0060.0087

13/1/16
0060.0087
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    khi sai, khi bổ, đã có nhất định. Nếu chiều theo lời thỉnh cầu riêng, thì lấy gì giữ cho quan chế được nghiêm túc ? Nhưng vì cần kíp về việc tuần tiễu bắt giặc nên cũng không xét kỹ đến việc này. Nay đã có dụ cho ngươi trở về Tiên Yên, tuỳ cơ đánh dẹp. Chuẩn cho ngươi được tuỳ tiện trưng mộ, điều động các binh dõng Quảng Yên, đợi đại binh của Tổng thống Tạ Quang Cự tiến giải vây cho Lạng Sơn rồi bấy giờ ngươi liền lên đường đi hội tiễu, trừ diệt dư đảng của giặc. Việc yên rồi, sẽ tới Lạng Sơn cung chức”.


    Vua lại dụ bọn Vũ Tuấn ở Quảng Yên, phải giúp đỡ nhau, không được làm khó dễ để đến nỗi có thể hỏng việc.


    Bố chính Bắc Ninh là Nguyễn Khắc Hài và Trần Thế Nho mật tâu : “Địa thế tỉnh hạt rộng lớn, lại nhiều rừng rú, thung lũng. Nay Thái Nguyên là tỉnh kiêm lỵ và Lạng Sơn là nơi tiếp giáp, đều có thổ phỉ nổi lên, những kẻ bị án, kẻ lại đào và những kẻ côn đồ vô lại nhân dịp họp nhau đi cướp : toán lớn đến 800, 900 tên, toán nhỏ cũng chẳng kém 300, 400 tên, mà lính tỉnh ít ỏi không đủ phân phái đàn áp được. Thần thiết nghĩ : Ban đầu chúng tuy mưu tính cướp bóc nhưng lâu ngày sẽ gây nhiều chuyện. Thần hiện đương mật phái đi dò, tuỳ cơ chẹn bắt”.


    Vua dụ : “Bọn ấy chẳng qua là một, hai đồ vô lại, ô hợp làm được trò gì ! Nay bọn giặc Thái Nguyên nhiều lần bị Nguyễn Đình Phổ đánh dẹp, chúng đã sờn lòng. ở Kinh, lại phái bọn Phạm Văn Điển đem đại đội binh và voi thuận đường đi từ Sơn Tây, tiễu trừ những giặc lẻ tẻ. Tiếng tăm lừng lẫy khắp cả. Ta tin rằng bọn ấy nghe hóng, đã giải tán trước rồi. Bọn ngươi nên gia tâm giữ lấy tỉnh thành, là nơi quan trọng, để khỏi xảy ra những sự đáng lo. Lại truyền sức tổng, lý ở phủ huyện thuộc hạt, nếu ở giới phận nào có bọn giặc lén lút nổi lên, mà Tổng trưởng, Lý trưởng có thể tụ họp dân phu ra sức đánh dẹp, bắt hoặc chém để làm cho ra án, thì chuẩn cho lập tức cứ theo thực trạng tâu bày, đợi chỉ khen thưởng. Như thế thì bọn giặc sẽ không nơi dung thân, mà địa phương cũng được yên ổn”.


    Tỉnh Sơn Tây có bọn giặc từ Thái Nguyên đến quấy rối cướp bóc địa hạt Sơn Dương. Tỉnh thần là bọn Hoàng Văn Trạm đem việc tâu lên.


    Vua dụ : “Tụi ấy chỉ là bọn tiểu yêu, thừa cơ nổi lên. Vậy nên nghiêm sức tổng lý ở phủ huyện sở tại hết sức săn bắt, phòng giữ, cho yên trong hạt. Đại đội binh và voi của bọn Đề đốc Phạm Văn Điển do Kinh phái đi, tính ngày cũng sắp đến, bất tất rối rít, tư điều quan quân hạt khác đến nữa cho thêm bộn việc”.


    Cho Lang trung bộ Công là Lê Hưu làm án sát Khánh Hoà.


    Thự án sát Phú Yên là Phùng Huy Giảng chết. Cho Viên ngoại lang bộ Hình là Vũ Đức Mẫn thăng thự án sát Phú Yên.


    Đốc công ở Vũ khố là Lê Trường Danh tâu nói : “Công sở Vũ khố từ trước đến nay, các nha phần nhiều có tư sức lĩnh các vật hạng, vát đem thợ đến tại chỗ để chế tác, sữa chữa ; khi việc xong, mới xét số, làm đơn khai vật thực lĩnh. Vả lại, việc có lớn, nhỏ, nặng, nhẹ khác nhau, khó dùng lệ định được công việc của thợ, hoặc trong đó có sự bẻo xén, người coi việc không biết chút gì. Như thế thì không phải là coi trọng của kho. Xin từ nay, phàm các sở khác lĩnh vật hạng gì để làm thì người trông coi ấy cân lại thực số ; khi công việc xong xuôi, phải ký tên, áp triện ở đơn lĩnh để lưu làm bản hồ sơ. Nếu sau có xảy ra các tệ phù phí, giả mạo gì, cứ người coi làm và bọn thợ làm phải chịu trách nhiệm bồi thường”. Vua cho là phải, sai đặt làm lệ.


