0060.0089

13/1/16
0060.0089
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15
    do tỉnh thần Tuyên Quang, chứ không phải vì tỉnh Cao Bằng lầm lỡ về việc phủ ngự, mà đến nỗi nổ ra biến động thì việc này có khác với việc Phạm Phổ gây biến. Nay họ gặp lúc nguy, biết hi sinh tính mạng, không chịu trơ mặt hàng giặc. Một điểm tiết nghĩa ấy kể còn đáng thương. Vậy, thự Bố chính Bùi Tăng Huy, án sát Phạm Đình Trạc và Lãnh binh Phạm Văn Lưu đều chuẩn cho vẫn giữ nguyên chức hàm và cấp cho tuất điển. ấy là ta giữ một mực rất thẳng, rất công bằng chước lượng khuyên răn, để tỏ ra công bằng và tin thực”.


    Bổ Hoàng Văn Tú, thự án sát Sơn Tây làm án sát, thự Bố chính tỉnh Cao Bằng Trương Sĩ Hoản Lang trung bộ Hình làm án sát Cao Bằng, Nguyễn Văn Thuận thựPhó vệ uý Thần cơ Tả vệ làm Phó vệ uý, trật Chánh tứ phẩm sung Lãnh binh Cao Bằng.


    Cho Phủ thừa Thừa Thiên Trần Quang Tiến làm án sát Sơn Tây.


    Lãnh binh Tuyên Quang Trần Hữu án, đánh phá bọn phỉ Đại Man, lấy lại được đồn Trinh. Việc đến vua biết. Vua sai rút quân về, thưởng cho Hữu án kỷ lục 1 thứ và thưởng biền binh 200 quan tiền.


    Đề đốc quân vụ Phạm Văn Điển và Phó đề đốc Lê Thuận Tĩnh tiến đến Hà Nội, tâu nói : “Bọn thần theo lời dụ, đem binh và voi đã đến phủ hạt Vĩnh Tường, lùng tìm bọn phỉ đàn áp ở nơi dân gian, rồi gấp đường đi tắt đến Thái Nguyên để hội tiễu”.


    Vua quở rằng : “Sơn Tây hiện nay yên ổn, đã có lời tỉnh tư rồi lại còn đem binh đến đấy, chỉ lặn lội khó nhọc, thực là câu nệ ! Vậy, truyền chỉ sức lại : các ngươi nên lập tức kíp đi Thái Nguyên đánh dẹp, cho kịp sự cơ. Nếu còn lần lữa trùng trình, đến nỗi đi không, về không tất khó chối được lỗi đấy”.


    Tổng thống đạo Lạng - Bình Tạ Quang Cự, Tham tán Vũ Văn Từ và Nguyễn Thọ Tuấn đóng quân ở Lạng Sơn phái người chia đi dò bắt bọn phỉ trốn : bắt sống được tên nguỵ Chánh điều bát Nguyễn Công Cừ, nguỵ Đề đốc Nguyễn Đình Trực và hơn 10 tên phạm của bọn chúng, lập tức chém ngay ở trước quân, rồi tâu vua biết.


    Vua dụ : “Nay quan quân ta đến đâu, giặc sợ bóng gió, chạy tan đến đấy. Một đạo Tuyên Quang cũng đánh phá tổ giặc ở Vân Trung rồi. Tên thủ nghịch Nông Văn Vân hiện trốn ẩn ở núi Ngọc Mạo gần giới phận Cao Bằng. Bọn ngươi phải kíp sửa soạn binh và voi, gấp đi Cao Bằng, bắt hoặc chém cho hết sạch bọn tướng giặc ấy đi. Rồi tuỳ cơ đón chặn, cốt bắt được tên đích phạm là Nông Văn Vân, ấy là công to hơn cả, tất có hậu thưởng. Còn bắt được tên đầu mục bọn giặc hay đồ đảng giặc sẽ thưởng cấp bạc lạng có thứ bậc”.


    Thống chế Thần sách Trung dinh Hoàng Đăng Thận từ quân thứ Nam Kỳ về Kinh. Vua vời hỏi : “Quan quân vây thành, có ai bị bệnh không ?” Thận thưa : “Chỉ có vài người, rồi cũng qua khỏi”.


