0060.0086

13/1/16
0060.0086
  • PDF
    GoogleDocs

    đúc tiền ; 1 viên Phó sứ đốc biện việc thu hay phát kẽm để đúc tiền và 1 Phó sứ, đốc biện việc thu hay phát tiền đã đúc. Mỗi viên được Nhà nước cấp cho một đồ ký bằng đồng và một dấu kiềm bằng gỗ).


    Chủ tàu nước Phú Lãng Sa là Xa Di đến buôn ở tấn Đà Nẵng tỉnh Quảng Nam đem bán vàng giả. Việc phát giác. Vua bảo bộ Hộ : “Hắn là người ngoại quốc, nếu chiếu luật làm tội, thì nước hắn tất nhiên che giấu tội ác của hắn, lại bảo là ta ức hiếp lái buôn phương xa, trở mang tiếng là không tốt. Vậy nên tha cho hắn về, nhưng hạ lệnh cho ty Thương bạc tư cho quan địa phương nước hắn tra hỏi trừng trị. ấy cũng là cái ý trừng trị bằng cách chính mình không trực tiếp trừng trị”.


    Cấp tiền công nhu cho trường Quốc tử giám (mỗi năm 80 quan).


    Hoãn lại việc thanh tra khoá lệ ở sáu tỉnh Nam Kỳ.


    Bộ Hộ tâu : “Theo lệ, từ Bình Định trở vào Nam, lấy những năm dần, tỵ, thân, hợi làm khoá thanh tra. Nay sáu tỉnh từ Biên Hoà đến Hà Tiên, ngày nọ, vì bọn giặc lén lút nổi lên, trong đó, sự thể không như ngày trước nữa. Vậy xin nên cho triển hạn hoãn một khoá. Còn bốn tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận vẫn cứ theo lệ, phái nhân viên đi tra xét mà làm”. Vua chuẩn y.


    Cho Hoàng Văn ẩn, Vệ uý vệ Hậu nhất quân Vũ lâm kiêm lĩnh chức Đề đốc ở Kinh thành ; Nguyễn Trọng Tính thự Phó vệ uý ở Long võ Trung vệ quyền lĩnh công việc viện Thượng tứ.


    Bổ Chiêu Bông, Thổ ty phủ Lạc Biên, tỉnh Nghệ An làm Tuyên uý Đồng tri, quản lý việc phủ ; Phì Xà Nộn làm Thổ tri châu hiệp theo giúp việc. Cả hai đều được cấp cho sắc và ấn.


    Bọn Chiêu Bông, vốn là dân thổ, tin phục [triều đình]. Từ sau khi Chuyên Cương trốn, Chiêu Bông tạm quyền làm việc phủ, chiêu tập dân, gần được bằng ngạch cũ (ngạch cũ : số nhân dân 450 người ; số chưa trở về còn 20 người). Tỉnh thần đề đạt tâu lên, nên mới có mệnh lệnh này.


    Tỉnh thần Nghệ An tâu : “Tên phạm trốn là Chuyên Cương, nhờ thanh thế nước Xiêm, sai con là Hạt Xà Bông đem binh qua biên giới khua dỗ nhân dân phủ Lạc Biên. Bọn hắn bị quân đi dò la của 2 phủ Trấn Tĩnh và Lạc Biên ngăn chặn. Hắn rút đi và nói : “Về Phố Khâm, lấy thêm lính Xiêm, hẹn ngày sẽ lại đến lấn cướp. Hai phủ đem việc ấy báo lên xin cho binh đến đóng giữ. Thần đã sai phái Cai đội thuộc tỉnh là Phạm Lân và Lê Văn Uẩn đem 50 biền binh đi đến hai phủ ấy đốc thúc vát lấy lính thổ của phìa tạo ((1) Phìa, tạo : tầng lớp thống trị dân tộc người Thái hưởng đặc quyền, đặc lợi về kinh tế ở trong khu vực hành chính nhất định. 1) khoảng bốn, năm trăm người, nghiêm ngặt ngăn chặn. Nếu bọn hắn lại dám qua sông, quấy nhiễu, lập tức một mặt trổ sức nã bắt ; một mặt phi báo để tiện có bằng cứ mà điều khiển. Lại làm sẵn tờ tư, giao bọn Phạm Lân cho người đưa đến đồn Phố Khâm, trách người Xiêm về tội hùa đảng làm ác, khiến biết răn sợ”. Vua cho là phải.