    Bọn ác man ở Quảng Ngãi lại lẻn xuống đồn ở núi quấy nhiễu nhân dân biên giới. Quản cơ ở Tĩnh man là Đoàn Văn Đãng đem binh đuổi đánh, bị bắn chết, giặc Man cũng bị giết, bị thương nhiều, bèn rút đi.


    Vua nghe biết, dụ bộ Binh : “Ngày nọ, bọn Man ấy lẻn lút nổi lên đã có chỉ bảo phải tìm cách đánh dẹp. Thế mà nay, bọn ấy còn dám bừa bãi quấy rối, là vì tỉnh thần phủ dụ, ngăn ngừa không đúng phép, việc cầm phòng không ra gì. Lỗi ấy thật khó chối được ! Vậy, Lãnh binh Trần Văn Hựu bị giáng 3 cấp ; Bố chính Lê Nguyên Trung và án sát Nguyễn Đức Hội đều giáng 2 cấp. Đoàn Văn Đãng chết trận được cấp tiền tuất gấp đôi và thưởng thêm 20 lạng bạc”.


    Rồi dụ sai Lê Nguyên Trung, Nguyễn Đức Hội : Một người lưu lại ở tỉnh, một người thân đi đồn bảo đốc sức Trần Văn Hựu và biền binh giữ đồn bảo ấy, tuỳ cơ ngăn chẹn đánh bắt. Lại giục tập hợp lấy 500 dân tráng ở miền sơn cước, cấp khí giới, lương tháng, cho theo đi sai phái. Và hiện nay giá gạo kém quá, nên tới nơi gần đấy, thúc dân phụ vào việc phòng thủ, cấp cho tiền, gạo : một là nhờ được của kho mà có ăn, hai là bảo vệ được cả thân và nhà, cũng là lưỡng tiện.


    Lại, thứ súng thạch cơ điểu sang mang đi lần trước rất đắc lực, nên chuyển hết đến đồn núi ấy. Rồi chọn trong các lính cơ ai hơi biết cách bắn thì cho bắn, cốt mong bắn tất phải trúng, khiến cho bọn giặc ấy hoảng sợ mãi mãi, không dám trở lại nữa.


    Vua lại nghĩ : dân cư ở miền sơn cước gặp nạn ác man ấy, không khỏi đau khổ phiền luỵ nên dụ bọn Lê Nguyên Trung cho vay thóc, mỗi người 1 hộc.


    Tổng đốc Định - Yên là Đặng Văn Thiêm tâu báo tỉnh hạt mình tháng cuối thu, được yên ổn.


    Vua phê khen ngợi, thưởng cho Đặng Văn Thiêm gia 1 cấp ; bố, án Nam Định mỗi viên kỷ lục 2 thứ, phủ huyện mỗi viên 1 thứ.


    Quốc vương Chân Lạp Nặc Chân sai bề tôi là ốc Nha Triết Tức, ốc Nha Phật Kha Ni, Na Đốc Bào mang tờ tư văn do tỉnh An Giang đệ đến quân thứ Gia Định, xin phái quân phiên đi tòng chinh. Các tướng quân, các tham tán hội đồng bàn bạc, rồi Phước đáp cho miễn phái binh đến và yên ủi sứ giả Chân Lạp, cho về.


    Việc ấy đến tai vua. Vua dụ : “Giặc nay cố giữ cô thành, quan quân ta bốn mặt vây đánh, đã thừa sức rồi. Chân Lạp là nước phiên thuộc của ta, từ trước đến nay, mỗi khi có việc hoãn hay kíp, đều trông cậy vào ta. Ta sao nỡ để phiền cho một nước từ xa phải đến giúp đỡ. Các Tướng quân, các Tham tán nghĩ như thế, thật là giữ được thể diện cho nước đấy”.


    Lại dụ : “Hiện nay đánh thành, bắn súng đại bác là kế hay nhất. Thứ đại bác xung tiêu và đạn đại chấn địa lôi ở Kinh vận đến đã thấy nhiều lắm rồi. Song phải bắn cho trúng đích, mới có thể giết được nhiều giặc. Bọn ngươi phải truyền bảo tướng, biền và pháo thủ ban ngày, dùng thứ thước mới chế để đo tầm súng đại bác, theo đúng phép ; bắn thử 1, 2 phát ; rồi ghi lấy cái tầm xa gần của súng ấy, để làm chuẩn đích. Đêm đến chiếu theo bốn mặt, đồng thời cùng bắn, khí thế như sấm sét từ trời giáng xuống, thì bọn giặc sẽ tan thành cám hết.


