0060.0090

13/1/16
0060.0090
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    thuyền thuỷ bộ, 3 đạo đều tiến : một đạo từ đường bộ Bắc Tầm Bôn ((1) Tức là Bát Tam Băng.1) kéo đến, dùng Phi Nhã Chất Tri làm chức Điều bát và mang theo hai em của Quốc trưởng nước Chân Lạp là Nặc Yêm và Nặc Giun cùng đi ; một đạo từ đường thuỷ Biển Hồ đổ lại, dùng Phi Nhã Phi Mục Thiệp Mang làm Điều bát ; một đạo nữa từ đường biển Chân Bôn kéo lên, dùng Phi Nhã Phật Lăng làm Điều bát.


    Ngoại lang bộ Binh, thừa biện Nam Vang biên vụ Hồ Công Chỉ cứ lời viên chức bên Phiên thám báo, chuyển đạt đến tỉnh An Giang. Quan tỉnh là bọn Đặng Văn Bằng cho lời báo ấy phần nhiều là ra từ truyền văn, chưa được rõ ràng xác thực. Chỉ liệu lượng phái có 50 người lính tỉnh tiến đi, cùng với lính thú cũ ở Nam Vang nghiêm cẩn phòng giữ và mật tư đi quân thứ Gia Định tuỳ nghi xếp đặt.


    Việc đến tai vua. Vua mật dụ các Tướng quân và Tham tán rằng : “Cứ tin thám báo, thì việc người Xiêm động binh xét theo tình lý, dẫu hầu như chưa chắc đã thế. Nhưng mà việc làm, quý ở mưu tính trước khi sự cơ xảy ra, không thể không phòng bị sẵn. Bọn ngươi nên lập tức phái một vệ Kinh binh và 500 hương dõng, chia nhau cưỡi thuyền đi, đóng giữ An Giang. Lại, các hạng thuyền mà nhiều lần đã lấy được, chọn cái nào bền chắc dùng được, lượng cấp cho An Giang 10 chiếc ; Vĩnh Long, Định Tường, Hà Tiên mỗi tỉnh 5, 7 thuyền. Lại, số súng đạn và thuốc súng ở các tỉnh còn ít, nên lượng cấp cho Vĩnh Long 3.000 cân thuốc súng, An Giang và Định Tường mỗi tỉnh 2.000 cân, Hà Tiên 1.000 cân. Các hạng đại bác trước đặt ở thuyền, cũng lượng cấp cho Vĩnh Long và An Giang mỗi tỉnh 10 cỗ súng ; Định Tường và Hà Tiên mỗi tỉnh 5 cỗ. Súng quá sơn, hoặc súng thần công đều cấp mỗi tỉnh hơn 10 cỗ, số đạn theo súng, mỗi cỗ súng đều 100 viên, hoặc 7, 8, 9 mươi viên. Biên phòng là việc cơ mật, cốt phải điều khiển kín đáo, chớ lộ ra vẻ mặt và lời nói, không nên để dân gian lường tính được sự thực hư, mới phải”.


    Lại mật dụ tỉnh An Giang phải gọi lấy 1.000 hương dõng, đợi khi binh thuyền do Tướng quân và Tham tán phái đến, thì lập tức trích lấy 500 binh dõng và 10 chiếc thuyền ở tỉnh phái đi đóng giữ Nam Vang ; 200 binh dõng và 5 chiếc thuyền đi đến Hà Tiên, hiệp cùng binh thuyền do các Tướng quân và Tham tán trước đã phái đến, theo tỉnh làm việc phòng giữ. Định Tường và Vĩnh Long mỗi tỉnh gọi lấy 500 hương dõng canh giữ tỉnh thành.


    Bọn phỉ trốn ở Hà Nội là Hoàng Vũ Côn và Đặng Đình Nghiêm lại họp hơn 1.000 đồ đảng lén lút tụ tập ở huyện hạt Hoài An, thông đồng với bọn phỉ trốn ở Sơn Âm là Quách Tất Công, Quách Tất Tại và Quách Tất Tế, hẹn nhau họp đảng khởi nguỵ. Quản phủ ứng Hoà Nguyễn Đăng Khánh, Tri phủ Bùi Mậu Tiên nghe tin báo, lập tức phi sức cho Tri huyện Vũ Thế Trường theo phận đường, chia quân ngăn chặn ; Nguyễn Đăng Khánh thân đem binh và voi, hiệp cùng bộ biền Phó quản cơ vệ Tiền chấn là Hoàng Quang Trừng, đi lên. Bùi Mậu Tiên cũng đốc suất quân dân tiến theo, đánh nhau với phỉ ở xã Thanh áng, chém được 2 đầu, bắt được tên đầu mục giặc và 19 tên phạm, cùng là ấn tín, giấy tờ, khí giới, cờ, trống của giặc. Tên Côn, tên Nghiêm theo miền rừng chạy trốn. Tổng đốc Hà - Ninh Đoàn Văn Trường đem tình trạng ấy tâu vua biết.