    Bố chính Hải Dương Trần Văn Tuân tâu nói : “Thể lệ quy định về quân chính thành Gia Định năm trước từ một tay Trung dinh Giám quân Tống Phước Đạm. Từ năm Kỷ Dậu [1789] đến năm Nhâm Tuất, Gia Long thứ nhất [1802] các dinh quân đều có bản in ban hành trong đó, những điều quân luật bắt buộc, thần còn nhớ đại lược. Trong có một điều : Chi đội các vệ, mỗi đội đều có thập, ngũ. Thập có Thập trưởng, ngũ có Ngũ trưởng. Khi đi trận, tự có kỷ luật. Phàm từ viên Quản binh đến Thập trưởng và Ngũ trưởng, khi ra trận mà lùi lại, thì khép vào quân luật. Đến như trong 1 ngũ, 1 thập, số binh 5 người, 10 người hoặc bỏ Ngũ trưởng, Thập trưởng chết trận mà lùi chạy trước, cũng đều xử theo quân luật.


    “Vả lại, đánh dẹp trong khoảng 14 năm, nhờ có thể lệ quân chính ấy, lớn, bé cùng duy trì nhau, tướng thì có lòng cảm tử, quân thì không tham cái sống nhát hèn nên quét sạch được giặc giã, bình định thống nhất được nước nhà. Nay những điều quân chính ấy thiếu mất đã lâu, sợ không lấy gì kiểm thúc được hàng ngũ quân đội”.


    “Lại xét năm Minh Mệnh thứ 12 [1831], bộ Binh tâu bàn : Lính cơ thuộc tỉnh, mỗi đội chỉ có 1 viên Suất đội ; Đội trưởng thì thống suất cả thập, Ngũ trưởng thì thống suất cả ngũ, còn đều bỏ đi cả. Sự xếp đặt trong thời thái bình thật là cốt để giảm bớt những chức viên thừa. Nhưng trong quân không có thập và ngũ, lấy gì gìn giữ lẫn nhau ? Ví thử có tướng can đảm mà không có quân liều chết quyết chiến e khi ra trận, khó mong thắng lợi được.


    “Nay xin sắc cho bộ nên soạn lục thể lệ quy định về quân chính thành Gia Định năm trước kính gửi đi cho tuân hành. Và lại đặt thập ngũ như trước, ngõ hầu được quen quân luật”.


    Vua dụ : “Đặt quan, chia chức, quý được thực dụng. Binh của một đội chỉ có 50 người, đã do Suất đội cai quản, lại có Đội trởng phò tá, số võ biền đã đến ba người, lại thêm một Viên ngoại uỷ, tưởng cũng chẳng phải là ít. Khi bình thường vô sự, Quản vệ, Quản cơ nên đem đội trưởng, ngoại uỷ, chia nhau quản lĩnh mà rèn luyện ; khi có việc, cùng nhau hăng hái cố gắng, cánh tay cất lên thì ngón tay đều theo, tự đủ giúp được đắc lực. Trước kia, bộ bàn bỏ bớt chức Suất thập, tưởng cũng đã thực hành được rồi, chứ bất tất phải câu nệ theo phép xưa nữa. Đến như điều lệ ước thúc trong việc hành quân, cố nhiên không thể thiếu được. Song, việc binh, tất phải huấn luyện có phương pháp ở lúc bình thường, đến khi có việc mới mong hữu dụng. Như khi đương sai phái đi bắt giặc, việc cần kíp là phải huấn luyện quân sĩ cho được tinh nhuệ hùng mạnh, dám xung phong giết giặc, ấy là điều cốt yếu. Tức như ngày gần đây, Quản cơ Bắc Ninh là Nguyễn Văn Anh, với 300 cơ binh, mà đánh phá được hơn nghìn giặc thì có phải đợi gì đến những điều lệ ước thúc kia đâu mà cũng thành công được ? Sao lại bỏ điều ấy, không nghĩ đến, lại muốn khư khư rập theo những điều lệ ước thúc cũ, chẳng hầu như viển vông ư ? Vậy thì việc này tạm để đợi sau sẽ bàn”.