    “Lại nghe trong bọn giặc, gián hoặc có đứa giòng dây ra khỏi thành, nói phao là đi kiếm cỏ, để nuôi voi Nhà nước. ấy chẳng qua giặc cùng quẫn nói dối, không thể tin được. Nên nghiêm sức quan quân ở các địa phận đồn tấn, hễ thấy giặc giòng dây ra ngoài, thì lập tức tuân theo lời dụ trước, ngăn chặn giết đi.


    “Lại, cháu thúc bá Lê Văn Duyệt là Lê Văn Hán và Lê Văn Nguyên, nguyên ở thành Phiên An, cùng giặc dựa nhau làm điều ác. Trước muốn lưu lại, cho chúng được lập công chuộc tội, song chúng ở đã khá lâu, mà không hề lập được một chút công cán, thì lưu để làm gì ! Vậy lập tức phái người áp giải về Kinh, đợi chỉ”.


    Bọn Hán đã đến Kinh, giao xuống bộ Hình nghiêm ngặt giam cầm.


    Vận tải tiền kho ở Bình Thuận, Vĩnh Long và Định Tường mỗi tỉnh 10.000 quan đến Gia Định, sung cấp việc quân thứ.


    Sai Hữu thị lang bộ Binh là Dương Văn Phong đi Nam Kỳ khao thưởng yên ủi các tướng sĩ.


    Vua dụ Nội các : “Quan quân từ khi đi đánh giặc ở Nam Kỳ đến nay, qua hạ, sang đông, từng trái nắng, rét. Nay tính đốt tay lại đến Đông chí. Trong Kinh đã thưởng áo mặc mùa đông. Ta tin rằng ở triều đình đều đội ơn quên rét. Lại nghĩ : “Tướng quân, Tham tán và bọn tướng, biền đều mặc áo giáp, cầm khí giới vì nước khó nhọc, lòng ta chưa từng giờ phút nào quên được”. Vậy, chuẩn cho từ Tướng quân, Tham tán đến Lãnh binh, Quản vệ, Quản cơ, Hiệu uý, Suất đội đều được thưởng quần áo và hào bao gấm có thứ bậc. Lại nữa, bọn binh dõng đều sốt sắng, đối địch với giặc, cùng nhau mặc áo quân, một lòng căm phẫn, bấy lâu khó nhọc vất vả, ta cũng nghĩ thương lắm. Vậy, hạ lệnh cho Tuần phủ Hà Duy Phiên sửa biện trâu rượu, do Tướng quân, Tham tán chia cấp cho các quân sĩ khiến họ biết triều đình thể tất đến quân sĩ đi trận chia sẻ hớp rượu, hưởng chung ơn huệ. Ai nấy đều nghĩ cố gắng giết giặc, sớm dâng công to”.


    Rồi vua sai Dương Văn Phong cùng thị vệ mang các phần thưởng đến tuyên chỉ ban cấp và yên ủi các tướng sĩ. Và chuẩn cho lưu lại vài ngày, hỏi hết tình trạng, rồi lập tức về Kinh tâu lại.


    Lại phái thị vệ đem áo đi các quân thứ Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn ở Bắc Kỳ, thưởng cho Tổng đốc Nguyễn Đình Phổ, Tham tán Nguyễn Thọ Tuấn và bọn Lãnh binh, Quản vệ, Quản cơ, Thành thủ uý, v.v… Còn ai trước đã được thưởng áo trận rồi, thì không được dự nữa.


    Nước Chân Lạp phái binh phòng ngự nơi địa đầu, bắt được bọn giặc trốn là người nhà Thanh 280 tên, chuyển giải đến quân thứ Gia Định.


    Việc ấy tâu lên vua, dụ các Tướng quân, Tham tán : Đem tra xét cùng một loạt với các tên phạm người Thanh bắt được lần trước.


    Vua lại sai truyền dụ cho các Tướng quân, Tham tán : “Trước kia tưởng rằng bọn giặc ấy cùng quẫn, có lẽ do con đường Quang Hoá trốn đi để sống, nên mới dụ bảo chuẩn bị đón chặn trước ; không ngờ bọn giặc trời đánh, tội ác đầy dẫy ấy hiện nay còn cứ lấp kín cửa, liều chết cố giữ cô thành ! ý chúng đã không muốn tìm đường sống khác thì ngày nào hạ thành, chỉ một mẻ lưới là vét sạch, lo gì chúng chắp cánh bay ra được ?


    “Gần nay, cứ theo lời tâu, thì ở con đường ấy, đã đặt sẵn 3 nơi phục kích, nay bất tất lưu nhiều trọng binh lại nữa, nhưng phải theo Dụ trước, ở bốn mặt, dãy trường luỹ, vây giữ nghiêm cẩn, chặt chẽ, chớ để một tên giặc nào chạy lọt được. Song con đường ấy cũng nên phòng bị : hoặc liệu để 1, 2 trăm binh dõng đủ dự bị phòng ngừa, chẹn đánh ; còn cầu Tây Hoa là đường lối đi lại phải qua thì chỉ nên đặt 1 tấm ván, vừa 1 người có thể đi được ; nếu khi có việc, kíp đem vứt bỏ cái ván ấy đi, cũng rất dễ dàng, quyết giặc không thể trốn qua được.


