu có ai bị phạt thì chuẩn cho chiếu theo án, xử đích đáng, chứ không nên phạt lương”.


    Các nhà trạm từ Thừa Thiên trở ra ngoài gần nay, truyền đệ giấy tờ báo động phần nhiều chậm trễ.


    Vua dụ : “Hạ lệnh cho Kinh doãn và các Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát từ Quảng Trị ra Bắc, phải xét kỹ các trạm mục ((1) Trạm mục : người đứng đầu làm việc chạy trạm.1) : người nào mẫn cácn thì cho lưu lại làm việc ; người nào hèn kém, thì cách truất đi. Rồi chọn lấy Cai đội, hoặc Chánh đội trưởng, hay Đội trưởng trong hạt, phái đi cai quản, đốc suất lính trạm cho nhanh việc công”.


    Ban cấp thêm ngựa cho các trạm từ Thừa Thiên đến Hà Nội, mỗi trạm 1 con.


    Trấn thần Hưng Hóa tâu nói : “Sở ty quan ở quán Bảo Thắng thuộc hạt Hưng Hóa trước đây vì thổ bùng nổi, tiền bạc bị cướp bóc, ngạch thuế thiếu nhiều”. Vua đặc cách hạ lệnh giảm thuế cho 2 phần 10.


    Hải phỉ Đồ Bà lẻn lút nổi ở huyện hạt Long Xuyên thuộc Hà Tiên cướp của bắt người. Viên bộ biền ((2) Bộ biền : quan võ làm nhiệm vụ bắt giặc.2) là Nguyễn Văn Thuỵ, thự Phó quản cơ ở cơ Hà phú, đánh nhau với phỉ ở ngoài cảng Cự Môn, bắc đại bác chết vài tên. Phỉ nhảy lên bờ, chạy. [Quân của Thuỵ] đuổi bắt được hết bọn ấy.


    Lại có người nhà Thanh theo giặc, tên chánh yếu phạm là Trần Thục Ân (tự xưng là Thiên địa hội, nhận nguỵ chức là Cai phủ. Trước đây, Ân tụ họp hơn vài trăm đồ đảng cướp bóc ở phố Hà Tiên, dân cư đều bỏ nghề nghiệp, lánh đi) lẩn trốn ở đất Hà Châu. Thí sai Chánh đội trưởng Suất đội ở cơ Hà điện là Đặng Văn Liệu, đem binh dò thám, bắt được. Hộ lý Tuần phủ Trịnh Đường đem việc ấy tâu lên.


    Vua dụ Nội các : “Trịnh Đường và Đặng Văn Nguyên mới đến tỉnh, đã hay dốc sức biền binh bắt được đồ đảng hung ác ấy, ta xem lời tâu, rất đáng khen ngợi. Trịnh Đường, lập tức thưởng bổ Tuần phủ kiêm cả việc Bố chính sứ ; Đặng Văn Nguyên, thưởng gia 1 cấp ; Nguyễn Văn Thuỵ, Đặng Văn Liệu đều được thực thụ ngay. Còn người bắt được tên chính yếu phạm Trần Thục Ân thì thưởng bạc 30 lạng. Ngoài ra, ai bắt sống được giặc Đồ Bà, cứ mỗi tên phạm thưởng bạc 5 lạng, hễ chém được, cứ mỗi tên phạm, thưởng bạc 3 lạng. Những biền binh dự cuộc đi đánh ấy thưởng chung tất cả 100 quan tiền.


    “Vả lại, ở hạt ấy, có nhiều người nhà Thanh đến kiều ngụ ; trước đây đã từng dụ bảo xử trí cho ổn thoả ; nay truyền dụ cho bọn Trịnh Đường, Đặng Văn Nguyên; nên lập tức phân biệt người tốt, người xấu : đối với những kẻ hung tợn, quyết phải trừng trị nghiêm ngặt ; đối với người lương thiện, phải vỗ về yên ủi ưu hậu hơn lên. Chớ để cho họ còn mang lòng ngờ vực sợ hãi và khiến ai nấy đều yên phận, giữ phép, ở yên, để cùng hưởng Phước thái bình.


    Khâm phái Hộ bộ Tả thị lang Đặng Chương từ quân thứ Gia Định về Kinh tâu : “Đồ đảng giặc trong thành, ngày nọ, có họp thành đến hơn 100 tên, đi ra ngoài thành, tìm kiếm vật liệu. Binh dõng do Lê Đại Cương đốc suất ở địa phận tấn sở chỉ chém được 1 đầu và đâm bị thương 5, 6 đứa mà thôi”.