    Vua xuống dụ khen ngợi. Nguyễn Đăng Khánh trước bị cách lưu, nay chuẩn cho khai phục, lại thưởng thêm 1 đồng kim tiền Phi long hạng nhỏ và 10 đồng ngân tiền hạng lớn ; Hoàng Quang Trừng thăng bổ Quản cơ ; Bùi Mậu Tiên, Vũ Thế Trường, mỗi người được thưởng quân công kỷ lục 2 thứ, giao đình thần ghi tên đợi có chỗ khuyết, tâu xin sẽ thăng bổ. Các viên ấy lại được thưởng 10 đồng ngân tiền hạng to. Đoàn Văn Trường, trước vì bọn phỉ lén lút nổi lên, bị giáng 1 cấp, nay lập tức cho khai phục, lại thưởng kỷ lục 1 thứ. Các Suất đội đi trận ấy đều thưởng 3 đồng ngân tiền hạng lớn ; binh và dân thưởng tiền 500 quan.


    Tổng đốc đạo Thái Nguyên Nguyễn Đình Phổ đuổi bắt thổ phỉ, từng qua các địa hạt Động Hỷ, Phú Lương, Đại Từ, Văn Lãng và Định Châu, thì bọn giặc đã tan trước, dân Thổ, Nùng sở tại đều đi trốn. Phổ bèn đóng binh ở 2 đồn Bắc Cạn, Tượng Đầu để chiêu dụ vỗ về nhân dân trở về. Lại chia phái quân đi săn bắt được bọn nguỵ Điều bát Ma Khắc Liên (Thổ lại mục ở Định Châu), nguỵ trưởng hiệu Lương Bá Đăng (Thổ lại mục huyện Văn Lãng), nguỵ đốc chiến Ma Văn Tĩnh và bè lũ chúng hơn 30 tên. Gặp bấy giờ Đề đốc Phạm Văn Điển, Phó đề đốc Lê Thuận Tĩnh đem binh và voi tiến đến, Phổ bèn hội đồng, lên đường thẳng tiến và đem việc tâu vua biết.


    Vua bảo bộ Binh : “Bọn giặc Thái Nguyên đã từng tan vỡ, trốn đi bốn ngả để cầu sống sót. Hạt này đã được yên ổn đến 8, 9 phần 10. Hiện nay, việc chiêu nhân dân, thám bắt dư đảng, chỉ còn một vài phần công phu, tưởng làm cũng dễ. Vậy chuẩn cho Nguyễn Đình Phổ cứ lưu ở đấy : một mặt, dẹp yên, vỗ về cho dân được ở yên như cũ ; một mặt, chia phái quân đi thám bắt tên tướng giặc còn lẩn trốn, làm cho ra án để nghiêm trị. Rồi sớm đem quân về, cho khỏi bị cảm mạo khí độc rừng núi. Bọn Phạm Văn Điển và Lê Thuận Tĩnh lập tức rút về các hạng biền binh đã đem đi trước. Vả lại, tiết này đã gần hết mùa đông, sắp sang năm khác, theo lệ, lính thú các tỉnh Bắc Kỳ đáng được thay đổi. Nhưng các vệ hiện đang tòng chinh nếu nhất khái rút về, lại phái binh khác đến sung vào việc đi thú, thì đường sá đi lại không khỏi khó nhọc. Vậy, biền binh các vệ trước theo bọn Phạm Văn Điển thì Cương võ vệ rút về lưu lại ở Hà Nội ; Hổ oai Tả vệ rút về lưu lại ở Bắc Ninh ; Võng thành vệ rút về lưu lại ở Hải Dương ; Hổ oai Hậu vệ đổi đi thú Nam Định. Duy Hậu bảo Nhất vệ nhiều lần đi trận, cũng đã nhọc nhằn, vậy cho cùng với các hạng quân phái đi trước là Kinh tượng, Thượng tứ, Hộ vệ, Cảnh tất, Giáo dưỡng, Tả sai, Hậu sai luôn với các thớt voi cũng kéo về cả. Ngày nào tới Hà Nội, thì Phạm Văn Điển, Lê Thuận Tĩnh trước đi ngựa trạm về Kinh, đợi chỉ. Ngoài ra, đều chuẩn cho lục tục trở về Kinh, vào hàng ngũ cũ. Tiền phong Hậu vệ, trước thú ở Hà Nội, hiện đang làm nhiệm vụ bắt giặc, đợi việc yên rồi, sẽ giáng chỉ định đoạt. Còn Hữu bảo Nhị vệ trước thú ở Nam Định ; Tuyển phong Hậu vệ trước thú ở Hải Dương ; Trang võ vệ trước thú ở Bắc Ninh đợi biền binh, mới đi thú đến thay, thì lập tức cho rút về Kinh, trong hàng ngũ cũ ở Thanh, Nghệ, gián hoặc có những ai được trích phái đi trận thì sau việc yên cũng tiếp tục thả cho về”.