    “Lại, ở bốn góc trong trường luỹ : Mỗi góc phái 2 viên Quản vệ đắc lực đem 1 nghìn hoặc 6, 7 trăm quan quân tinh nhuệ đóng đồn ở đấy. Vô luận ngày hay đêm, hễ có bọn giặc trong thành lẩn ra hoặc đến quấy nhiễu phía mặt trước luỹ ấy, thì quân ở góc tiền tả và tiền hữu, bất tất phải lại mặt trước tiếp ứng, chỉ tức tốc ra ngay phía tả, hữu luỹ ấy bao vây, dượt theo phía sau bọn giặc. Giặc không ngờ quan quân theo sau đánh úp thế tất thua vỡ, lập tức sẽ bị bắt giết, quyết không một tên nào trốn lủi vào thành được. Nếu giặc đến quấy phía mặt sau luỹ ấy thì quân ở góc hậu tả và góc hậu hữu cũng sẽ bao vây và đánh chặn như trước. Hoặc giả giặc đi ra phía mặt tả, thì quân ở góc tiền tả và góc hậu tả giặc đi ra phía mặt hữu, thì quân ở góc tiền hữu và góc hậu hữu cũng cứ chia vây đón đánh như thế. Quan quân đương mặt trận thì trổ sức đánh giết, còn binh tiếp ứng thì ngăn chặn đường về, tất giặc không thể trốn thoát được. Cứ làm một hai lần như thế, giặc mất cả nanh vuốt, vây cánh chẳng đánh cũng tự phải tan.


    “Việc này, cốt phải sức trước cho các Quản vệ coi quản những quân làm nhiệm vụ tiếp ứng, hễ được tin báo thì lập tức đi vòng ra đón đường chẹn đánh không nên đợi lệnh truyền của Tướng quân và Tham tán, rồi sau mới ra khỏi luỹ cho khỏi chậm trễ lỡ việc. Lại, khi đánh nhau với giặc, nếu giặc lùi vào hào hoặc chạy vào thành thì quân ta nên theo riết từng bước sát vào một chỗ, chớ nên cách quãng một bước nào. Nếu ở trên thành có bắn đại bác hay ném đá xuống, cũng không nên lùi chút nào. Quân ta nên xung phong, mạo hiểm thẳng tiến, bám riết lấy giặc trộn thành một toán mà đánh giết túi bụi thì giặc sợ bắn đại bác hại đến đảng mình, có lẽ không dám bắn ; quân ta lại là đắc sách. Cần nhất là ta không nên chậm lại một phút, để chúng chạy trước, mà ta đuổi theo sau khiến giặc được dở súng và đại bác nhằm bắn thẳng tay, trở mắc vào kế của chúng.


    “Lại, các hạng thuyền của quân thuỷ ở Kinh phái đến, nếu không phải dùng vào việc đánh dẹp thì nên liệu để lại dăm ba chiếc thuyền ô, thuyền lê cho đậu ở bến sông. Còn thì dời hết đi đến chỗ hơi xa thành, tầm súng không bắn tới, rồi tìm chỗ kéo thuyền lên bờ, tạm che đậy lại, đợi sang năm thuận gió, chở về”.


    Bọn phỉ Tuyên Quang lén lút nổi lên ở đồn Trinh, châu Đại Man. Người trưởng đồn là Trần Đình Cán vì quân ít, không địch được, bỏ đồn chạy. Thự Bố chính Trần Ngọc Lâm lập tức hội bàn uỷ cho Lãnh binh Trần Hữu án đem quân và voi đi tiễu. Việc đến vua biết.


    Vua dụ rằng : “Tổng đốc Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ đem đại binh đi đánh đến đâu không ai địch nổi, chắc nay cũng đã phá tan được sào huyệt giặc ở Vân Trung rồi. Còn kẻ xuẩn động ở đồn Trinh ấy, chẳng qua là dư đảng đã bị thua, tàn rạc đấy thôi. Nay ở tỉnh, số binh hiện tại không có mấy, thì không nên chia phái đi nhiều ngả, sợ càng tỏ ra ít và yếu. Bọn ngươi nên tuỳ cơ liệu tính : nếu bọn giặc ấy dễ đánh thì lập tức phái binh đi dập tắt ngay, chớ để lan tràn thêm ra ; nếu đường xa khơi, thế cách trở, có sự bất tiện, thì rút binh về đóng giữ ở tỉnh thành. Nên đánh thì đánh, nên giữ thì giữ, phải cẩn thận xem xét tình hình mà làm”.