    Tỉnh Sơn Tây có bọn phỉ đến quấy nhiễu cướp bóc ở hạt phủ Vĩnh Tường ((1) Vĩnh Tường : nay thuộc tỉnh Vĩnh Phước.1). Tỉnh thần phái thự Phó vệ uý Tiền bảo Nhị vệ Tôn Thất Bật và Phó quản cơ cơ Tiền dũng Nguyễn Văn Sĩ đem binh voi đi đánh dẹp. Bọn Bật vừa đến xã Quất Lựu (thuộc huyện An Lãng), thì gặp hơn 1.000 phỉ. Mở cờ, khua trống, phỉ vụt ra cự chiến. Trong bọn ấy, có 2 tên mặc áo đỏ, che lọng xanh, cầm thanh đao nhọn, chuôi dài, ra hiệu lệnh, chỉ huy quân chúng. Bật thân hành đốc suất biền binh, xông ra trận, đâm tên giặc ngã lăn ra, cướp lấy thanh đao. Lại chém bọn ấy được 4 đầu. Chúng vừa đánh, vừa lùi. Ngày sắp tối, chợt thấy bọn khác, vài trăm tên, chia đường đến đánh. Giao chiến được vài hợp, Nguyễn Văn Sĩ bị chết tại trận, Bật cũng bị vài vết thương. Biền binh cũng có người bị thương chết. Phỉ bèn rút vào rừng.


    Tỉnh thần lại phái luôn Quản cơ cơ Hữu hùng Lê Văn Tường đem binh tiếp ứng. Lại phi tư đến Hà Nội và Bắc Ninh xin phái binh và voi đi hộ tiễu.


    Việc đến tai vua. Vua dụ : “Bọn ấy chẳng qua 1, 2 tên giặc trốn, cho rằng tỉnh bên đang có việc, nên chúng cùng nhau họp bọn, lẻn lút nổi lên. Vả lại, hạt ấy, sau khi dẹp yên thổ phỉ, ta đã nhiều lần bảo phải gia tâm phòng giữ, khiến cho giặc hết, dân yên. Thế mà không biết dự phòng trước khi việc xảy, để đến nỗi bọn vô lại ấy gây sự được ra, thì trách nhiệm địa phương ai chịu vào đó ? Vậy Quản phủ Vĩnh Tường Lê Huy Trị trước hãy giáng 2 cấp ; Tri phủ Nguyễn Thế Tự, Đồng tri phủ Nguyễn Trù đều giáng 1 cấp ; quyền sung Lãnh binh Sơn Tây Hoàng Văn Trạm, thự Bố chính Đỗ Huy Cảnh, thự án sát Hoàng Văn Tú cũng đều trước giáng 1 cấp. Đến như quan quân giao chiến với giặc, mà hăng hái xông vào trong đám giặc, đâm ngã được tướng giặc, giết chết được quân giặc ; khí thế dũng cảm ấy thực đáng khen. Há nên vì cớ sau đó trận đánh bất lợi, mà vội xoá nhoà hết công lao của những người ấy ư ? Vậy thì người đâm ngã được tên tướng giặc, thưởng cho bạc 30 lạng. Ngoài ra cứ chiếu theo lệ mà ban thưởng. Từ Phó quản cơ đến binh đinh chết trận thì cấp tiền tuất gấp đôi”.


    Lại dụ tỉnh Ninh Bình sức cho Quản vệ ở Hổ oai Trung vệ là Giáp Văn Tân lĩnh vệ binh kíp đi đóng giữ Sơn Tây. Bọn Hoàng Văn Trạm phải chuyển sức cho các Tổng lý thuộc phủ, huyện trong hạt đoàn tụ dân phu lại, chiếu theo lối đường giặc đến, ra sức ngăn chặn. Người nào bắt hay chém được giặc, tất có trọng thưởng.


    Nguyễn Trù, sau bắt được hơn 30 tên phỉ, chuẩn thưởng gia 1 cấp ; còn quân và dân đi theo bắt giặc ấy, thưởng tiền 30 quan.


    Sai thự Phó vệ uý vệ Cộng vũ quân Thần sách Nguyễn Đức Nhân kíp đi Sơn Tây, quyền thự Phó vệ uý ở Tiền bảo Nhị vệ thay cho Tôn Thất Bật lĩnh binh đi dẹp giặc. Còn Tôn Thất Bật, chuẩn cho về tỉnh điều dưỡng, ngày nào khỏi bệnh, sẽ lại hội đồng đi bắt giặc.