    Vua dụ : “Hiện nay vây thành, chỉ mong bọn giặc kéo ra để đấu chọi với chúng. Hơn 100 tên ló đầu ra ngoài tất là bọn cảm tử trong đám giặc. Ví thử ta gắng sức đánh giết, không để sót một tên nào vào thành được, há chẳng khoái lắm ư ! Lại há chẳng hơn là mỗi ngày dùng súng bắn phỏng vào trong thành, mà vị tất đã làm chết được thằng giặc nào ư ? Sao lại để chúng ra, vào tự do như thế ? Bọn giặc đã không thiệt hại, chẳng khỏi có lòng khinh thường quan quân. Thật là tính sai đấy.


    “Vậy, truyền chỉ ban quở cả các Tướng quân và các Tham tán. Lại truyền chỉ nghiêm quở Lê Đại Cương : Từ nay, bọn giặc còn dám đi ra, tất nên nghiêm sức cho các tướng, biền binh, đang ở các đồn tấn sở tại phải hết sức đón đánh, dẫu dưới làn tên đạn tơi bời cũng không quản ngại. Cốt sao giặc phải đến một đứa thì giết chết một đứa, không cho trốn thoát, tất có hậu thưởng. Nếu cứ bất lực mãi, dung túng cho giặc muốn đi đâu tuỳ ý thì khó trốn được lỗi đấy !


    “Lại nữa, đồ đảng giặc thường lẻn ra phía mặt trước thành, mà địa phận đồn tấn nơi ấy phần nhiều là hương dõng chia ra canh phòng, không đắc lực lắm. Các Tướng quân và Tham tán nên lập tức phái quân tinh nhuệ đến thay hoặc phái thêm quan quân góp sức canh giữ, khiến cho giặc không dám ló ra, để kiếm chác lấy một vật gì nữa.


    “Vả, nay tên nghịch Khôi khốn quẫn bám giữ cô thành. Hắn tự biết tội ác quá nặng, lại càng cố chết giữ vững. Quan quân chưa thể đánh gấp để hạ thành ngay được, luống chỉ tổn hại quân lính. Nhưng nên đắp cao núi đất, đặt nhiều súng đại bác ; ban ngày, sai người bắn giỏi thử bắn 1, 2 phát ở mặt trước và mặt sau. Rồi đến mặt tả và mặt hữu thành ngước xem đạn bay xa, gần thế nào, lựa tính phân tấc, để đặt tầm súng cao hay thấp, nhất nhất ghi lấy, để đêm đến, tiện việc bắn phá. Lập tức, đêm hôm ấy, sai biền binh ở mặt tả, hữu, xa chiếu đèn đuốc ở đầu nơi phụ quách. Bện hình người bằng cỏ, giả làm bộ dạng đang đánh phá hoặc đắp luỹ. Quan quân thì ở trong luỹ hò la ầm lên. Giặc tất tụ ở hai mặt tả, hữu trên thành để chống cự. Bấy giờ đại bác trên núi đất ở phía trước và phía sau, cứ chiếu theo chuẩn đích đã ghi từ ban ngày, nhằm bắn vào đám giặc. Ngày khác, lại ở hai mặt tả, hữu, cứ theo phép ấy mà làm, thì tất giết được nhiều giặc.


    “Nay thế giặc ngày càng cùng quẫn quá, tất nhiên chúng phải ngày đêm mưu đồ đột phá vòng vây để rút ra. Vậy thì quan quân vây quanh dãy luỹ dài, nên làm cho cao thêm, dày thêm ; mé ngoài cắm chông tre và đặt “ngựa gỗ” ((1) Nguyên văn là “mộc mã”. Theo Từ hải, mộc mã là một công cụ phòng thủ, trên có gỗ ngang, dưới đóng ba chân, dài 6 thước, cao 3 thước, bố trí ngổn ngang ở phía ngoài doanh trận để cản trở quân kỵ của địch. “Ngựa gỗ” mà Minh Mệnh sai làm đây tức là “mộc mã” nói trên, một thứ chướng ngại vật để ngăn chặn bước tiến của địch.1), để phòng bị nghiêm cẩn, kiên cố mười phần. Ví bằng còn kéo dài hàng tháng, cũng không để đến nỗi lọt ra được một tên giặc nào. Thế thì hồn cá chập chờn đáy chậu, sớm muộn tất sẽ bị bắt”.