    Vua thấy đạo quân Lạng - Bình lâu không có tin báo thắng trận, sai bộ Binh truyền dụ Tổng thống Tạ Quang Cự, Tham tán Vũ Văn Từ và Nguyễn Thọ Tuấn rằng : “Đại binh tiến đi, tính đốt tay đã hơn nửa tháng. Từ Bắc Ninh đến Lạng Sơn, bất quá hơn 200 dặm, sao chưa thấy báo tin thắng trận ? Vả lại, hai tỉnh thành Cao Bằng, Lạng Sơn mà phải khốn đốn trong việc phòng thủ, thế mà không kíp nghĩ cách cứu viện, lại đóng quân ở lại làm gì ? Nếu đóng lại lâu ngày, thì quân ta đã bị cảm mạo lam chướng, mà giặc nghĩ được nhiều kế chống giữ, há chẳng là để lỡ mất sự cơ ? Tạ Quang Cự vốn thạo việc đánh trận, sao lại không tính đến điều đó ? Nếu vì thổ dân Lạng Sơn phần nhiều theo giặc, không ai dẫn đường, thì Bắc Ninh là đất giáp giới, có nhiều người biết đường cũng hướng dẫn được. Huống chi từ đồn Tiên Lệ trở nên phía bắc đều là đường trạm bằng phẳng cả. Tuy có Quỷ Môn quan là nơi hiểm trở, nhưng chẳng qua từ xưa truyền lại chứ nay cũng đi lại như thường thôi bằng đâu được Chi Nê thuộc Lạc Thổ, mà ngày nọ Tạ Quang Cự, cũng đánh một trận thu công ; nay sao lại trùng trình nghe ngóng như thế ! Ta tin rằng : Đại binh kéo đến, khí thế như chẻ củi mục, bẻ cành khô. Khi tờ Dụ đến, nếu dã tiến quân thắng trận rồi thì tất được khen thưởng ưu hậu. Nếu còn đóng đồn, thì phải tuân lời Dụ, tiến quân đánh dẹp đi. Ví thử để chậm, không kịp làm, sợ hai tỉnh ấy có sự lo bất ngờ, thì bọn ngươi thử nghĩ, có đương nổi được lỗi nặng ấy không ? Việc này rất quan hệ, như cứu đám cháy, vớt người bị đắm đuổi, ngươi không thể hoãn được phút nào. Hãy kính tuân lời Dụ này !”.


    Bố chính Vĩnh Long Đoàn Khiêm Quang, thự án sát Doãn Uẩn tâu : “Trước đấy, văn võ quân dân trong tỉnh bắt nộp bọn phản nghịch cộng 70 tên, đã vâng lệnh thưởng tiền, nhưng bọn họ kẻ thì nói là vì phận sự, người thì nói là vì nghĩa căm thù, không dám lấy thế làm công lao, thành khẩn xin nộp vào kho”.


    Vua bảo bộ Hình : “Việc thưởng công là để khuyến khích. Nếu nay theo lời thỉnh cầu ấy, thì lấy gì để tỏ ra sự ban thưởng là có thực và để cổ vũ người khác ?”. Vua không cho trả lại.


    Đổi lại thể lệ tâu báo khi động, khi tĩnh ở Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Bình :


    Năm trước, chuẩn định : Thừa Thiên, Quảng Trị, 1 tháng 1 lần báo ; Quảng Nam, Quảng Bình, 2 tháng 1 lần báo. Nay vua cho là bốn hạt ấy là nơi ở gần Kinh kỳ, từ lâu vẫn được yên ổn ; nếu nhất khái cứ theo lệ trước, thì cũng phiền phức, bèn quy định lại : cứ 4 tháng quý ((1) Bốn tháng quý : quý xuân (tháng 3), quý hạ (tháng 6), quý thu (tháng 9) và quý đông (tháng 12).1) 1 lần báo cũng như các địa phương : Quảng Ngãi trở vào Nam, Hà Tĩnh trở ra Bắc.


    Tổng thống quân vụ đạo Lạng – Bình Tạ Quang Cự, Tham tán Vũ Văn Từ đánh phá được bọn giặc ở đồn Quang Lang thuộc Lạng Sơn. Quân ta lúc mới tiến đến Quang Lang, bọn giặc vài trăm tên nhân chỗ hiểm, đặt quân phục. Bọn Cự ra lệnh đốc suất tiến quân, sấn vào chém được 5 đầu giặc, còn các tên khác đều lùi chạy cả. Lại nghe tin ở phía trước, về tây bắc, các 1 dải núi, có bọn giặc hơn 2.000 tụ họp ở địa giới đồn Đan Sa và xã An Bài, bọn Cự bàn mưu đi đường tắt đánh úp, bèn quyền tạm đóng đồn ở Quang Lang, phái riêng biền binh, trước hãy giết tan bọn giặc ấy, rồi thẳng tiến đánh để cứu thành Lạng Sơn.