    Vua nói : “Ta muốn thắng trận một cách toàn vẹn, không nỡ lùa quân ta vào dưới mũi tên hòn đạn, nên thà cứ vây lâu, bọn nghịch tặc ấy cũng không trốn vào đâu được”. Nhân đó, vua bảo thị thần rằng : “Ta nghe nói nghịch Khôi tự bảo là vì bị Bạch Xuân Nguyên làm khổ nhục, nên mới nổi lên giết đi, sau đó sợ tội, cố chết giữ cô thành. Lời ấy cũng không đủ tin. Nếu nó có tình trạng uất ức, sao không kêu với triều đình ? Chung quy chỉ vì nó hung tợn muốn loạn, cho nên gây thành sự biến đó thôi. Song, việc này không phải vì duyên cớ chốc lát mà xảy ra đâu ! Từ khi Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn, thường có tính muốn xâm phạm người trên. Nó ở dưới cờ, tập nhiễm thành thói quen nên mới đến thế ! Sách Truyện ((1) Tức sách Luận ngữ.1) có câu : “Chưa có kẻ nào không muốn phạm thượng mà muốn làm loạn !” ((2) Nguyên văn : “Bất hiếu phạm thượng nhi hiếu tác loạn giả vị chi hữu dã” (Luận ngữ, thiên “Học nhi”).2). Tên Khôi đã muốn phạm người trên, khỏi sao không làm loạn được ? Vả lại tỉnh Gia Định, thói quen xa xỉ, bị tạo vật ghét lâu rồi, nên muợn tay bọn loạn tặc này, thay đổi một phen, khiến cho bỏ thói kiêu bạc, trở lại thuần hậu, cũng là lý số xui thế”.


    Đổi ban ấn kiềm bằng đồng cho sáu bộ (trước làm bằng ngà). Bắt đầu cho dùng kể từ ngày khai ấn ((3) Tức ngày mồng 7 tháng giêng âm lịch.3) sang năm.


    Phủ thần Thừa Thiên tâu : “Từ khi sang thu đến giờ, gạo trong Kinh kỳ kém lắm. Đã phát gạo ở kho Thường bình ra bán rồi. Kho đã gần hết, mà giá gạo vẫn còn cao”.


    Vua dụ Thương trường phát thóc kho 20.000 hộc, ra lệnh bán hạ giá, chiếu theo dân số ở sổ đinh, mỗi người 1 hộc. Người nào vì đường xa không muốn lĩnh cũng được.


    Cho Phó vệ uý Lê Văn Quý ở Hổ oai Hữu vệ thăng thự Phó vệ uý ở Vũ lâm Tiền nhất vệ.


    Thuyền buôn nước Mô Đồ (một tên khác là Ô Lỗ) đi buôn ở nhà Thanh, vì bị gió bão, đắm thuyền, có ba người trôi giạt vào đảo Thuận Tĩnh tỉnh Bình Thuận. Dân sở tại đi tuần ngoài biển bắt được. Quan tỉnh đem việc ấy tâu vua.


    Vua sai cấp cho tiền và gạo, đưa về Kinh. Khi những người ấy đến Kinh, vua cho quần áo, giao quan quân thuyền Định dương trông coi, phái thông ngôn thay nhau đi thông dịch.


    Các vệ thuỷ quân Tiền phong hữu Trung bảo nhị và Cẩm y từ quân thứ Nam Kỳ rút về. Chuẩn cho từ Đội trưởng trở xuống, hễ người nào quê ở Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam tiện đường đi qua hạt mình, đều được về thăm nhà ; người nào quê ở Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình ngày nào đến Kinh, sẽ được về quê nghỉ ngơi, đến sau ngày khai ấn sang năm, các binh ấy đều phải đến tập hợp ở hàng ngũ trong Kinh.


    Các Tướng quân và Tham tán quân thứ Gia Định tâu báo tình hình trong quân, nói “Đạn đại chấn địa lôi bắn vào trong thành, có 2 lần trúng vào nhà cửa trong thành do thuốc súng làm bốc cháy, trông thấy cháy to, khói ngùn ngụt, ván gỗ bay tung. Bọn giặc cũng đã sợ hãi”.


    Vua dụ : “Thế mới biết đạn đại chấn địa lôi thực là một lợi khí đánh thành. Chỉ hiềm đạn ấy chửa bắn trúng vào nhà cửa, sào huyệt của nghịch Khôi ở và các kho thuốc súng, diêm tiêu, tiền, gạo ở trong thành, khiến bọn giặc không còn nhờ vào đâu mà đánh hay giữ được, để sớm bị chết, bị diệt, thì vẫn còn chưa hả lòng người ta thôi ! Nay Tướng quân và Tham tán nên lập tức truyền báo các tướng, biền : pháo thủ cứ theo phép thước đo tầm súng bắn mới ban ấy, đối chiếu vào kho thuốc súng ở mặt sau thành, kho diêm tiêu ở mặt tả thành, liệu tính độ số tấc thước mà bắn. Nếu núi đất để súng gần quá không tiện bắn, thì hoặc liệu dời đắp ra chỗ khác, hoặc tính rút bớt thuốc súng đi, cất đúng với mức độ súng bắn, để mong trúng đích. Và từ chỗ kho thuốc súng ở phía mặt sau, một loạt hướng về phía trước đều là sào huyệt nhà cửa của bọn giặc nối liền nhau. Nếu biết xét đoán đúng độ số thước tấc mà bắn vào, thì không lẽ nào lại không trúng ; mà bắn đã trúng, tất phải đổ nhà cửa, không lẽ nào không giết được giặc. Chỉ vì người bắn, trong lòng nhút nhát, chuẩn đích không thực đấy thôi.