    Sai nghiêm sức bắt điền số binh còn thiếu ở các hạt Bắc Kỳ.


    Vua dụ Nội các : “Gần nay, số giản binh ở Bắc Kỳ trốn thiếu còn nhiều, đã từng giáng chỉ ban ân cho gia hạn đến mồng 1 tháng 10, bắt điền đủ số. Đến nay ngạch binh thiếu còn đến hàng trăm, hàng nghìn. Thật bởi tự địa phương bất lực trong việc vâng lệnh thi hành. Vậy hạ lệnh bộ Binh truyền dụ cho Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án Sát các tỉnh Ninh Bình, Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây đều phải sức cho phủ, huyện theo số binh thiếu, nghiêm ngặt bắt điền vào. Nếu chưa được đủ cả thì phải được 7, 8 phần 10.


    “Vả lại, binh và dân cả hai đều quan hệ đến chính sự trọng đại trong nước. Bọn ngươi đều là quan chức giữ đất đai nên làm thế nào cho dân không bị nhiễu sự, mà số binh thường đủ, mới là không phụ chức phận của mình, quyết không nên tham vui tháng ngày lần lữa ngồi nhìn số thiếu, cũng không nên muợn tay nha, lại đến nỗi nhiễu dân. Nếu có xảy một tệ hại gì khác, sẽ nghiêm xử không tha”.


    Tổng đốc Hà - Ninh là Đoàn Văn Trường tâu nói : “Biền binh ở tỉnh mình, trước đã chia phái đi phòng thủ và đáp ứng làm các công dịch. Số binh hiện có mặt chỉ còn 1.000 người. Thần đã lượng phái Phó quản cơ ở cơ Tả định là Trần Văn Vân đem 200 binh, cùng với 100 binh ở cơ Nghiêm dũng trước đã phái đi, đợi ở Bắc Ninh, khi Tạ Quang Cự tiến đánh thì theo đi trận”.


    Vua dụ : “Tỉnh ngươi số binh hiện có không đầy đủ lắm, lượng phái số ấy cũng phải. Duy đang khi có việc, sao không biết quyền biến toan tính : lại sai làm tất cả những việc không cần kíp, và cứ đóng giữ ở cả những chỗ vô sự ! Vả, tỉnh thành Hà Nội là nơi rất quan trọng, há nên chia phái đi nhiều nơi, để đến nỗi việc phòng thủ tỏ ra yếu kém ! Còn biền binh trú phòng ở Thức Cốc kia, thì nay Chi Nê hiện đã yên ổn, nên rút về ngay. Các thành, các bảo ở các phủ huyện nơi nào mà việc cầm phòng có thể sơ sài thì liệu tính rút bớt. Các việc tạp dịch tầm thường như tán diêm tiêu và đúc đạn cũng đình bãi ngay. Đến như việc xây dựng Bảo tuyền cục ((2) Bảo tuyền cục : tức Tràng tiền, xưởng đúc tiền.2) thì thuê dân làm, chứ không được lạm phái một biền binh nào cả, khiến cho trong thành có trọng binh để bảo vệ được nghiêm cẩn”.


    Tuần phủ Thanh Ba là Nguyễn Khả Bằng tâu nói : “Biền binh ở Ban trực Trung vệ đã rút về tỉnh, kịp khi Tổng thống Tạ Quang Cự đi qua đây, lại theo chỉ dụ, đem đi Bắc Ninh, làm việc bắt giặc”.


    Vua dụ quở rằng : “Vệ quân ấy trước có chỉ phái đi Hà Nội nhưng gặp lúc hạt ngươi có động, đã không tâu ngay xin lưu hẳn vệ quân ấy lại ; sau đó giặc đã yên rồi, biền binh đã đi gần tới Hà Nội, lại bắt trở về. Luẩn quẩn trên đường, chỉ thêm nhọc nhằn phí tổn ! Hiện nay Bắc Kỳ có việc không biết nghĩ làm cho được đúng cơ nghi để giúp ích đôi chút. Người bề tôi tầm thường, lỡ việc như thế, thì lỗi ấy từ chối được sao ? Vậy lập tức giao bộ Binh nghiêm ngặt nghị tội.