    Tổng thống đạo Lạng - Bình Tạ Quang Cự, Tham tán Vũ Văn Từ và Nguyễn Thọ Tuấn đến trạm Lạng Chung, Thọ Tuấn bỗng bị bệnh, phải tạm lưu lại để điều dưỡng. Bọn Quang Cự tiến thẳng đến xã Lạc Dương (thuộc huyện Thất Tuyền), có bọn phỉ vài trăm tên chặn đường bắn súng. Quân ta sấn đến, chém được 2 đầu, phỉ bèn tan chạy. Hỏi ra mới biết nơi này là sào huyệt của tướng giặc Nguyễn Khắc Hoà và Nguyễn Khắc Thước, bọn Cự bèn đóng binh lại, chia đi lùng bắt bọn ấy rồi làm sớ tâu lên, nói : “Quân đi, gặp mưa luôn hàng tuần, đường sá lầy lội, sông ngòi đầy tràn, đến nỗi tiến quân hơi chậm. Lại, khi mới đến Lạng Chung, thấy Cao Phục Lễ, nguyên thự Lại khoa Cấp sự trung, đến quân thứ thú tội, nói : từ khi thua trận, lẩn trốn ở rừng rú, nương tựa người Nùng. Bọn thần đã cho hắn đi theo các quân, gắng sức làm việc để chuộc tội”.


    Vua dụ : “Bọn ngươi nhận mệnh lệnh, được chuyên việc đánh dẹp, những quân dưới quyền thống thuộc đều là binh hùng, quân mạnh. Các ngươi đem quân ấy ra đánh, ai dám chống lại. Trước đã đánh một trận, giải được vây cho Lạng Sơn ; tinh thần quân sĩ đang hăng hái gấp trăm lần, thế mà không thừa thắng, thẳng đến Cao Bằng, lại cứ quanh quẩn nghe ngóng, kéo dài, đáng nên nghiêm ngặt nghị tội. Nhưng nghĩ : đường đi nhiều quãng hiểm trở, cheo leo, lại gặp mưa dầm, còn có lý do. Vậy hẵng truyền chỉ nghiêm quở. Nay các ngươi nên cảm động, hăng hái thế nào, đi thu phục Cao Bằng cho mau chóng, để sớm dâng công lớn. Bọn tướng giặc Nguyễn Khắc Hoà, Nguyễn Khắc Thước, tội ác rất nặng, các ngươi nên lập tức tìm nhiều cách lùng bắt bọn chúng cho bằng được.


    “Khi đại binh tiến đi, cũng nên nghiêm sức nhân dân sở tại phải gia tâm dò thám bắt phỉ, chớ để chúng lọt lưới. Đến như Cao Phục Lễ, trước đã theo đi trận, hỏng việc, nay hắn mới ló đầu ra, lai lịch chưa rõ ràng lắm, vậy lập tức phái người dẫn hắn về Kinh đợi chỉ.


    “Nguyễn Thọ Tuấn, nếu chưa giảm bệnh thì chuẩn cho tạm về Lạng Sơn, yên tâm điều dưỡng cho mau khỏi, lại đi quân thứ làm việc ngay”.


    Phục Lễ, khi đến Kinh, giao xuống bộ Hình nghị xử cách chức, phát vãng đi Cao Bằng gắng sức chuộc tội. Lại, người Nùng, Mã Văn Nguyên, thấy quan triều đình mà biết giúp đỡ nuôi dưỡng, thế là hiếu nghĩa. Vậy ra lệnh cho quan tỉnh Lạng Sơn vát của công, thưởng cho 10 lạng bạc”.


    Thự Bố chính Tuyên Quang Trần Ngọc Lâm và án sát Hồ Sĩ Lâm tâu : “Nhiều lần bộ Binh phát đệ ống vẽ rồng đựng sớ sách và ống trạm, cùng là thuốc thang do thị vệ mang đến : ở tỉnh phái binh hộ tống đến đồn Ninh Biên, rồi theo ngả đường châu An Định, chuyển giao đến nơi quân thứ. Lần trước đã bị giặc ngăn trở, bọn thần đã sai chuyển theo ngả đường Đại Miện, Tiểu Miện mà đi. Khi người ấy đi đến xứ Kha Đông, giáp địa phận Vân Trung, lại gặp giặc dựa núi bắn ra, không thể đi được, lại phải trở về đồn Ninh Biên. Vả lại, từ đồn Ninh Biên đến quân thứ, chỉ có 2 đường qua núi, nay đều bị giặc ngăn trở. Còn các biền binh ngày trước phái đi, tưởng cũng mới đến xứ Bắc Nhự thuộc huyện An Định để đánh dẹp. Đợi có tin thắng trận, bọn thần sẽ xin lập tức tâu tiếp”.