    Nay ở khoảng hai bên chỗ đặt súng đại bác, nên đan phên tre mà quây, đổ đất làm ụ đất đầy, cốt để người bắn có chỗ dựa, tránh, không sợ súng giặc bắn lại, yên tâm bắn ra, mới mong bắn trúng được. Nếu người nào có thể bắn giết được nghịch Khôi và đốt cháy được các kho thuốc súng, diêm tiêu, cùng là đốt phá được sào huyệt của bọn nghịch Khôi đương ở, thì lập tức theo lời dụ trước, thưởng cấp cho, lại liệu ban cho quan chức nữa ; hoặc người nào bắn trúng nơi chứa thuốc súng khác của giặc, hiện trông thấy khói lửa bốc lên, cùng là bắn 1 phát chết 5, 7 tên giặc, hiện có người đứng trông ở trên vòm, chính mắt nhìn thấy cũng chuẩn cho thưởng rất hậu. Lại nữa, người nào mà 2 lần bắn trúng nhà cửa của giặc, thuốc súng bùng nổ, chuẩn cho điều tra rõ ràng người bắn, sẽ thưởng 20 lạng bạc”.


    Vua bảo bộ Binh : “Trước đã có chỉ : Phàm ở trong thành Phiên An, người nào theo giặc, cố chết, đều phải tra rõ tên họ, quê quán, bắt lấy cha mẹ, vợ con, anh em ruột mà đem giam cầm, là cốt muốn bọn chúng biết hối tội ra thú, hoặc cùng gọi nhau kéo ra, khiến được đoàn tụ. Gần nay, nghe nói những bọn lau nhau trong dân gian dựa vào chuyện này để dọa nạt, sinh sự nhiễu dân, nhiều người bị liên luỵ. Vậy truyền dụ cho bọn Nguyễn Văn Trọng và Hà Duy Phiên ở Gia Định hạ lệnh truyền bảo khắp nơi : phàm nhân dân sáu tỉnh Nam Kỳ, ai là kẻ cam tâm theo giặc, chịu chức quan của giặc, vẫn cứ theo dụ trước, bắt giam. Ngoài ra, dân mọn ngu xuẩn bị giặc cưỡng ép bắt theo, nếu có bà con thân thích ngoài, thì cho đến quan trình rõ, lập tức lên trên mặt luỹ gọi ra, thì được tha tội chết, mà ở dưới làn súng đạn lại khỏi bị mắc lây. Bất tất nhất khái lùng bắt, để yên lòng dân. Sau khi lời cáo sức này đã ra rồi, nếu có kẻ côn đồ nào không tốt, còn dám tạ sự dọa nạt quấy nhiễu, thì trị tội nặng”.


    Cho án sát Nam Định Nguỵ Khắc Tuần thăng thự Bố chính, án sát Quảng Trị Tôn Thất Thọ làm án sát Nam Định, nguyên án sát Khánh Hoà Hồ Hữu Thẩm làm án sát Quảng Trị.


    Hữu thị lang bộ Lễ sung biện Nội các Trương Phước Đĩnh và Tả thị lang bộ Binh quản lý Nội vụ phủ là Trần Chấn tự Nam Kỳ về, được lệnh đều vẫn cung chức như cũ.


    Đổi bổ Tả thị lang bộ Hộ sung biện Nội các Thân Văn Quyền làm Tả thị lang bộ Lễ, thự Tả thị lang bộ Lễ Bùi Ngọc Thành vì học thức thô thiển, phải lui về chức Thái thường tự Thiếu khanh, theo làm việc bộ Lễ.


    Truy khai phục cho viên quan bị cách là Lê Văn Lễ làm Viên ngoại lang bộ Hộ. Văn Lễ, trước làm án sát Biên Hoà, vì có tội, bị phát vãng đi tiền khu trổ sức làm việc để chuộc tội, đến nay bị bệnh chết ở quân thứ. Vua nghe tin, thương tình, bèn cho khai phục chức ấy.


    Thổ mục châu An Bác thuộc Lạng Sơn là Vi Hữu Cố, nguỵ xưng Chánh quản, tụ họp hơn 400 đồ đảng, chiếm giữ đồn An Châu. Người giữ đồn Hựu ở Bắc Ninh là Vi Văn Bái đem thủ hạ bắt được tên Cố và đồ đảng nó hàng mười mấy tên. Việc đến vua biết. Vua thưởng cho 200 quan tiền.