    “Vả lại, việc này có quan hệ đến quân sự, mà các viên bố, án cũng không hội đồng bàn định ổn thoả để làm lại cho là việc ngoài bụng không nghĩ đến, tâm địa còn ra sao nữa ! Người làm tôi con há lại nên như thế ư ? Vậy Bố chính Nguyễn Đăng Giai, án sát Lê Đức Ngạn cũng đều phải giao đình thần bàn xử rồi tâu lên, để làm gương răn cho các quan to, có trách nhiệm về việc giữ đất đai mà không biết sự thể gì cả !”. Sau đó, bộ Binh nghị xử xin giáng Nguyễn Khả Bằng 3 cấp, Nguyễn Đăng Giai và Lê Đức Ngạn đều 1 cấp.


    Vua đặc cách hạ lệnh miễn sự phạt giáng cấp, bắt họ phải bồi thường số lương cho binh lính (chiếu theo số lương bằng tiền và gạo phải chi cho biền binh trong 1 tháng ấy, chia làm 10 thành, Bằng phải chịu 7 phần, Giai và Ngạn chịu 3 phần).


    Vua bảo Binh bộ : “ấy cũng là theo ý đời xưa phạt vàng chuộc tội”.


    Chuẩn định : Từ nay, phàm ở Nội vụ phủ tiến vào trong Nội các phẩm vật như vàng, ngọc, trân bảo, gấm, đoạn, sa, lĩnh, sâm, quế, các vật quý, vẫn cứ theo lệ trước, mỗi việc lại biên ngay vào sổ. Ngoài ra, rượu, giấm, dầu, sáp ong, các đồ tầm thường và vải lụa linh tinh, v.v… đều cho 3 tháng 1 lần hội lại để vào sổ. Vậy đặt làm lệ.


    Tỉnh Bình Định, giá gạo còn cao.


    Vua dụ các quan tỉnh nên xét kỹ tình hình trong hạt, trong khoảng giao thời đông - xuân, xứ nào lương thực của dân còn có thể tiếp tế được, hoặc xứ nào nên cho dân vay mượn, cứ thực tâu lên đợi chỉ ban xuống, sẽ thi hành.


    Chuẩn định : Từ nay, các ty viên trong bộ Binh và viện Đô sát, mỗi tháng 1 lần, khám nghiệm các ngựa công, nếu có sự chăn nuôi không đúng phép, và có tình tệ gì khác, phải làm bản đàn hặc tâu lên. Nếu không, thì không nên làm phiến tấu. Đến như số ngựa sống và chết, cuối năm, do người quản viên viện Thượng tứ, chiếu theo số, họp lại làm sổ, giao bộ xét lại tâu lên. Còn cái lệ, Nội các cứ nửa năm 1 lần khai sách tâu, thì nay bỏ đi.


    Tuyên Quang đạo Tổng đốc quân vụ Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ, từ đồn Ninh Biên đem binh và voi do hai bên tả hữu sông Lô, chia đường đều tiến, hẹn kỳ hội tiễu tổ giặc ở Vân Trung. Họ làm tập tâu, vua biết và nói : Thỉnh thoảng căn cứ vào lời bọn thổ ty Hoàng Kim Toan và nguyên Thổ tri châu Ma Trọng Đại đi lùng bắt bọn giặc trốn thì đã chém được 1 đầu và bắt sống được hơn 20 tên phạm. Lại nữa, thí sai Chánh đội trưởng Suất đội cơ Tuyên hùng là Ma Doãn Bồi, từ sau khi Ninh Biên thất thủ, vẫn cố giữ đồn Tụ Long, không chịu theo giặc. Đến đây, Doãn Bồi sai cháu là Ma Doãn Đẩu đem thổ dõng theo đi quân thứ. Lại xét ra, từ Ninh Biên đến Vân Trung, đường sông có ghềnh nguy hiểm, thuyền lương khó tiến. [Bọn Đức này] đã trích lấy Quản cơ Nguyễn Văn Huấn đem hơn 50 lính lưu lại ở đấy canh giữ.


    Vua dụ : Đại binh tiến đi, cơ hội và dân tình đều tốt. Ta xem tờ tấu, thực rất vui mừng và được yên ủi. Thí sai Suất đội Ma Doãn Bồi trước sau không chịu theo giặc, bảo vệ bờ cõi để đợi quan quân, nay lại cho cháu theo đi tòng chinh. Tấm lòng kính thuận, chân thực ấy rất đáng khen ngợi. Chuẩn cho lập tức thăng bổ Cai đội, thưởng thêm một bộ áo mũ để biểu dương, Ma Doãn Đẩu cũng thưởng thụ Đội trưởng, cho theo đi làm việc bắt giặc.