    Vua dụ : “Bọn phỉ ấy chẳng qua là giặc tàn lẻ tẻ, thừa cơ nổi lên. Bọn ngươi lập tức nên lượng lưu biền binh để đủ phòng giữ, còn thì cho theo Lãnh binh Trần Hữu án mang kíp đi, hiệp với quân đã phái đi trước, hết sức đánh dẹp, cho sớm dập tắt. Và, nay đã xuống ddụ cho bọn Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ đem quân về ; các ngươi nên tìm cách thế nào, đem các bản dụ văn này và những ống trạm từ trước ấy, cốt chuyển đạt được đến quân thứ, cho biết mà tuân theo và khải hoàn được sớm”.


    Lại dụ bộ Binh : “Ngày nọ, thổ phỉ xuẩn động, nhiều lần đã phái quan quân chia đường tiến đánh. Nay bọn phỉ Thái Nguyên tan vỡ, đã sắp thanh bình. Đạo binh bọn Tạ Quang Cự ở Lạng Sơn cũng có thể hẹn ngày thu phục được Cao Bằng, quét sạch dư đảng. Còn bọn Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ ở Tuyên Quang, gần nay cứ lời tâu báo, cũng đã đánh phá được sào huyệt Vân Trung, hiện đương lùng bắt tên giặc Nông Văn Vân ở núi Ngọc Mạo, tin rằng rồi đây việc có thể xong. Vậy truyền dụ : bọn Lê Văn Đức nếu đã bắt được hoặc chém được Nông Văn Vân làm cho ra án, thì tâu khúc khải ca, đem quân về, cố nhiên là tốt. Ví bằng chưa giết được nghịch Vân, thì lập tức nên liệu để thổ dõng lưu lại chia đường lùng bắt ; và treo giải thưởng : người nào có thể bắt hoặc chém được Nông Văn Vân đem nộp, sẽ thưởng 500 lạng bạc và trao cho hàm quan Ngũ phẩm. Các ngươi lại nên đốt hết nhà ở của Nông Văn Vân và chiêu tập thổ dân khiến cho trở về yên nghiệp. Còn châu Bảo Lạc, cũng sức dân sở tại chia lập xã ấp, theo địa phận, đóng góp thuế khoá, chứ không nên đặt chức Tri châu, để thanh trừ mối lo về sau. Rồi các ngươi lập tức mang binh dõng khải hoàn, để khỏi phải ở lâu, cảm nhiễm lam chướng”.


    Tuần phủ Lạng - Bình Lê Đạo Quảng tiến đến tỉnh thành Lạng Sơn, dâng sớ nói : “Thần đã qua địa phận hai châu Lộc Bình, Yên Bái, có 3 người chức dịch của thổ dân ra thú, đều nói là bị giặc bắt ép phải theo và nói miệng cho làm đốc vận và đội trưởng bên giặc. Nếu thần giam giữ ngay lại sợ lấp mất lối đường về sau, nên đã tạm tha và sai chúng quay vào rừng rú thung lũng dò tìm các người bị bắt ép theo giặc đến tỉnh trình bày và thú tội. Vả lại, binh dõng Hải Dương đã bao ngày gặp mưa, đi xuyên qua rừng, phần nhiều mỏi mệt, xin tạm lưu ở đấy sau vài ngày vỗ về thổ dân, chọn người nào thuộc đường, đắc lực sẽ mang thêm đi để tiện việc sai khiến, rồi sẽ hội đồng cùng đến quân ngay”.


    Vua dụ : “Sau khi bọn phỉ tan vỡ, quan quân kéo đến, thế như chẻ tre. Mưu cơ đánh giặc đã có bọn Tạ Quang Cự điều khiển là đủ rồi. Ngươi nên lưu lại ở Lạng Sơn, gia tâm vỗ về nhân dân khiến được ở yên như cũ. Binh dõng Hải Dương nên thả về ngay, chớ nên cho đi hội tiễu nữa. Đến như bọn ra thú ấy ai là quan chức thổ phỉ quay giáo chống lại quan quân có hiện trạng gian ác rõ ràng, chuẩn cho chém đầu ngay ; còn người nào bị cưỡng ép theo thì tha cho”.


    Cho Vệ uý Tiền phong Hữu vệ Nguyễn Văn Đoài làm Vệ uý Trung nhị quân Vũ lâm.