    Bọn phỉ Thanh Hoa lén lút nổi lên ở núi Tam Điệp, đón cướp ống văn thư do trạm chuyển đệ và phái viên đệ các văn thư, lại về trang Nghĩa Môn ở Hà Trung quấy nhiễu cướp bóc.


    Nghe biết việc ấy, vua bảo bộ Binh : “Hạt ấy, gần đây, nói là dần được yên ổn, sao lại còn có bọn phỉ sinh sự, dám công nhiên đón đường cướp giật ở quan lộ, thì người chịu trách nhiệm địa phương, khó chối lỗi được. Vậy quyền nhiếp phủ ấn là Phạm Đình Trạc trước phải giáng 2 cấp, Tuần phủ Nguyễn Khả Bằng, Bố chính Nguyễn Đăng Giai và án sát Lê Đức Ngạn mỗi người đều giáng 1 cấp ; bọn bộ biền Quản vệ Lê Phước Thư đều giáng 4 cấp. Các viên này vẫn phải chịu trách nhiệm về việc bắt giặc. Lại dụ tỉnh Nghệ An trích lấy 200 thú binh ở Hữu bảo Nhất vệ, giao cho Quản vệ Lê Quang Quảng đem đi, theo Nguyễn Khả Bằng sai phái.


    Đặt 2 vệ Hùng võ, Dũng võ ở Bình Định, vệ Thần võ ở Bình Thuận và vệ Nhuệ võ ở Khánh Hoà.


    Vua bảo bộ Binh : “Từ khi Nam Kỳ có việc, nhiều lần điều động biền binh các tỉnh, đi trận đã lâu ngày, bấy giờ nên liệu tính thay đổi, để san sẻ khó nhọc và thong thả cho đồng đều. Vậy, truyền dụ cho Bình Định triệu tập lấy 500 dân tráng ở 12 ấp, mà trước đã chọn bổ làm binh cơ Định dũng, đặt làm vệ Dũng võ ; Bình Thuận và Khánh Hoà mỗi tỉnh cũng triệu tập lấy 500 dân tráng thuộc tỉnh mình cho phụ vào việc phòng giữ tỉnh thành. Rồi đem biền binh ở tỉnh : Bình Thuận đặt làm vệ Thần võ, Khánh Hoà đặt làm vệ Nhuệ võ, mỗi vệ đều 500 người. Nếu số biền binh ở Khánh Hoà không đủ, thì đem dân tráng sung vào. Đợi đến sang năm, sau ngày khai ấn, 2 vệ Bình Định, thì do Quản vệ ở Kinh phái riêng đến quản lĩnh, 2 vệ Bình Thuận, Khánh Hoà thì do Quản cơ thuộc tỉnh quản lĩnh, đều đem đi quân thứ Gia Định để thay đổi đóng đồn phòng thủ. Còn các biền binh được phái đi trước thì rút về hàng ngũ ở tỉnh”.


    Lại sai tỉnh Quảng Ngãi dồn 1.000 biền binh ở Tĩnh man cơ và Thuỷ cơ, đặt làm 2 vệ Kính võ và Kiện võ, để dự bị thay đổi.


    Quan tỉnh Quảng Ngãi tâu : “Binh ở cơ Tĩnh man hiện số có hơn 1.000 người từ trước đến nay, đổi đi đồn biên giới để chống giữ bọn ác man, cảm mạo khí độc rừng núi, bị ốm đau đến 1 phần 3. Vả lại, việc tòng chinh cố nhiên là khó nhọc rồi, nhưng việc phòng thủ ở ven biên giới lại khó nhọc hơn nữa. Nếu nay lại thay đổi đi về thì đường sá xa xôi cách trở, lại sinh thêm một đoạn khó nhọc nữa. Vậy xin cho đâu cứ ở đấy là tiện”. Vua chuẩn y.


    Vua nghe tin bọn giặc trong thành Gia Định, có khi thừa cơ ban đêm, lẻn ra ngoài thành lấy trộm củi đóm.


    Vua truyền dụ các Tướng quân, Tham tán ở quân thứ rằng : “Bọn giặc bị khốn ở trong thành, ngày càng quẫn bách. Bọn ngươi nên xem các nhà cửa gần trong luỹ hễ nhà nào có thể dỡ đi được thì dỡ bỏ đi. Nếu nhà nào nên để thì phải nghiêm sức binh dõng ở nơi đồn tấn phòng bị cẩn mật hơn nữa. Nếu thấy chúng ló ra thì lập tức phải đón chẹn giết chết, chớ để cho quân giặc ấy được kiếm chác một thức gì. Việc này đã từng nhiều lần truyền bảo, cớ sao lại có sự sơ hở ấy ? Sau nếu còn thế nữa, ta sẽ trị tội viên đại thần ở địa phận tấn sở ấy.