    “Lại, việc chuyển vận lương thực đều được tiếp tế luôn luôn, cũng đáng khen. Những người hộ tống vận lương như Kinh lịch ở Phiên ty ((1) Phiên ty : nha môn Bố chính.1) là Nguyễn Đình Vĩ thì thương thụ làm Thông phán ở Niết ty ((2) Niết ty : nha môn án sát.2) ; thí sai Chánh đội trưởng Suất đội là Phạm Văn Khai thì lập tức cho thực thụ. Và, nay quan quân đi đến đâu, ở đấy được sạch quang giặc giã, vậy cần nên gắng sức hơn nữa cho được thành công. Ta ngày trông ngóng cờ đỏ ((3) Cờ đỏ : cờ hiệu báo tin thắng trận.3) đấy”.


    Rồi đó, vua sai thị vệ mang ban cho Lê Văn Đức một áo mổ bụng bằng đoạn tơ, màu quan lục, có thêu tám hoa mẫu đơn năm vẻ ; và Nguyễn Công Trứ cũng một áo mổ bụng bằng đoạn tơ, màu lam, có thêu tám hoa mẫu đơn năm vẻ.


    Sai bọn Tướng quân và Tham tán ở quân thứ Gia Định : Xét xem số quân hương dõng đi tòng chinh ở các tỉnh người nào trước đây cai quản một cơ thì quyền cấp làm Ngoại uỷ suất cơ ; trước cai quản một đội thì quyền cấp làm Ngoại uỷ suất đội, cho có sự thống nhiếp chặt chẽ. Đợi sau khi việc đã yên rồi cứ theo công trạng tâu lên, sẽ liệu lượng xét dùng. Suất cơ, thì chuẩn cho mỗi người đều mỗi tháng được cấp tiền 2 quan, gạo 1 phương ; Suất đội tiền 1 quan 5 tiền, gạo 1 phương ; hương dõng đều tiền 1 quan, gạo 1 phương. Khi nào việc bình rồi thì thôi.


    Sai truyền dụ giục bọn Tổng thống đạo Lạng - Bình là Tạ Quang Cự và Tham tán là Vũ Văn Từ tiến quân.


    Vua bảo bộ Binh : “Đạo quân do Tạ Quang Cự và Vũ Văn Từ quản lĩnh đem đi, đều là quân tinh nhuệ ; hiện nay chắc cũng đã đến Bắc Ninh. Vậy, dụ truyền kíp tiến quân đánh dẹp, giải vây cho Lạng Sơn. Lại thừa thắng đi thẳng đến Cao Bằng, tiễu trừ dư đảng giặc”.


    Lại dụ : “Các thổ ty Bắc Kỳ đội ơn triều đình chan chứa đã lâu, truyền đời được nối chức, giữ đất. Thế mà sài lang quen tính, lại muốn cắn trả. Nghịch Vân đã tụ đảng giương cánh như chim cất, thổ ty lại kéo bè, tụ tập như đàn kiến ! Xem ra bọn giặc ấy chẳng qua cậy mình ở nơi hiểm và xa, hùa nhau để làm việc gian ác, chứ tuyệt không có ngón tài năng gì ! Vả lại, chúng sợ oai mà không mến ân đức, thực tâm địa người man thổ là thế ! Cho nên, trước kia, có nhiều thổ ty Cao Bằng, Lạng Sơn, đem nhau theo giặc. Thậm chí chúng chẹn bắt Tuần phủ, vây bức tỉnh thành ! Rất đáng ghét ! Nếu không một phen trừng trị kịch liệt thì không bao giờ xong cuộc ấy được.


    “Nay, đại binh ta như mây họp lại, hẹn ngày thành công, chắc rằng đàn chó và lũ cáo ấy khó đối địch với quân tì hưu [của ta] được. Ngày nào binh đến Lạng Sơn, nên một mặt ra sức giết giặc, một mặt mật hỏi các thổ ty, xem ai là người cam tâm theo giặc, quay giáo chống cự quan quân thì tất bắt giết hết, không để sót. Đến như người Thổ, người Man, người Nùng, người nhà Thanh, nếu là những kẻ hung tợn, thì giết thẳng tay, bêu đầu treo xác ở bên đường, để răn về sau. Còn những dân vô tri, bị cưỡng ép theo, thì tuyên dương oai đức triều đình, tha cho tội trước, khiến họ đều ở yên làm ăn.