    Sai các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, Biên Hoà, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên đều chế 1.000 ống phun lửa. Phái những biền binh trong Thần cơ Tiền vệ thông thạo phép chế ống ấy, chia nhau đi chỉ bảo.


    Bắt đầu chế thẻ “Thưởng công ngân bài” (mặt bài khắc 2 chữ “Thưởng công”).


    Vua sai ban cấp cho quân thứ Nam Kỳ 400 thẻ ngân bài, quân thứ Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên ở Bắc Kỳ mỗi nơi đều 200 cái thẻ. Phàm từ khi xuất chinh trở đi, có ai đối địch với giặc, hăng hái ra trận chém được 1 đầu, hay bắt được 1 tên trở lên, không kể là tướng, biền hay binh dõng cũng đều chuẩn cấp cho mỗi người 1 thẻ bài đeo để nêu rõ chiến công. Nếu giặc đã tan vỡ, đuổi mà bắt hoặc chém và 2, 3 người cùng bắt hoặc chém 1 tên giặc, thì không được dự thưởng. Hễ kẻ nào mạo công lĩnh thưởng và không công gì mà mượn hoặc mua để đeo đều theo luật, trị tội nặng.


    Vua dụ : “ấy là ta nghĩ thương đến người đi trận, nên chế cấp thẻ bài này, khiến được đeo mãi để vinh hiển thân mình, khuyến khích người sau. Các Tướng quân, Tham tán, Tổng thống, Tổng đốc nên khéo thể tất ý này, cốt phải tế nhị tinh tường, chớ bỏ sót, chớ lạm thưởng”.


    Lại dụ hạ lệnh : ở Kinh thì do bộ Binh ; ở các tỉnh ngoài thì do Đốc, Phủ, Bố, án điều tra rõ ràng : Quan quân đi trận trong năm nay, hiện đã về Kinh, về tỉnh mà có công trạng như trên thì chuẩn cho cứ thực kê khai danh sách tâu lên, sẽ cấp [ngân bài] cho một loạt.


    Gọi thự Hữu quân Nguyễn Văn Xuân, lĩnh Tổng đốc Nghệ An - Hà Tĩnh về Kinh.


    Bộ Binh của giặc Xiêm đến sóc Đồ Sư, giáp phủ Phủ Lật nước Chân Lạp.


    Quan tỉnh An Giang là bọn Đặng Văn Bằng được tin báo, lập tức phái Mai Văn Đặng, Quản cơ cơ An bình, đem 100 quân tiếp tục đi Nam Vang. Lại tư điều 300 biền binh ở Vĩnh Long đến phòng giữ tỉnh lỵ và phi báo quân thứ Gia Định điều khiển.


    Sớ tâu đến vua. Vua lại hạ lệnh mật dụ các Tướng quân, Tham tán : Nay căn cứ vào lời tiếp tục báo cáo về tình hình biên giới của tỉnh An Giang, nếu quả có việc ấy thật, thì Tống Phước Lương, Nguyễn Văn Trọng, Trần Văn Trí và Hà Duy Phiên phải chia nhau cai quản binh dõng, để phòng thủ luỹ dài. Còn Trần Văn Năng, Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân lập tức đem quan quân và lấy thêm hương dõng của Thái Công Triều, đều 1.500 chia ra cỡi thuyền đi An Giang. Khi đến An Giang, Trần Văn Năng lưu lại đóng giữ ở đấy ; Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân thì vẫn cứ lĩnh một nửa đại binh, thẳng đến đóng giữ Nam Vang.


    Ta đã sắc cho bộ nghĩ soạn tờ tư, ngày nào tờ ấy đến nơi, các ngươi nên phái người đem đến quân Xiêm đóng ở Bắc Tầm Bôn, để bắt bẻ chúng. Nếu chúng khuất phục, rút quân về, cố nhiên là tốt ; nhưng nếu chúng gây chiến trước, xâm phạm đến địa hạt Chân Lạp, thì chuẩn cho việc làm hợp lẽ. Việc này rất quan trọng, nên khéo lựa mà làm. Các ngươi không được làm liều để gây hấn ở biên giới, cũng không được sợ việc, cẩu thả làm cho tắc trách.


    Lại hạ lệnh : tỉnh Gia Định gọi 2.000 hương dõng, tỉnh Vĩnh Long gọi thêm 1.000, An Giang và Định Tường đều gọi thêm 500 lính cộng với số lính gọi ra lần trước, cấp cho tiền, lương, khí giới, sai đi tập trận.


    Đình thần tâu lên vụ án Lê Văn Duyệt giấu riêng các giấy trắng đóng dấu lưu không. Họ nói : “Xét ra : Duyệt khi bị bệnh, sai điển thủ thư ký là bọn Phan Bá Nhã đem các tờ mật chiếu, mật dụ, chỉ truyền và giáo từ, đốt đi hết cả, việc ấy tỏ ra lại càng càn rỡ. Thế mà con hắn là Lê Văn Yến có lòng che giấu, tội ấy đều không trốn được”.