    “Lại, các núi đất ở bốn mặt thành chưa được cao lắm, người bắn súng chưa bắn được trúng đích. Vậy thì núi đất ở mặt trước không cần đắp cao thêm, còn ba mặt tả, hữu, hậu nên xem mặt nào đúng vào giữa thành, đều nhân chỗ đài đặt súng cũ, đắp núi đất cho cao thêm, dày thêm lên, cốt cao đến 27 thước hoặc trên dưới 30 thước, khiến cho có thể cúi nhòm vào trong thành, để theo tầm mà bắn vào, tự có thể trúng đích thì giặc không thể trốn đi đâu được.


    Duy nghĩ : Quan quân vây đánh lâu ngày, không khỏi có sự nhọc mệt, tình thế khó mà làm được. Vậy hạ lệnh cho quan tỉnh Gia Định sức gọi dân phu lấy 2.000 người, liệu cấp cho tiền và gạo, bảo họ làm nhiều sọt tre, đổ đầy đất, đá, thừa cơ ban đêm, khiêng, gánh đến luỹ, hợp với biền binh cố sức đắp và làm cho chóng xong. Trong quân, nếu cần dùng đến đồ công phá, tre, gỗ, vật liệu, thì cho phép được lấy ở dân gian, nhưng phải truyền bảo cho dân biết rằng đó là bất đắc dĩ, đợi sau khi việc yên rồi, sẽ chiếu theo giá mà trả. Như thế thì có thể nhờ được nhân công mà đỡ được đôi chút binh lực, mới mong sớm xong việc được”.


    Vua lại mật dụ : “Gần nay nghe nói bọn giặc trong thành còn có những đứa lẩn ra chỗ Dương Mã thành ((1) Dương Mã thành : bức thành ngăn cách ở phía trong hào và bốn mặt ngoài thành, cách thành độ 10 bộ. Dương Mã thành này xây dày 6 thước (cổ), cao 5 thước và trên có nữ tướng. Tác dụng của nó là để phòng thủ và cầm cự.1) ở ba mặt tả, hữu và hậu, mưu đồ chống cự với quân ta. Nếu không kíp đánh giết đi thì nơi ấy gần luỹ, chúng không khỏi có ý nom nhòm, thừa lúc sơ hở mà đột phá vòng vây. Bọn ngươi phải mật tuyển lấy hơn 100 dũng sĩ, thưởng trước mỗi người 1 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn. Mỗi dũng sĩ, lưng thì thắt mảnh vải trắng làm hiệu, khiến trong lúc mờ tối, có va chạm nhau, khỏi giết lẫn nhau. Nhưng hạ lệnh cho quân ấy đều cầm dao găm, bất tất cầm súng nhỏ, súng lớn và ống phun lửa, nhân lúc đêm tối, canh khuya, nhằm đường phụ quách mà lén vào, hoặc lẳng lặng lội chỗ hào nông mà đến, rồi giết hết bọn giặc trong Dương Mã thành. Lại lần theo ven chân thành, đi đến chỗ khác, chớ để cho giặc trên thành biết. Nếu chúng biết, giơ đuốc soi, thì mình phục xuống bờ hào mà ẩn, yên lặng, chớ lên tiếng, đợi đuốc đóm tắt rồi, mới lại đi. Đã giết được chúng ở chỗ này, lại lần đi chỗ khác, cốt đem giết cho kỳ hết bọn giặc ở các nơi trong Dương Mã thành, tất có trọng thưởng. Kế này đã thi hành, thì giặc mất vây cánh, cũng là một mưu hay. Nếu giặc còn dám ra nữa thì cũng chiểu theo kế ấy mà làm : giặc không dám ló đầu ra, bấy giờ ngoài thành tha hồ làm gì thì làm tuỳ cơ đánh dẹp, thật rất dễ dàng”.


    Sai biền binh thuỷ quân đi thuyền hiệu chữ “Định” số 7 ((2) Nguyên văn là “Định ©w ” tự thất hiệu thuyền”2) vận tải súng, đạn, thuốc súng (1 cỗ súng “phá địch đại tướng quân”, kèm theo súng có 400 đạn chấn địa lôi, 3.000 đạn chấn địa lôi đường kính 4 tấc 2 phân, 50.000 cân thuốc súng) đến quân thứ Gia Định.


    Vua nghĩ : Từ khi Nam Kỳ có việc, bọn Hoàng Quốc Điều, Phan Phu ở Bình Thuận, chuyển vận quân lương và quân nhu, đều không chậm trễ, bèn gia ân : Hoàng Quốc Điều ; dưới tên, trước ghi giáng 4 cấp, nay cho khai phục 2 cấp ; Phan Phu, dưới tên, trước ghi giáng 1 cấp, nay cho khai phục cả.