    “Tiến đến Cao Bằng cũng thế, không được quá nhân nhu, để đến nỗi kẻ gian ác được gây lớn thêm. Lại, khi binh tiến đi, gặp nơi hiểm ác, như Quỷ Môn quan chẳng hạn, nên tuyển quân tinh nhuệ làm tiền phong và mang nhiều các đại bác quá sơn, thần công ; đại binh chia đội kế tiếp tiến lên, chớ để cách quãng. Giặc dẫu đặt quân mai phục cũng không thể đón chặn quân ta được. Lại, khi sang đò bến hiểm, nên chuẩn bị sẵn sàng : dao rút khỏi bao, súng nhồi sẵn thuốc, nếu gặp giặc, phải tấn công chớp nhoáng. Và, nếu bọn giặc mai phục ở nơi rừng rậm, thì lập tức sai bắn một hai phát đại bác vào trong rừng. Giặc ngờ rằng quan quân đã biết trước, tất tự tan vỡ ngay. Nếu chúng còn dám châu chấu đá xe, ra mặt kháng cự, thì quân ta đã chuẩn bị sẵn lập tức nghiêm đốc quân lính hăng hái xông lên, bắt giết bọn giặc để dâng công, tất sẽ chiếu theo thể lệ mà khen thưởng… Nếu có người nào rút lui, dẫu là bọn Quản vệ, Quản cơ hoặc tướng, biền cũng lập tức chém đầu để nghiêm quân luật. Như thế đi đến đâu cũng chắc có thể thành công được cả”.


    Lại dụ Đề đốc quân vụ đạo Thái Nguyên là Phạm Văn Điển và Phó đề đốc là Lê Thuận Tĩnh về mưu lược tiến quân hay đóng quân cũng như thế.


    Sai tỉnh Bắc Ninh phát ở kho ra thứ ngân tiền Phi long, để vận tải đến quân thứ Tạ Quang Cự và Phạm Văn Điển (Quân thứ Tạ Quang Cự : tiền hạng lớn 500 đồng, hạng nhỏ 200 đồng ; quân thứ Phạm Văn Điển : tiền hạng lớn 300 đồng, hạng nhỏ 100 đồng).


    Vua sai mật dụ Tổng đốc quân vụ đạo Tuyên Quang là Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ trước đã dụ bảo : Sau khi đánh phá tổ giặc ở Vân Trung, tiện đường kíp đi Cao Bằng, đánh giải vây đồn Sơn Bảo ; lại chuyển về Lạng Sơn ngay, đánh dẹp dư đảng giặc ; rồi do đường lớn Bắc Ninh khải hoàn.


    Nay nghĩ : Quan quân đến đâu đều được thắng trận, khải hoàn, cố nhiên là thuận tiện. Duy những thổ ty, thổ dõng mà các ngươi đem theo phải qua đèo lội suối, hoặc ngại đi chăng. Các ngươi nên bí mật cùng nhau bàn tính : nếu đã giải vây được Cao Bằng, thì oai quân ta lừng lẫy khắp cả, tiền đồ quyết không có gì trở ngại. Quan quân ta có thể một mình thẳng tiến do đường bằng phẳng thừa thắng đi mau, không phải cần đến sức thổ dõng và thổ binh Tuyên Quang nữa. Các ngươi nên liệu tính ngay trước : cho quân thổ trở lại, để khỏi lặn lội khó nhọc mãi. Việc này, cốt phải mật xét tình hình, trù liệu ổn đáng mà làm, chớ để tin hơi tiết lộ.


    Vua lại bảo đình thần : “Về mặt Lạng Sơn - Cao Bằng, ta đã lựa sai bọn Tổng thống Tạ Quang Cự và Tham tán Vũ Văn Từ đem đại đội quan quân tiến đánh, tính hành trình chắc đã đến Lạng Sơn : binh và dõng tập hợp đông đảo tin rằng có thể hẹn ngày lần lượt thành công. Nhân nghĩ đến đạo binh đi đường Tuyên Quang, là nơi có nhiều sơn lam chướng khí. Quân ta đi trận lâu ngày, chẳng khỏi bị cảm mạo. Vậy truyền dụ bọn Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ : Nếu nay đã lên đường đi Cao bằng thì theo dụ trước, chuyển đến Lạng Sơn do đường Bắc Ninh, kéo quân khải hoàn, cũng rất hay. Nếu hiện nay đến Vân Trung, mà tên nghịch Vân còn đang trốn tránh, quan quân còn phải dừng lại ở đấy, thì tất phải phá tổ, đào hang của chúng, đập tan quét sạch, không để lại tí gì, khiến chúng sợ mãi oai trời, mới là xong việc. Một mặt, các ngươi chia phái thổ ty, thổ dõng hết sức lùng bắt, cốt bắt được tên đích phạm là nghịch Vân, giải về nghiêm trị ; một mặt khác, lập tức thống lĩnh tướng, biền, quân sĩ do đường cũ Tuyên Quang khải hoàn, rồi chuyển về Sơn Tây, Hải Dương nghỉ ngơi, không nên lại đi Cao Bằng làm gì nữa”.