    Sai bộ Binh truyền dụ : “Đề đốc quân vụ Phạm Văn Điển, Phó đề đốc Lê Thuận Tĩnh, đem biền binh ở Hậu bảo Nhất vệ đang đóng ở Hà Nội, cùng với binh và voi trước đã phái đi, thuận đường trước đến Sơn Tây để tiễu phỉ, rồi từ Sơn Tây do đường tắt đi Thái Nguyên, làm việc bắt giặc”.


    Lại dụ tỉnh Bắc Ninh, cứ [theo lời xin của] Tạ Quang Cự, trích lấy biền binh ở Nhất vệ đang lưu lại Thanh Nghệ, sức sai trước đến Hà Nội ; lại 15 cỗ súng quá sơn bằng đồng và thuốc đạn vát sẵn ở Sơn Tây, thì đợi Phạm Văn Điển tiến đến mang theo đi đánh giặc. Còn Quản cơ Bắc Ninh là Nguyễn Văn Canh, trước có chỉ phái theo Phạm Văn Điển, nay chuẩn cho cứ lưu lại ở tỉnh để tuần tiễu bắt giặc.


    Cho Phó lãnh binh Hải Dương là Nguyễn Thọ Tuấn làm Vệ uý, trật Chánh tam phẩm, sung Lãnh binh quan, lại cho làm Tham tán, hiệp cùng Tạ Quang Cự và Vũ Văn Từ bàn bạc việc quân.


    Tuấn trước từ Hải Dương đến Bắc Ninh, đem hơn 1.000 quân và voi tiến lên Lạng Sơn đánh giặc. Vừa đến đầu địa phận Lạng Giang (đầu chỗ Bắc Ninh giáp Lạng Sơn) nhân ban đêm, đánh úp, phá được 2 đồn giặc ở Kha Hoá và Gia Quan, chém được vài đầu giặc lấy được khí giới. Bọn giặc tan chạy.


    Tỉnh thần Bắc Ninh đem việc thắng trận ấy tâu lên. Vua dụ : “Nguyễn Thọ Tuấn, trước đã có chỉ bảo hội binh với Tổng thống Tạ Quang Cự ; liền đó Tuấn nhân con đường khác, tiến lên trước. Ta cho là chưa đắc lực lắm, nên trong lòng rất lo. Không ngờ Tuấn biết liệu cơ nghi mà làm, đánh úp, phá được đồn giặc, chém được đầu giặc, mở đầu cho oai danh đại binh. Ta xem lời tâu, khen ngợi lắm”. Vua bèn thưởng thụ cho chức ấy, và thưởng thêm 1 đồng kim tiền Phi long hạng nhỏ, 10 đồng ngân tiền hạng lớn. Những người đi trận ấy : Phó vệ uý vệ Cương võ Hồ Văn Lưu ; Phó quản cơ cơ Tả nhuệ Đỗ Văn Huân ; Quản phủ phủ Lạng Giang Nguyễn Đức Phú đều thưởng 10 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn ; Suất đội bảo mục ((1) Bảo mục : người đứng đầu ở một đồn bảo.1) đều 2 đồng [ngân tiền Phi long] ; biền binh, thủ hạ thưởng chung 500 quan tiền.


    Tổng thống quân vụ đạo Lạng - Bình là Tạ Quang Cự và Tham tán Vũ Văn Từ đem hơn 5.000 biền binh các đạo, 7 thớt voi trận, 30 cỗ súng quá sơn và 30 cỗ súng thần công từ Bắc Ninh tiến đi Lạng Sơn đánh dẹp. Sớ tâu lên. Vua dụ : “Hạ lệnh cho bọn Bố chính Bắc Ninh Nguyễn Khắc Hài khẩn cấp làm 500 ống phun lửa mang đến quân thứ”.


    Bố chính Bắc Ninh Nguyễn Khắc Hài, án sát Trần Thế Nho tâu : “Cẩm y Hiệu uý Nguyễn Văn Lễ từ trận Nhiên Lĩnh thất bại, bị thương, chạy lạc đường, có người thổ dân là Hoàng Nho Trân cấp cho ăn và dẫn về đến tỉnh”.