    Sớ tâu lên, vua phê bảo : “Ta càng ngày càng thiết tha ngóng mong tin thắng trận của bọn ngươi. Nay được tin tâu báo giết tan bọn giặc lại nghĩ tiến quân sớm giải vây cho tỉnh thành Lạng Sơn, làm ta được yên ủi đôi chút”. Vua bèn sai bộ Binh truyền dụ họ rằng : “Bọn giặc ấy dựa vào rừng, tụ họp đồ đảng thường giương oai chim cắt ! Quân ta lần đầu tiến đánh, thế mà đã báo thắng trận. Đó tuy là một trận thắng nhỏ, nhưng cũng đủ làm oai danh đầu tiên là ta trị được giặc”. Vậy các biền binh đi trận ấy thưởng chung cho 300 quan tiền.


    “Nay, bọn giặc đã từng thua đau. Bọn Tạ Quang Cự, Vũ Văn Từ và Nguyễn Thọ Tuấn nên nhân thế được trận ấy, tiến đánh một dải Đan Sa, An Bài, cố hết sức bắt giết, mau tiến quân giải vây cho tỉnh Lạng Sơn, rồi thẳng đến Cao Bằng, quét sạch dư đảng của giặc. Nhưng phải điều tra tên đại đầu mục trong bọn giặc ấy là ai? Hễ người nào có thể bắt sống hoặc chém được nó sẽ thưởng bạc 500 lạng ; còn bắt hoặc chém được những chức nguỵ khác thì tuỳ theo lớn, bé mà treo giải thưởng, hoặc 20 lạng, hoặc 100 lạng, hoặc vài mươi lạng trở lên, đều có phân biệt mà khen thưởng ưu hậu. Lại cứ thực tâu bày, sẽ liệu trao cho quan chức để tỏ ý ưu đãi. Lại khi bọn giặc bùng nổi, tất nhiên thổ dân sở tại không khỏi có sự cưỡng ép bắt theo, Tạ Quang Cự nên làm tờ hịch truyền bảo ngay : Phàm ai trước trót đã theo giặc, mà nay biết ra thú, sẽ được khỏi tội chết. Nếu ai có thể bắt hoặc chém tướng giặc đem nộp, thì không những được tha tội, mà lại được xét thưởng công sau, vẫn được chiếu lệ như người thường mà ban thưởng khiến họ báo cáo lẫn nhau, đều nghĩ giết giặc lập công, thì giặc càng cô lập, mà ta dễ bình định được hết”.


    Tuần phủ Lạng Sơn - Cao Bằng là Lê Đạo Quảng từ Bắc Ninh về đến Quảng Yên, vát lấy thổ ty, thổ mục và thủ hạ, dân tráng, tiến đi châu Tiên Yên trù tính việc bắt giặc và đem việc tâu vua biết.


    Vua dụ : “Đại binh bọn Tổng thống Tạ Quang Cự đã giết tan bọn giặc, lại từ đồn Quang Lang đến tỉnh thành Lạng Sơn chẳng xa. Ngươi nên sửa soạn tề chỉnh tiến quân cho sớm thành công”.


    Tổng đốc đạo Thái Nguyên là Nguyễn Đình Phổ tâu : “Bọn giặc từ sau khi tan vỡ, hoặc ẩn nấp ở rừng núi, hoặc chạy về Chợ Chu, Chợ Mới. Nhiều lần binh, dân chẹn đánh chém được 10 đầu giặc và bắt sống hơn 60 tên. Tướng giặc là Lý Quang Châu cũng bị dân xã chém đầu để đem dâng. Thần đã từng xét, thì những tên phạm bị bắt ấy đều nói : trước đây, tướng giặc các toán đem quân đánh bức tỉnh thành, là bè lũ tên nghịch Vân nguỵ xưng Nghĩa thắng lữ Chánh quản lữ là Nông Văn Sĩ, họp cùng với tên giặc trốn ở Bắc Ninh là Trần Văn Thể, Cai đội cũ ở cơ Thái hùng tỉnh Thái Nguyên, nguỵ xưng Hùng thuận lữ là Đinh Quang Tiến, nguỵ xưng Phó thống lĩnh là Nguyễn Đình Liêm ; người nhà Thanh nguỵ xưng Tiền thắng lữ Chánh quản lữ là Tống Nam Thông, nguỵ xưng Phó quản lữ là Lý Quang Châu, nguỵ xưng Cai đội là Lý Tư Nhạc, Trương Phượng Cao. Hiện trận đánh nhau lần này, Tống Nam Thông bị súng của quan quân ta bắn, người và ngựa nhảy xuống sông chết và nay bọn giặc tan vỡ, mất 3, 4 phần mười, sớm muộn cũng đến bại vong. Nhưng vì biền binh ta khó nhọc hàng tháng rồi, nên chưa tiện khinh suất tiến đánh. Hiện đương quyền nghi vỗ về nhân dân cho về quê hương và chỉnh đốn binh mã, chiểu theo địa thế, chia đường tiến đánh”.