    Đổi phát vãng viên bị cách Tôn Thất Bạch đi Thái Nguyên, theo Phạm Văn Điển và Lê Thuận Tĩnh sai phái, gắng sức làm việc để chuộc tội.


    Bạch, trước đây bị tội, phái đi khổ sai, giữ lăng tẩm.


    Vua nghĩ trong lúc dùng người, cốt khiến cho biết đổi mới, nên sai Bạch đi.


    Lại sai Cẩm y Cai đội là Nguyễn Văn Thanh đem hơn 100 quân Giáo dưỡng đi theo các bọn Điển làm việc quân.


    Nguỵ thủy quân Vũ Công Tước đảng giặc Phiên An đốc suất một toán hơn 700 tên, giòng giây, ra ngoài thành, phạm vào dãy trường luỹ phía trước mặt của ta. Phó vệ uý vệ Hùng oai thuộc Thảo nghịch Tả đạo là Vũ Phi Giám, nguyên Chánh đội trưởng Suất đội Phiên dũng Hậu cơ, quyền sai Quản cơ là Hoàng Văn Toán (Toán trước nhận chức Nguỵ đô quản, giữ tấn Cần Giờ bắt đồng đảng là Nguyễn Văn Hiên ra thú và đem nộp ở quân thứ Biên Hoà - Vĩnh Long. Tham tán Trương Minh Giảng cho Toán lại về Cần Giờ đóng giữ. Sau, binh thuyền của tướng quân Tống Phước Lương tiến đến, Toán theo đi đánh trận) ; thự Phó vệ uý ở Thần cơ Trung vệ thuộc Bình khấu đạo là Vũ Viết Tuấn ; quyền sung Phó lãnh binh An Giang là Lê Đại Cương, đều giữ địa phận tấn sở đốc suất binh, dõng, hết sức vây bắt, chém được 5 đầu giặc. Giặc vừa đánh, vừa chạy. Quân ta đuổi đến mặt phụ quách ; giặc rút vào bên bờ hào, chẹn chỗ hiểm, chống giữ. Chúng lại ở trên thành bắn đại bác xuống. Quân ta hơn 10 người bị chết tại trận và hơn 100 người bị thương, Vũ Viết Tuấn cũng bị thương. Rồi đều thu binh về tấn sở.


    Các Tướng quân và Tham tán đem việc tâu lên và nói : “Từng đã theo lời dụ, ở bốn mặt ngoài thành, liệu lượng chia địa phận làm các đồn tấn : Bình khấu đạo ở mặt trước, Thảo nghịch Tả đạo ở mặt hữu, Thảo nghịch Hữu đạo ở 2 mặt tả và hậu, đạo quân nào cũng đóng xen kinh binh và binh dõng các tỉnh, mỗi mặt có 2.400, 2.500 người phòng thủ nghiêm ngặt hơn. Nhưng hai bên các cửa thành đã có đại bác trên đài bắn chéo, mà phía ngoài các cửa ở 3 mặt tả, hữu, hậu lại có thành Dương Mã, giặc đặt sẵn đại bác ở trên ấy, thay đổi dòng xuống thành, ngày đêm canh giữ, đến nỗi quân ta định đốt phá cánh cửa thành, mà chưa tiện thi hành được”.