    Vua bảo bộ Binh : “Khi trước, bọn giặc lén lút nổi lên, dân thổ sở tại phần nhiều bị chúng cám dỗ khua động. Hoàng Nho Trân hiểu rõ chính nghĩa, không chịu theo giặc, một khi gặp người quan võ lạc đường, lập tức bảo vệ nuôi nấng, lại dẫn về. Tấm lòng thành thực theo làm việc tốt, cũng đáng nên ghi. Vậy dụ : Hạ lệnh cho bọn Nguyễn Khắc Hài, sau khi việc yên, nên hỏi rõ nguyên uỷ, liệu lượng thưởng cho bạc lạng để khuyến khích. Còn Nguyễn Văn Lễ, chuẩn cho hẵng lưu lại để điều dưỡng, ngày nào khỏi, sẽ lại đi tòng chinh”.


    Tướng quân và Tham tán ở quân thứ Gia Định tâu : “Thủ phạm là Hoàng Kim Lượng, trước theo giặc, làm nguỵ Phó tuyên phủ đóng giữ tỉnh Biên Hoà ; kịp khi đại binh tiến đến ; Lượng đem đồ đảng ra hàng, được dồn làm 5 đội Tự tân cho làm quân tiền khu. Sau đó có chỉ cho giải 5 đội quân ấy đi các đạo Bình khấu và Thảo nghịch, chia ra cho ở xen vào các đoàn thuyền để quản thúc. Nay Lượng lại lẩn trốn, bị quan quân đuổi bắt được”.


    Vua sai giao cho Tuần phủ Gia Định là Hà Duy Phiên hội đồng với ty án sát nghiêm xét. Lượng, nhân bị bệnh nặng, bị xử tử bằng tội lăng trì ((2) Lăng trì : thứ hình phạt đời xưa rất tàn khốc : đem người phạm, cắt tay chân, rồi xẻo thịt dần, cho chết chậm.2), bêu đầu để răn mọi người.


    Đốc học tỉnh Vĩnh Long là Hoàng Quý Đức, trước nhân tỉnh thành thất thủ, chịu uốn mình lạy giặc ; lại đưa môn đồ là Nguyễn Văn Trào ra làm nguỵ Huyện doãn. Đến nay tỉnh thần dò xét được sự trạng ấy, vua chuẩn cho chiếu theo luật, khép vào tội quán phỉ ((3) Quán phỉ : thông đồng với giặc.3), đem chém.


    Vua bảo Nội các : “Các hạng biền binh ở Kinh, đến tháng 11, chính là kỳ đổi ban. Nhưng nghĩ : việc sai phái còn nhiều, mà trong Kinh và các địa phương gần Kinh kỳ, giá gạo cũng còn kém. Vậy những lính mãn ban ấy đều cứ cho lưu lại ở hàng ngũ như trước và vẫn được chi lương như lính đương ban để sung việc sai phái, lại cho bọn ấy được nhờ của kho mà có ăn, thế là lưỡng tiện”.


    Lại chuẩn cho : phàm các biền binh được lưu ở ban thì tiền lương về tháng 11 và tháng 12 được chiết một nửa phát bằng thóc. Sau đó, thấy việc sai phái hơi dãn, thì kỳ tháng 11 phàm biền binh mãn ban phải lưu ngũ thì đến mồng 1 tháng 12, đều được về nghỉ ngơi. Đến ngày khai ấn ((1) Ngày khai ấn : tức ngày mồng 7 tháng giêng âm lịch.1) sang năm đều tề tựu để tập hợp vào hàng ngũ ở Kinh.


    Vua vời Kinh doãn Trần Tú Dĩnh hỏi rằng : “Nay trời tạnh nắng, dân gian cho là thế nào ?” Dĩnh tâu : “Mưa rồi tạnh, thì lúa mạ tốt tươi, dân đều mừng rằng việc làm ruộng được thuận tiện”.


    Vua lại hỏi : “Dân gian trồng trọt hoa màu có những thứ gì ?”. Tâu : “Khoai, đậu”.


    Vua hỏi : “Sao không trồng lúa hồng mạch ?”. Tâu : “Sợ thứ lúa ấy không hợp với khí tiết mùa đông”.


    Vua nói : “Đầu mùa đông chưa rét, thứ lúa hồng mạch còn có thể cấy được. Ta thường sai cấy lúa ấy ở hậu cung. Hễ cấy từ tháng 8, thì đến nay đã chín ; cấy từ tháng 9, tháng 10, thì nay đã xanh tốt. Thứ lúa ấy dễ làm, mà có thể giúp cho khỏi đói”.