    Tổng thống đạo Lạng - Bình Tạ Quang Cự, Tham tán Vũ Văn Từ và Nguyễn Thọ Tuấn, từ thành Lạng Sơn coi đốc binh và voi tiến đến Cao Bằng đánh giặc. Họ làm sớ tâu, nói : “Dân Lạng Sơn, trước đã theo giặc đến 8, 9 phần 10. Trong đó phần nhiều là bị bắt ép phải theo. Nếu nhất khái khép cả vào pháp luật, sợ không phải là cách để thể hiện đức tốt nhà vua và yên ủi lòng dân. Vậy xin từ nay, phàm quan quân bắt được, hoặc dân xã bắt giải, nếu là những tên không nhận quan chức của giặc và trở giáo chống lại quan quân thì đều tha cả, tưởng cũng là một điều cốt yếu về việc bình định và vỗ yên nhân dân”.


    Vua dụ họ rằng : “Ngày nọ, bọn giặc bùng nổi, dân sở tại phần nhiều bị khua lùa cưỡng ép. Nay đại binh tiến đánh, phàm người bị hiếp theo, thì thả cho về làm ăn, đó thực là việc làm đắc thể. Vậy, chuẩn y như lời tâu xin. Các ngươi nên hạ lệnh truyền bảo khắp cả khiến cho bọn ấy đem nhau ra thú, cùng được đổi mới. Vả lại, sau khi tỉnh thành được giải vây, đã qua hàng tuần, rồi mới tiến binh, rất là chậm trễ. Nay các ngươi nên đốc sức binh và voi mau chóng đến thẳng Cao Bằng, để đánh trừ dư đảng giặc. Rồi chia phái biền binh lên đường đi đến núi Ngọc Mạo, hội binh với đạo Tuyên Quang, hợp sức chẹn bắt, cốt bắt cho được Nông Văn Vân làm cho ra án, sớm có cờ đỏ báo tin thắng trận”.


    Tuần phủ Lạng - Bình Lê Đạo Quảng mang theo binh dõng từ châu Tiên Yên tiến đi Lạng Sơn, nhân đó tâu nói : “Việc biến động ở tỉnh hạt, phần nhiều do ở thổ mục khua lùa cưỡng ép thổ dân. Nay sau khi đại binh đánh phá, thổ dân tan về rừng rú thung lũng. Vậy xin : nhân dịp mỗi khi đi qua nơi nào, tuyên bảo khắp cõi : ai là hào mục, không từng theo giặc, lại hay bắt được đầu mục giặc, bè lũ giặc đem nộp, thì sẽ xét công trạng, tuỳ tài cho làm quyền sai, sung vào chân khuyết tổng trưởng các châu, các tấn. Đến như thổ dân, trước hoặc bị hiếp theo, hoặc không theo giặc mà ở nhà có chứa súng điểu sang, đều cho được thú nạp, chuẩn được tha tội. Lại chiếu 1 cây súng điểu sang, thì thưởng liền 3 quan. Như thế thì hào mục đã được quan chức đều nghĩ đến việc bắt giặc nộp quan và các thổ dân được sống, cũng đều trở về phòng thủ, thì bọn đầu mục giặc ấy không còn chỗ trốn tránh nương tựa được. Nếu việc này thi hành ở Lạng Sơn quả thu được công hiệu, thì Cao Bằng cũng xin chiếu theo đó mà thi hành”.


    Vua phê bảo : “Lời xin đều phải cả. Duy người nào ra thú, nạp súng điểu sang mà được cấp tiền, cũng nên có phân biệt : nếu ai không theo giặc, mới được cấp tiền; còn đã theo giặc, mà sau thú nạp, thì tha tội thôi, không cấp tiền”.


    Dương Đức Hiến, nguyên Quản phủ Bình Giang hưu trí, xin đem 4 người con, lệ thuộc theo làm việc quân, Nguyễn Đình Hoảng nguyên Quản cơ Lạng hùng, can án, cũng xin đem thủ hạ, dẫn đường, gắng sức làm việc để chuộc tội. Tổng thống Tạ Quang Cự đề nghị tâu lên cho họ. Vua đều ưng thuận.


    Đổi bổ Tả thị lang bộ Hộ Đặng Chương làm Hữu thị lang bộ Binh ; Hữu thị lang bộ Binh Dương Văn Phong làm Tả thị lang bộ Hộ.


    Tuần phủ Quảng Nam - Quảng Ngãi Đỗ Khắc Thư tâu báo : “Nuôi tằm, ươm thành tơ, được hơn 100 cân, đem dâng”.