    Vua dụ quở rằng : “Bọn giặc liều chết cố giữ cô thành. Trước đây ta đã nhiều lần dụ bảo phải nghiêm cẩn phòng bị, nếu chúng có lẻn ra, lập tức ngăn chặn đánh giết, không để một tên giặc nào chạy thoát. Thế mà nay, bọn giặc giòng dây, ra khỏi thành chiến đấu, quan quân bắt và chém không được nhiều, mà mình lại bị thương và chết đến hơn trăm, thế là lợi bất cập hại ! Nghiệm xét tình hình ấy hình như binh dõng các bộ phận đồn tấn đêm khuya, có sơ hở về sự canh phòng, để đến nỗi giặc được thừa cơ, suýt đến lỡ việc ! Thực bởi quân lệnh của các tướng quân không nghiêm ngặt, trách nhiệm ấy thật khó chối được.


    “Vậy Trần Văn Năng, Tống Phước Lương lần trước được gia quân công 1 cấp, nay đều truy thu lại, để tỏ ý răn dạy. Lê Đại Cương, Vũ Phi Giám có nhiệm vụ chia giữ đồn tấn đều bị giáng 2 cấp. Hoàng Văn Toán bị lập tức áp giải về Kinh, đợi chỉ. Vũ Viết Tuấn vì chiến đấu bị thương, được miễn nghị.


    “Vả lại, trước nói : Giặc đã sợ oai, không dám ra ngoài thành ; nay lại giòng dây xuống đến hơn 700 tên. Chúng lại ở thành Dương Mã, phía ngoài cửa thành, thường thay đổi ra vào, ngày đêm chiếm giữ, thì [so với lời các ngươi] nói trước vị tất đã thực cả.


    Lại, ta trước đã dụ : phàm các phận đồn tấn tất phải đóng xen binh dõng, để giúp sức lẫn nhau. Thế mà các Tướng quân và Tham tán lại cho là tấn phận đã thành, ngại sự thay đổi. Một khi bọn giặc nhân thấy kẽ sơ hở đánh úp ta lại không khỏi phải một phen thay đổi. Ví thử, khi trước, sớm biết tuân theo lời dụ mà xếp đặt thì sao đến mắc phải lầm lỡ này ! Ta thấy rất không hài lòng.


    “Từ nay, nên nghĩ kỹ mưu cơ cho đúng, phòng thủ cho nghiêm cẩn hơn lên, khiến giặc không dám ra ngoài nữa. Ngày càng cùng quẫn thì chúng mới dễ bị bắt.


    “Đến như trận đánh đêm ấy, quan quân hăng hái xông lên trước, chém được 5 đầu giặc, ấy còn hơn các trận tầm thường khác. Vậy, nên điều tra rõ, xem người nào đã chém được giặc, lập tức cứ chiếu mỗi đầu, thưởng bạc 5 lạng. Hoàng Văn Toán, đã giải đến Kinh, bị giao xuống bộ Hình nghiêm xét”. Sau đó, Toán chết, vua sai cắt đầu để răn mọi người.


    Bổ Trần Công Chương làm Lang trung bộ Hộ, vẫn theo làm việc quân ở quân thứ Gia Định.


    Hộ lý Tuần phủ Ninh Bình là Lê Nguyên Hi tâu nói : “Trước kia, bọn phỉ lẻn lút nổi ở các xã Chân Lại, Trung Hoàng, thần đã phái quân lùng bắt chưa được. Hỏi ra, dân sở tại đều nói bọn phỉ ấy, lẩn đến nấu cơm, ăn xong lại đi, không cướp bóc gì cả. Thần đã trừng trị bọn hương mục ở xã ấy về tội hoang báo rồi”.


    Vua dụ : “Ngươi nhiều lần tâu báo bọn phỉ rông rỡ cướp bóc, tình hình rất nghiêm trọng. Kịp khi có chỉ nghiêm sức lùng bắt, rút cục không bắt được tên phỉ nào cả. Nay lại đổ tiếng cho dân xã hoang báo. Thật là trước sau không hợp. Vậy hẵng truyền chỉ nghiêm quở. Từ nay, thám báo tất phải mười phần rõ rệt xác đáng, mới được tâu lên. Nếu chỉ nghe hão, hoang mang không thực, tất bị đình thần nghị xử”.


    Cho Viên ngoại lang bộ Hộ là Nguyễn Đức Hộ, sung làm Bảo tuyền cục Đại sứ((1) Chức quan Giám đốc trường sở đúc tiền (Tràng tiền).1), Chủ sự bộ Binh, gia ấm Viên ngoại lang hàm là Hoàng Kim Đảng và Chủ sự bộ Hộ là Phan Đình Quyền đều sung làm Phó sứ (viên Đại sứ đốc suất làm công việc
  • Chia sẻ trang này