    Lại nói : “Trong loài mộc, cây liễu rất dễ trồng. Trồng liễu ở bên sông, phong cảnh đẹp, đáng thưởng ngoạn. Xưa có câu : “Bờ liễu buộc thuyền” là có ý nói : có thể nhờ được bóng mát. Người nhà Thanh phần nhiều trồng liễu để pha thuốc súng. Thế là liễu lại hữu dụng”. Nhân đó vua sai thị vệ đi xem những chỗ đất bỏ không ở ngoài thành, liệu phân phối các quân trồng liễu.


    Thự Tuần phủ tỉnh Quảng Trị là Nguyễn Tú dâng tập tâu hỏi thăm sức khoẻ nhà vua và đem lời trình bày về việc 10 châu thuộc phủ Cam Lộ, trước vì hạn hán, nhân dân bị đói.


    Vua dụ quở rằng : “Nhân dân địa phương ấy cũng là con đỏ của triều đình. Nếu quả có đau khổ, thì cứ thực tâu rõ, khiến cho dân tình được thấu lên trên. Nay lại nhân việc hỏi thăm, mới kể kèm vào. Kẻ có trách nhiệm nuôi dân nên như thế à ? Vậy lập tức phải đem tình hình hiện tại tâu rõ lên”. Kịp khi tâu lên, thì châu Hướng Hóa, theo lệ phải nộp gạo nếp và gạo trắng, đều cho chiết nạp. Còn bạc thuế 9 châu thì giảm cho 5 phần 10.


    Tổng đốc Hà Nội - Ninh Bình là Đoàn Văn Trường tâu : “Các chỗ đê bị vỡ ở huyện Chương Đức, Hoài An, Thanh Liêm thuộc trong tỉnh hạt hiện đã vát hơn 4.000 dân phu sửa đắp, đều đã làm kín cả rồi”.


    Vua bảo bộ Công : “Các chỗ đê vỡ ở hạt ấy, lần lượt đều đã đắp được bằng phẳng rồi, nhưng rồi cũng vẫn là đắp xong sau các hạt khác. Song nghĩ : Do dân ra sức làm đê, cũng là khó nhọc. Vậy gia ân thưởng cho tiền 1.000 quan. Các phủ, huyện sở tại trước bị xử cách chức nay đều đổi làm giáng 1 cấp”.


    Chuẩn định : Từ nay, phàm các địa phương, có chỉ ban ra, sau tiết thu, xử chém kẻ phạm tội. Nếu tội nhân nào còn ở vào trước khi chưa xét xử, thì phải đăng thẩm ; nếu ở vào sau khi đã khai đệ bản thẩm án rồi, mà kẻ phạm còn có phát xuất tình lý gì khác, thì chuẩn cho sau tiết thu, lại đem đủ lý do tâu lại, để trọng mạng người. Ngoài ra, không có tình lý gì khác, thì cứ sau tiết thu, lập tức theo chỉ trước, xử chém không phải tâu lại nữa. Sự chuẩn định này được đặt làm lệ.














    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển cxi



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Quý Tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14 [1833], mùa đông, tháng 11.


    Tướng giặc ở Hà Nội, nguỵ xưng Chánh thống lĩnh là Hoàng Vũ Côn, Phó thống lĩnh là Đặng Đình Nghiêm họp bọn lén lút nổi lên ở huyện Từ Liêm. Ngô Văn Thuỵ, Quản phủ Hoài Đức đem binh phủ đi vây bắt. Nhưng vì binh ít, không địch được, bị giặc giết. Tổng đốc Hà - Ninh Đoàn Văn Trường liền phái Phó lãnh binh Hà Nội là Vũ Đình Quang đem binh và voi đến đuổi bắt. Giặc đã chạy trốn trước. Rồi Trường đem việc ấy tâu lên.


    Vua dụ : “Huyện Từ Liêm cách tỉnh thành không xa, thế mà lại có bọn giặc ấy lén lút nổi lên, thực là lỗi ở phòng thủ sơ hở. Vậy Nguyễn Bá Nghi, quyền coi việc phủ, trước phải giáng 2 cấp ; Đoàn Văn Trường giáng 1 cấp. Đoàn Văn Trường ngươi phải nghiêm sức cho Vũ Đình Quang hết lòng lùng bắt, cốt bắt cho được bọn giặc ấy để làm án. Nếu bất lực trong việc tuần tra tầm nã để đến nỗi lan tràn làm nhiễu dân đen thì cứ trách cứ vào Vũ Đình Quang, mà ngươi cũng khó tránh được lỗi”.