    Vua dụ : “Bọn giặc ấy gọi nhau kết họp thành bọn, phô trương thanh thế hão. Thổ dân sở tại không khỏi bị đe dọa cám dỗ. Nay quan quân tiến đến, giặc đã tan vỡ. Thổ dân các châu, huyện, người nào là quan chức trong bọn giặc và trước sau theo giặc, thì phép nước không thể tha được. Còn những người bị giặc bắt ép phải theo, mà biết đổi lỗi, hoặc đến quân thứ xin thú hoặc bỏ về dân gian đều được gia ân rộng tha tội trước. Trong các quân và dân hễ có ai ra sức chặn đánh, chém được đầu giặc, bắt sống được bọn giặc, tuy rằng nhân sau khi chúng đã tàn thua, không bì được như khi ra trận đối địch, nhưng cũng chuẩn cho cứ bắt được 1 tên hoặc chém được 1 đầu giặc đều được thưởng 3 quan. Trong đó, chém được tướng giặc là Lý Quang Châu thì thưởng bạc 50 lạng. Lại, tên Tống Nam Thông là đầu mục trong bọn giặc, đã bị quan quân ta bắn, nhảy xuống sông chết đuối. Vậy hãy sức sai mò tìm cho được thây xác, lập tức cắt đầu đem bêu, để tỏ rõ việc răn dạy. Ai mò được xác ấy, thưởng bạc 10 lạng. Đến như trong các tên phạm bị bắt sống được ấy, ai bị cưỡng ép phải theo, có dân xã cam kết chứng nhận, thì lập tức tha. Còn người nhà Thanh và người hạt khác đi theo giặc thì rõ là đảng giặc, lập tức phải trị theo luật pháp, chớ nên giam lâu ở nhà tù.


    “Hiện nay bọn giặc bị xiêu bạt, tan đi bốn phía. Nguyễn Đình Phổ, ngươi lập tức nên thừa thắng, lại chỉnh đốn quân dụng, tuỳ cơ tiến đánh. Nếu có thể, trước khi Kinh binh chưa tới, đã bắt giết sạch lũ giặc ấy, thì là công ngươi đấy. Ta sẽ không tiếc ân thưởng để đền công khó nhọc”.


    Tha thuế thân cho dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.


    Trước đây, giặc thổ xuẩn động, tổng lý, hào mục và nhân dân ở các châu huyện Bạch Thông, Cảm Hoá, Định Châu cho đến Động Hỷ, Phú Lương, Văn Lang, Võ Nhai trong tỉnh hạt bị giặc khua động cám dỗ đến quá nửa. Duy một huyện Đại Từ, chống cự với giặc. Thế lực giặc ngày càng dữ tợn, cũng vẫn không chịu theo. Tổng đốc Nguyễn Đình Phổ đem sự trạng ấy tâu vua biết.


    Vua dụ bộ Binh : “ấy là dân thường ở nơi đồng ruộng mà biết được chính nghĩa, ta rất khen. Các hạng tiền thuế đinh, điền năm nay của hạt huyện ấy, trước đã gia ân giảm cho 5 phần ; nay chuẩn cho khoản tiền thuế dung ((1) Thuế dung : thứ thuế lực dịch theo chế độ đời Đường : mỗi năm, dân đinh phải làm lực dịch 20 ngày, gặp năm nhuận phải thêm 2 ngày nữa. Nếu ai không đi thì phải nộp mỗi ngày là 3 thước lụa (theo Từ nguyên, tr.530). Đây chỉ là thuế đinh, được quy định ở thời Minh Mệnh.1) phải nộp 5 thành ấy cũng rộng miễn cả. Nếu trót đã thâu nộp rồi, thì lưu để năm sau tính trừ đi. Lại, những dân phu biết hướng thuận chống giặc, đều do bọn đàn anh sở tại có lòng vì triều đình, đứng lên xướng suất. Công ấy cũng không thể bỏ qua được. Vậy hạ lệnh cho Nguyễn Đình Phổ tra xét rõ những người đầu mục đương làm việc xem ai đốc suất dân phu chống giặc, rồi làm danh sách tâu bày, đợi chỉ khen thưởng, để khuyến khích sau này”.


    Khi danh sách tâu lên thì Quản cơ trước ở cơ Thái hùng đã bị cách chức là Dương Đình Cẩm, được khai phục làm Cai đội thuộc tỉnh ấy, lại thưởng cho 10 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn, 1 áo trận bằng sa, thêu mãng xà : hào mục Quách Xuân Kế, thưởng thụ Đội trưởng tỉnh ấy, lại thưởng 5 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn và 1 cái hào bao gấm. Còn 27 thổ ty và thổ mục thưởng cấp ngân tiền lớn, nhỏ có thứ bậc.


    Tỉnh Bắc Ninh có bọn cướp vài trăm tên đánh phá nha huyện Yên Thế thả tù phạm, đốt các công văn, đoạt lấy đồ ký, ấn kiềm phủ, huyện rồi rút vào miền rừng Thái Nguyên. Việc đến vua biết. Đồng tri phủ Lạng Giang kiêm lý huyện vụ là Phạm Minh Dực, thí thự Huyện thừa là Lý Đăng Khoa đều lập tức phải cách, nhưng được lưu lại làm việc nhận trách nhiệm đi bắt kẻ phạm. Bố chính Nguyễn Khắc Hài, án sát Trần Thế Nho và Lãnh binh Trần Đình Di, đều giáng 1 cấp. Còn đồ ký và ấn kiềm bằng gỗ của Lạng Giang phân phủ, ấn kiềm bằng gỗ của huyện Yên Thế thì sai cho bộ Lễ theo y cách thức chế cấp.