    Vua nói : “Lê Văn Duyệt chuyên quyền làm việc ngang ngược, tâm địa ấy, không còn đáng nói nữa. Nay thuộc hạ là Lê Văn Khôi dám giữ thành làm phản, tự nói là muốn báo thù cho Duyệt, gây nên vụ án lớn phi thường, thì tội Duyệt, dư luận thực khó tha được. Nhưng không phải chỉ có một việc ấy đâu ! Vậy bọn điển thủ Phan Bá Nhã đều phạt tội đồ. Lê Văn Yến, trước hết hãy thu văn bằng tập ấm của hắn đợi sau sẽ có chỉ xử nghĩ. Hết thảy các việc này đều quy vào bản án tội Lê Văn Duyệt”.












    chính biên



    Đệ nhị kỷ - Quyển CXIII



    Thực lục về Thánh tổ nhân hoàng đế





    Quý Tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14 [1833], mùa đông, tháng 12.


    Bộ Hộ bàn tâu về việc duyệt tuyển binh lính sang năm.


    Lệ định về khoá tuyển : Các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam nhằm năm Giáp, năm Kỷ ; tỉnh Bình Định trở vào Nam đến tỉnh Hà Tiên nhằm năm Mậu, năm Quý. Năm ngoái, chia đặt tỉnh hạt, các tỉnh từ Bình Định trở về Nam đều được hoãn đến sang năm ; thì sang năm là năm ngọ, chính là kỳ tuyển duyệt của 15 hạt tự Quảng Bình trở vào Nam. Nhưng nay, từ Biên Hoà đến Hà Tiên có xảy sự biến xin cho tạm hoãn, đợi khi xong việc sẽ tiếp tục làm. Còn như huyện Thuận Thành mới thuộc vào tỉnh Bình Thuận, thuế lệ của dân đã được ban ơn triển hoãn, cũng xin cho đợi kỳ tuyển duyệt, sau sẽ châm chước nghĩ định tâu bày, còn các nơi khác đều theo lệ thi hành.


    Lại nữa, lệ tuyển duyệt ở Hà Nội thuộc Bắc Kỳ, nhằm năm Đinh, năm Nhâm làm khoá tuyển. Ngày nọ vì chia đặt tỉnh hạt, nên hoãn đến năm nay. Khi ấy có 6 huyện Kim Bảng, Duy Tiên, Thượng Phước, Phú Xuyên, Sơn Minh, Hoài An xảy bị tai thương, nên lại hoãn đến sang năm sẽ tiếp tục tuyển duyệt. Vả lại, dân số 6 huyện này chỉ có hơn 15.000 người, không ví như tuyển trường cả một tỉnh được. Lệ trước, mỗi tuyển trường chọn quan văn quan võ từ Tam phẩm trở lên mỗi bên lấy 1 người. Nay xin do đình thần chọn cử 1 viên Lang trung ở Lục bộ sung làm quan Khâm mạng, hội đồng với quan tỉnh làm việc, mà bớt viên quan võ đi. Hạn tuyển là 15 ngày, các lại dịch, biền binh đi theo và các công nhu cung đốn, đều châm chước giảm bớt. Vua chuẩn y lời bàn.


    Tên nghịch phỉ ở Lạng Sơn là Nguyễn Khắc Thước lại hợp bọn với những tên phỉ trốn ở Quảng Yên là lũ Dương Bạ An, Hoàng ất An lén lút nổi lên ở châu Yên (An) Bác, cướp của cải và đồ vật của dân. Giữ đồn An Châu là thổ hào Nông Quang Khanh đánh nhau với giặc không địch được. Tuần phủ Lê Đạo Quảng lập tức phái quân chặn bắt và tâu lên vua biết.


    Vua dụ : “Nguyễn Khắc Thước sau khi đã thua tan nát, lại còn dám thông đồng với tên phỉ trốn thập thò quấy rối, thật rất đáng ghét. Ngươi đã được chỉ cho lưu ở Lạng Sơn, nên khéo điều khiển, đốc sức binh dõng lùng bắt cho được bọn phỉ ấy là công ngươi đấy”.