    Tổng đốc đạo Thái Nguyên là Nguyễn Đình Phổ coi quản đôn đốc quan quân đi đánh dẹp : thắng được giặc.


    Phổ đóng ở tỉnh thành Thái Nguyên. Giặc đem đồ đảng 4 mặt lại lấn cướp. Phổ bèn phân phối biền binh ngày đêm đánh giữ. Thự Phó lãnh binh Thái Nguyên là Tống Văn Trị đánh ở mặt trước, chưa phân được thua thì có một bọn từ mỏ Na Khôn vượt sông đến. Cai đội vệ Uy võ là Phan Văn Quýnh bị bắn chết. Thự án sát Nguyễn Mưu lập tức đem binh và voi đến tiếp viện, chém được vài đầu. Giặc thua to, chạy, sa xuống sông chết không biết bao nhiêu mà kể. ở mặt hữu, Phó lãnh binh Bắc Ninh Nguyễn Văn Ưng, Chánh võ quản cơ Hồ Văn Uy, Tiền thắng quân cơ Trần Đại Tựu và chức dùng như Phó quản cơ ((1) Nguyên văn là “dĩ Phó quản cơ dụng”.1) Ngô Văn Giai ; cùng với ở mặt tả, Hậu uy Quản cơ Phạm Văn Thư giao chiến với giặc : giặc có nhiều tên bị thương và chết phải rút lui. ở mặt sau, Quản cơ Thái Nguyên Vũ Văn Sơn, cách sông bắn sang, nên giặc không sang đò được. Trận ấy, quân ta chém được 24 đầu giặc, bắt sống được tên trùm giặc là Hoàng á Nhị và 18 tên trong bọn nó. Tin thắng trận được tâu lên.


    Vua dụ bộ Binh : Bọn giặc này là quân ô hợp, xâm phạm bức bách tỉnh thành Thái Nguyên. Từ trước đến nay, quan quân đạo ấy chỉ lo cố giữ, chưa từng một phen cố sức đánh giết thật lớn để đến nỗi nó lan rộng. Nay biết cổ vũ cái khí chiều hôm, hăng hái tiến trước, lấy ít chống nhiều, giao chiến mấy ngày liền, đều được thắng cả. Bắt và giết được nhiều giặc, thu được khí giới. Ta xem tờ tâu, hơi nức lòng một chút. Vậy, nên phân biệt khen thưởng để khuyến khích :


    “Nguyễn Đình Phổ, Tổng đốc bị cách lưu, nay đổi làm giáng 4 cấp, vẫn lưu dụng thưởng thêm 1 đồng kim tiền Phi long hạng lớn ; thự án sát Nguyễn Mưu, vốn là chức văn, biết đem binh tiếp chiến, sấn vào giết giặc, khiến bọn chúng tan vỡ, thực là xuất sắc, cho thực thụ án sát ngay, lại thưởng quân công gia 1 cấp và 1 đồng kim tiền Phi long hạng nhỏ ;


    Những người đi dự trận đó : Vệ uý, trật Tòng tam phẩm sung Phó lãnh binh Bắc Ninh là Nguyễn Văn Ưng được thưởng thụ Vệ uý hàm Chánh tam phẩm ;


    Thự Phó lãnh binh Tống Văn Trị, được thực thụ ngay ;


    Các Quản cơ Vũ Văn Sơn, Hồ Văn Uy và Phạm Văn Thư đều được thưởng Phó vệ uý hàm Tòng tam phẩm.


    Từ Nguyễn Văn Ưng đến Ngô Văn Giai, mỗi người lại thưởng quân công gia 1 cấp và 1 đồng kim tiền Phi long hạng nhỏ ;


    Quản cơ Trần Đại Tựu trước vì thua trận đã bắt cách lưu, cũng cho khai phục ;


    Bọn Suất đội, không kể đã thực thụ hay chưa, đều thưởng gia quân công kỷ lục 1 thứ và 3 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn ; trong đó thí sai hay quyền sai đều cho thực thụ ;


    Các quân cưỡi voi xông vào trận, thì tiền kỵ, mỗi người thưởng 2 đồng ngân tiền hạng lớn ; hậu kỵ, mỗi người 1 đồng ;


    Còn binh dõng và thủ hạ thưởng chung số tiền 2.000 quan ;


    Những người chết trận như Cai đội Phan Văn Quýnh, gia tặng Phó quản cơ, các binh lính thì cấp cho 2 lạng bạc”.