    Tỉnh Bình Thuận bị gió bão, nhà cửa nhân dân phần nhiều bị đổ nát. Đồng lúa cũng có tổn hại. Tỉnh thần đem việc ấy tâu lên. Vua xuống dụ sai khám đích thực liệu lượng cho phát chẩn và tha thuế.


    Cấp cho 11 tỉnh : Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên, mỗi tỉnh 1 hàn thử biểu, cho 1 hộc thóc, theo giá hạ.


    Giá gạo tỉnh Quảng Trị cao vọt !


    Vua dụ tỉnh thần phát thóc kho, chiểu theo dân số thực sự đóng góp ở trong sổ đinh, mỗi người được bán cho 1 hộc thóc, theo giá hạ.


    Những khoản tiền lương phải chi và các thứ hàng đặt mua ở tỉnh ấy, muốn lĩnh bằng thóc, cũng cho theo giá đã giảm mà chiết cấp cho.


    Lúa vụ mùa tỉnh Hà Tĩnh bị mất mùa, nên hoãn tô vụ đông năm nay và tô vụ hạ còn đọng thiếu lại, đến mùa hạ sang năm đem nộp.


    Định lại thể lệ các trạm dịch :


    Bộ Binh tâu : “Phép nhà trạm đệ văn thư bằng người và ngựa, các đồ vật do Nhà nước cấp phát đã có lệ định thi hành. Nhưng nay hai kỳ (Nam, Bắc), buổi đầu chia định các trạm dịch, có nơi mới đặt thêm, có nơi đổi tên mới, phải nên lựa bàn chương trình cho được ổn đáng. Chiểu theo các tỉnh mới đặt thêm 38 trạm :


    Hà Nội - 2 trạm : Hà Trung, Hà Xuyên.


    Sơn Tây - 10 trạm : Sơn Đồng, Sơn Xá, Sơn Quang, Sơn Lâu, Sơn An, Sơn Thanh, Sơn Bình, Sơn Vân, Sơn Xuân, Sơn Hoà.


    Bắc Ninh - 5 trạm : Bắc Liêm, Bắc Mỹ, Bắc Cần, Bắc Hoà, Bắc Đông.


    Thái Nguyên - 1 trạm : Thái Long.


    Lạng Sơn - 8 trạm : Lạng Nhân, Lạng Mai, Lạng Uyên, Lạng Chung, Lạng Dù, Lạng Hoa, Lạng Chỉ, Lạng Hoằng.


    Cao Bằng - 2 trạm : Cao Nhã, Cao Phước.


    Nam Định - 2 trạm : Nam Đội, Nam Hoàng.


    Hưng Yên - 1 trạm : Yên Xá.


    Hải Dương - 4 trạm : Đông Bổng, Đông Thượng, Đông Khê, Đông Mai.


    An Giang - 3 trạm : Giang Lộc, Giang Hoà, Giang Phước.


    Duy có trạm Hà Trung ở Hà Nội là nơi các hạt đệ nộp văn thư đến đấy để giao đi các trạm, xin nhất thiết theo như lệ các trạm cũ : chuyển đệ bằng người, được cấp cho cây thương, cờ, nhạc đồng, gươm đoản đều 5 cái ; chuyển đệ bằng ngựa, được cấp cho ngựa trong ngạch 4 con, ngựa ngoại ngạch 1 con : 2 lá cờ hiệu phi đệ ((1) Phi đệ : phi ngựa như bay mà chuyển đệ văn thư.1) nền đỏ, chữ đen ; 1 lá cờ hiệu trì đệ ((2) Trì đệ : ruổi ngựa mà chuyển đệ văn thư.2) nền lam, chữ đỏ. Ngoài ra, trạm chuyển đệ bằng người được cấp cho cây thương, cờ, nhạc đồng, gươm đoản đều 3 cái ; trạm chuyển đệ bằng ngựa : được cấp cho ngựa trong ngạch 2 con và cờ hiệu phi đệ 2 lá (Sơn Tây, từ Sơn Lâu đến Sơn Hoà 7 trạm, Lạng Sơn 8 trạm, Cao Bằng 2 trạm, Sơn Khê, Trở Thâm, An Giang 3 trạm, đều là đường sông, ngựa trạm không đi được, nên đình cấp).


    Trạm cũ được đổi tên mới, 11 trạm (Hà Nội 5 trạm, Hà Tĩnh 6 trạm). Hiệu cờ trước của các trạm ấy nay đều do tỉnh thần theo tên mới đổi, cho thêu lại.
  • Chia sẻ trang này