    Tướng Xiêm là Phọc Nha Mã Kha Thiệp cùng ấp Ma Hạt (em ruột Quốc trưởng nước Vạn Tượng là A Nỗ) đóng quân ở đồn Phố Kham, nói phao lên là sẽ đến xâm lược phủ Trấn Tĩnh. Thổ dân sợ hãi xôn xao. Tuyên uý, Đồng tri hai phủ Trấn Tĩnh, Lạc Biên là bọn Tuân Kỳ Chiêu Bông đem việc ấy báo tỉnh Nghệ An, xin tỉnh phái thêm quan quân đến đàn áp. Nguyên quyền lĩnh Tổng đốc Nguyễn Văn Xuân lại chọn uỷ Nguyễn Đức Long, Vệ uý vệ Trung võ quân Thần sách đem 200 biền binh cùng với binh phái trước, kịp đi đóng giữ đồn Định Biên. Lại sức hai phủ ấy điều động tập họp 6, 7 trăm lính thổ đem đến xứ Tạ Khách, nghiêm phòng hơn nữa. Nếu binh Xiêm qua sông gây sự, thì quan quân lập tức một mặt ra sức đánh giết, một mặt báo tỉnh, để bằng cứ vào đó mà trù biện, làm sớ tâu lên vua biết.


    Vua sai truyền dụ cho Bố, án là bọn Nguyễn Đình Tân, Vũ Đĩnh rằng : “Việc này quan hệ đến bờ cõi biên giới cố nhiên nên chuẩn bị sẵn sàng, nhưng mình không nên gây hấn ra trước. Nay Nguyễn Văn Xuân đã có chỉ về Kinh, thì bọn ngươi và Lãnh binh Nguyễn Hữu Tạo nên gia tâm, làm cho ổn đáng cốt được hợp với cơ sự. Ngươi lại phái người dò thám đích xác, rồi tâu cho ta biết hết tình trạng”.


    Vua dụ Nội các : “Gần nay, cứ lời tâu báo ở Kinh và ở các hạt ngoài Kinh, binh và dân sở tại trước đây theo đạo Gia Tô, nay phần nhiều đã bỏ đạo ấy, bước qua thập tự giá, thì lập tức đã xuống Chỉ tha tội rồi. Ta nghĩ bọn chúng trước bị dị đoan mê hoặc, mới qua một lần huấn thị liền biết thấm thía hối cải lỗi trước, theo ngay chính đạo. Tấm lòng đổi lỗi làm thiện nhanh chóng như thế, rất đáng khen ngợi. Vậy dụ sai Kinh doãn và Đốc, Phủ, Bố, án truyền chỉ bảo họ : nay họ đã thực lòng hối cải, tức là người dân đời thái bình biết theo đường thẳng, triều đình đã thấy rõ rồi. Từ nay, nên theo phận, giữ phép, yên nghiệp làm ăn, chớ lại nảy thói cũ nữa. Các người làng xóm sở tại đều không được châm chọc, chê bai và tạ sự dọa nạt. Nếu ai trái phép, sẽ trị tội”.


    Vệ uý, sung Lãnh binh quan, Tham tán quân vụ ở Lạng Sơn - Cao Bằng là Nguyễn Thọ Tuấn chết. Quan tỉnh Lạng Sơn tâu vua biết.


    Vua dụ bộ Binh : “Nguyễn Thọ Tuấn mới được cất dùng, đã sớm lập được công lao, vừa mới được phong tước nam, không ngờ viên ấy xông pha lam chướng, đến nỗi bị bệnh chết, ta thương tiếc quá chừng ! Vậy, truy tặng cho viên ấy hàm Chưởng cơ, Tòng nhị phẩm, lại chiếu theo ân điển mới phong, phong là Gia Quan nam, cho tên thuỵ là Tráng Nghị và thưởng thêm 3 cây gấm Trung Quốc, 10 tấm lụa, 200 lạng bạc. Ngày đưa đám về, thì từ Lạng Sơn trở đi, các tỉnh đều theo địa phận hạt mình phái binh và dân hộ tống đường bộ, đến tận nguyên quán Quảng Bình để an táng. Rồi lại cho con là Nguyễn Thọ Viên được tập ấm, làm Hiệu uý vệ Cẩm y”.


    Gặp Xiêm xâm lấn phủ Bông Xuy nước Chân Lạp, quân đến vụng Xà Năng (cách thành Nam Vang 1 ngày đường). Quốc vương Chân Lạp là Nặc Chăn nghe tin, hoảng sợ, cỡi chiếc thuyền nhỏ, chạy đến An Giang. Thừa biện Nam Vang biên vụ là Hồ Công Chỉ giữ lại, không được. Quan tỉnh An Giang đem tình hình ấy tâu lên.