    Vua dụ Nội các : “Các địa phương chăn tằm, đã chuẩn cho y theo phân số do bộ bàn định, là muốn khiến các quan đầu tỉnh phải thân hành làm việc để hướng dẫn nhân dân chăm lo việc căn bản. Gần nay, số tơ các tỉnh thu được, phần nhiều không đúng số định, vậy mà riêng Quảng Nam làm được nhiều tơ như thế, thực là do quan tỉnh gia tâm khuyến khích, đôn đốc và bọn người thừa hành chăm việc, nên mới được đến thế. Vậy thưởng Đỗ Khắc Thư kỷ lục 1 thứ, người chuyên biện và các người làm việc 10 lạng bạc”.


    Tỉnh Quảng Yên, vụ mùa này thóc lúa được phong đăng do quan tỉnh đem việc ấy tâu lên.


    Vua dụ Nội các : “Dân Kinh và dân Thổ ở hạt này, từ trước đến nay, đều tha thiết về lòng tôn vua, thân người trên, vốn không phản nghịch. Nay, tỉnh hạt thu hoạch được phong đăng, đó là Phước đấy. Ta rất mừng cho nhân dân một phương ấy. Ta bèn tự nghĩ một bài thơ để ghi nhớ việc này, rồi in chữ son, ban cấp cho tỉnh ấy và các hạt Ninh Bình, Thanh Hoa, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn khiến cho đều rõ rằng dân Quảng Yên biết yên phận, theo lẽ phải, nên được ngước nhờ Phước trời ưu đãi, triều đình khen thưởng. Các hạt khác nên nghĩ mà bắt chước, cùng hưởng thái bình”.


    Người huyện Nga Sơn, Thanh Hoa là Mai Trọng Đồng, mạo xưng là con cháu nhà Lê, mượn nghề làm địa lý, ngầm đi đến địa phương Nghệ An, dụ bè đảng, mưu khởi nguỵ. Quan địa phương bắt được giết đi. Thưởng cho người tố cáo việc ấy 50 lạng bạc.


    Các Tướng quân, Tham tán ở quân thứ Gia Định tâu : “Nhiều lần cứ theo lời tên giặc ra thú thì quan quân ta bắn vào trong thành, bọn giặc bị chết, ngày 3, 4 người, hoặc 6, 7 người. Các kho thuốc súng của giặc, cũng có chỗ bị thiêu. Duy chỗ ở của tên nghịch Khôi thì bốn mặt, chất tiền ((1) Ngày trước, tiền đồng hoặc tiền kẽm đều đóng thành từng quan. Khi muốn chất tiền làm tường vách như trên đây đã trình bày, người ta cứ việc xếp các quan tiền chồng chất lên nhau, dày mỏng tuỳ theo ý muốn.1) làm tường vách, trên lát ván gỗ, trên mặt ván gỗ lại chất bằng tiền, đến nỗi đạn bắn tuy trúng, nhưng không thể thấu qua được. Những đầu mục giặc thì đào hầm đắp luỹ mà ở. Quân giặc thì đắp thêm 1 tầng tường bằng chĩnh ở mé trong nữ tường trên mặt thành. Mỗi khi thấy quan quân bắn, chúng đến đấy ẩn nấp.


    “Hiện nay, bọn giặc ước còn trên dưới 2.000 người ; voi ngựa đều hơn 10 con. Kho thóc Gia Hoà : toà nhất còn độ một nửa, toà nhì còn độ 1 phần 3 ; kho muối 13 gian, trong đó 4,5 gian bỏ không, còn thì mỗi gian cao ước 4,5 thước. Thuốc súng chứa ở kho Gia Tín hiện còn 300 thùng, mỗi thùng 100 cân, bốn bề và mặt trên kho này đều xếp đống tiền kẽm để che đậy. Lại sai chứa ở các cửa, mỗi cửa 13 thùng. Số đạn chứa ở trại pháo thủ hơn 10 gian, còn ước không được 1 phần 3".


    “Lại nghe đồn bọn giặc ở phía mặt trước ngoài thành, bắt được 1 người. Bọn tên nghịch Trẩm và nghịch Tước mớm lời bảo nó nói : Quan quân có bọn rút về, quân Xiêm đã đến. Giặc lại nói dối rằng ngoài thành có người gửi thư, dặn người trong thành chớ nên ra thú, ra thú tất bị giết hại. Bọn thần nghiệm xem tình hình ấy, thì ra giặc đã dần dần suy nhược, bọn thần đã sức biền binh đem các hạng đại bác, nhằm bắn vào trực diện trong thành, khiến giặc không nơi ẩn náu”.