    Nguyễn Đình Phổ lại tâu : “Trước kia, thua trận ở Chợ Mới, quân của Quản cơ Trần Đại Tựu và Phó quản cơ Nguyễn Luyện đến núi Hưởng Lĩnh, trước thần không biết, nên tâu báo không rõ ràng, đến nỗi hai người đều bị cách chức. Thần xin chịu tội lầm lẫn”.


    Vua cho rằng Trần Đại Tựu đánh giặc thắng trận, dự có công trạng, đã có chỉ cho khai phục rồi ; lại truy thưởng gia quân công kỷ lục 1 thứ. Nguyễn Luyện cũng cho khai phục.


    Vua sai truyền dụ Đề đốc quân vụ Phạm Văn Điển, Phó đề đốc Lê Thuận Tĩnh: “Nay quan quân ở Thái Nguyên thắng trận liên tiếp, thực đủ ngăn cản mũi nhọn điên cuồng của bọn giặc, mà lại làm mạnh lên tinh thần sắc bén của quân ta. Bọn ngươi phải kíp theo dụ trước, gấp đường tiến đi, đánh giết bọn giặc Sơn Tây. Nếu bọn chúng đã vỡ tan từ trước rồi, thì cũng phải đốc binh và voi đến hạt ấy, đi sâu vào dân gian đàn áp cho tan hết đồ đảng ấy. Rồi tiện đường, kíp đến Thái Nguyên, hợp với quân của Nguyễn Đình Phổ, cố sức đánh dẹp không được lần chần, kéo dài ngày tháng để lỡ sự cơ. Bọn ngươi đều là những viên đã được lựa phái, cầm quân hùng mạnh đi đánh. Nếu không nghĩ cố gắng gấp rút tiến lên, để đến nỗi khi kéo binh tới Thái Nguyên, nếu không còn giặc để đánh nữa, chỉ khó nhọc mà không công gì thì thử nghĩ xem còn mặt mũi nào trông thấy ai nữa ?”.


    Lại truyền dụ Tổng thống quân vụ Tạ Quang Cự, Tham tán Vũ Văn Từ và Nguyễn Thọ Tuấn rằng : “Nay quân đạo Thái Nguyên thắng trận liên tiếp, giết giặc rất nhiều, đủ làm lừng lẫy oai thế. Vậy mà bọn ngươi từ khi lên ngựa đến nay, chưa thấy tâu báo tình hình việc đánh dẹp ; khiến cho người ta ngày nào cũng càng thiết tha trông ngóng cờ đỏ báo tin thắng trận. Tưởng một đạo binh và voi của ngươi, số quân đã nhiều, mà phần đông là quân tinh nhuệ, thanh thế lừng lẫy biết bao ! Ngươi nên cố gắng hăng hái thế nào thẳng tiến giết giặc, lập công, cho được gấp mười lần so với Nguyễn Đình Phổ mới phải. Ngươi phải gắng sức lại gắng sức thêm !”.


    Tuần phủ Lạng Sơn - Cao Bằng là Lê Đạo Quảng tiến quân đến đồn Làng Giáp thuộc Bắc Ninh thì vừa gặp thị vệ đem tờ mật dụ đến, lại chuyển về châu Tiên Yên, đem công việc tâu lên và nói : “Thường tình nhân dân không thuộc hạt mình thì khó điều khiển. Xin chuẩn cho thần lại làm chức cũ ở Quảng Yên, tiện đem ấn quan phòng Tuần phủ theo đi quân thứ, để điều động và triệu tập lính thổ dõng đi tòng chinh”.


    Vua dụ : “Ngươi trước đã bổ thụ làm Tuần phủ Lạng Sơn - Cao Bằng. Còn chức Tuần phủ Quảng Yên đã có Vũ Tuấn thay rồi. Triều đình chia chức đặt quan,
  • Chia sẻ trang này