    Vua dụ : “Về việc nghiêm phòng ở địa phận tấn, sở, nhiều lần đã có chỉ răn bảo rồi. Nay bọn giặc còn dám ra vào mặt trước ngoài thành để cướp người, thực là do tướng lệnh của Tướng quân và Tham tán không nghiêm, nên chúng mới có lòng khinh quân ta đến quá như thế. Huống chi quân cơ là quan trọng, nếu nhân thế mà tiết lộ, há chẳng lỡ việc ư ? Vậy, Trần Văn Năng, người đương mặt trước thành ấy, bị giáng trước 1 cấp, không cho tra xét, rồi mới xử nữa. Đối với viên phân quản ở địa phận tấn sở cũng phải lập tức điều tra rõ ràng, nghiêm hặc để trừng trị. Từ nay về sau, các đại thần ở địa phận tấn sở, phải nghiêm sức tướng, biền gắng sức phòng giữ, không được trễ nải chút nào".


    “Lại, thuốc súng chứa ở kho Gia Tín trong thành hãy còn 300 thùng. Vậy phải ra lệnh cho bọn người bắn trúng kho ấy, một loạt nổ tung thì lập tức được thưởng bạc 300 lạng để khuyến khích. Vả lại, bọn giặc rất sợ chấn địa lôi. Mỗi khi ta bắn, chúng phải đem nhau tránh vào hầm hố, nên số giặc bị chết cũng không mấy. Nay phải truyền bảo bọn người bắn rằng bất luận nửa đêm hay giữa trưa, hoặc bốn mặt đồng thời cùng bắn, khiến giặc không ẩn nấp vào đâu được ; hoặc chỉ bắn 1, 2 mặt ; hoặc bất thần bắn, bất thần lại ngừng ; hoặc đã ngừng rồi lại bắn ngay, cốt xuất kỳ bất ý, khiến chúng không thể lường tính được. Lại, đến khi bắn, nên bí mật làm theo hiệu lệnh, chớ lộ hình tích, khiến bọn giặc không biết trước mà chạy đi nhiều, thì bắn không hư phí, mới mong giết được nhiều giặc. Đến như các hạng đại bác cần nên chuẩn bị cho đích đáng, chớ nên bắn cách khinh suất. Đợi khi núi đất đắp được cao hơn mặt thành, có thể cúi nhòm được kẻ đi người lại ở trong thành rồi, bấy giờ mới nhằm ngắm mà bắn, để không phí đạn. Giặc ngày cùng quẫn, thì ta hạ lệnh đánh thành, một trận có thể thành công được”.


    Chuẩn định : phàm binh lính ở ngoài, có chỉ gọi về Kinh và khi điều động đi hạt khác làm nhiệm vụ bắt giặc, thì không kể số binh nhiều hay ít, những ngày khứ hồi chuẩn cho chiểu theo lệ sai phái Kinh binh xét theo địa hạt xa gần, cấp cho khẩu lương đi đường cho tới khi đã đến tận chỗ thì thôi. Sự chuẩn định này được đặt làm lệ.


    Hộ phủ Quảng Yên Vũ Tuấn tâu : “Có hơn 60 chiếc thuyền đánh cá của nhà Thanh vượt qua hải phận Vân Đồn thuộc Ba Phong ((1) Tức Hoa Phong, sau đổi Nghiêu Phong, thuộc Quảng Yên.1)”.


    Vua sai bộ Lễ đưa công văn sang Tổng đốc Lưỡng Quảng ((2) Quảng Đông và Quảng Tây.2) bắt họ quay thuyền về nước, cho khỏi sinh sự. Lại sai Vũ Tuấn sức cho các địa phận tấn sở chỉnh đốn phu và thuyền để phòng thủ.


    Biền binh đi tuần biển ở Hà Tiên, thám thấy thuyền nước Xiêm ước 30 chiếc đậu ở đảo Tam Kháo (thuộc giới phận Xiêm). Tuần phủ Trịnh Đường đem việc ấy tâu vua biết.


    Vua dụ : “Số thuyền của chúng không mấy, chẳng qua là theo biên giới mà tuần phòng thôi, việc gì phải cuống quýt lên thế. Ngươi nên nghiêm sức địa phận tấn sở phải phòng giữ. Lại sai người dò thám, xem chúng không có ý khác thì thôi ; nếu có ý khởi loạn ở biên giới, thì lập tức một mặt kíp tâu lên, một mặt tư báo các Tướng quân và Tham tán ở quân thứ Gia Định chuẩn bị trước, cho nhanh việc quân cơ”.


    Người nước Xiêm kéo đại binh vào lấn cướp nước ta.


    Trước kia, khi nghịch Khôi khởi loạn, sai người đưa thư sang nước Xiêm, xin Xiêm phái binh đánh nước Chân Lạp, rồi thẳng đến Gia Định. Hắn hẹn sau khi việc thành, xin dâng đất và thần phục. Người Xiêm mê hoặc, mới rầm rộ đem binh
  • Chia sẻ trang này