    Vua dụ bộ Binh : “Quốc trưởng nước Chân Lạp xưa nay nhút nhát, nhiều khi hoảng sợ dù chỉ là tiếng gió thổi hay hạc kêu. Nhưng tin này có quan hệ đến việc biên giới, không thể không phòng bị ngăn ngừa trước. Vậy truyền dụ cho các Tướng quân và Tham tán là bọn Trần Văn Năng, Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân ở quân thứ Gia Định lập tức theo lời dụ trước, quản lĩnh binh thuyền, kíp đi đến đấy, cho kịp thời cơ. Bọn Tống Phước Lương, Nguyễn Văn Trọng, Trần Văn Trí, Hà Duy Phiên cùng nhau hội đồng lựa tính tình hình đánh hoặc vây, hiện nay ra sao, nêu lưu binh dõng ở lại đấy đủ giúp việc phòng thủ và đánh dẹp. Nếu có thừa sức, thì lựa tính rút bớt binh dõng vẫn đóng ở trường luỹ hoặc lấy thêm 1, 2 nghìn hương dõng ở Gia Định, để tiếp tục phái đi theo bọn Trần Văn Năng, cho mạnh thanh thế. Khi đại đội binh dõng đến An Giang, thì một nửa theo Trần Văn Năng ở lại phòng giữ tại đấy ; một nửa giao cho Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân quản lĩnh, tiến đóng Nam Vang. Nếu quân Xiêm đã đến thì trước nên chuẩn bị, phải hỏi rõ ý chúng định đến làm gì, xem chúng cử động thế nào, rồi tuỳ cơ mà làm, bất tất vội vã đánh nhau, tự mình gây hấn trước. Nếu chúng giả vờ nói là hoà hảo, thì ta cũng nên đặt đồn phòng bị nghiêm cẩn và kíp phi tấu ngay.


    “Nếu ở quân thứ được tin báo, thì Tướng quân Trần Văn Năng, hoặc Tống Phước Lương, hoặc Nguyễn Văn Trọng, viên nào đã đem binh đi trước ; Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân cũng tiếp tục đi ngay ; Tham tán Trần Văn Trí hoặc đã cùng Tướng quân đi rồi, thì Nguyễn Xuân phải cứ lưu lại Gia Định. Còn Trần Văn Năng và Tống Phước Lương cũng nên một người đem binh đi đến. Nguyễn Văn Trọng thì cứ lưu lại ở quân thứ, khiến có cả văn lẫn võ làm Tham tán đại viên, bàn tính việc quân. Đến như Quốc trưởng Chân Lạp thì do An Giang phái người đưa đến tỉnh thành Vĩnh Long, tìm chỗ cho hắn cư trú để được yên lòng”.


    Lại, truyền dụ các tỉnh An Giang, Vĩnh Long và Định Tường gọi thêm hương dõng : mỗi tỉnh 2.000 hoặc 3.000 người để trưng điệu. Số binh ấy nên dồn lại thành cơ, đội. Hạn mỗi đội là 50 người, mỗi cơ là 500 người. Cơ nào cũng đặt tên, rồi chọn lấy người nào làm được việc, đội đặt 1 Ngoại uỷ suất đội, cơ đặt 1 Ngoại uỷ suất cơ, đều được tạm cấp bằng để cho tiện bề cai quản. Suất cơ, mỗi tháng được cấp tiền 2 quan, gạo 1 phương ; Suất đội, tiền 1 quan 5 tiền, gạo 1 phương ; hương dõng, tiền 1 quan, gạo 1 phương.


    Lại dụ các tỉnh Vĩnh Long, Định Tường phát thóc kho xay thành gạo đều 5.000 phương để tải đến An Giang.


    Cho Viên ngoại lang quyền sung Phó lãnh binh là Lê Đại Cương thự hàm án sát sứ, sung làm Lãnh binh tỉnh An Giang. Cho Thái Công Triều được khai phục làm Thành thủ uý. Hai viên này đều được chuẩn cho coi quản hương dõng, theo các Tướng quân, Tham tán sai phái, chia nhau đi An Giang, hoặc ở quân thứ Gia Định, gắng sức làm việc để chuộc lỗi. Còn Lê Văn Tề trước đấy được phái đi hiệu lực và bọn Suất đội trước ở các đội Tả sai, Tả bảo, Minh nghĩa, do Tướng quân, Tham tán cấp bằng cho làm Ngoại uỷ suất đội đều được đem 1 đội hương dõng đi theo quân thứ An Giang làm việc bắt giặc.


    Sai tỉnh Bình Thuận phái các biền binh ở vệ Thần võ mới lập, chuyên chở tiền kho 30.000 quan đến Gia Định, rồi lưu ở đấy theo quân thứ, chia phái đóng ở tấn sở để phòng thủ.


    Tổng thống đạo Lạng - Bình Tạ Quang Cự và Tham tán Vũ Văn Từ thu phục được tỉnh Cao Bằng.


    Trước kia, đại binh từ Lạc Dương tiến đi, đến đâu bọn phỉ cũng đều sợ bóng gió, lẩn trốn cả. Quân ta thu được 1 thớt voi. Kịp khi đến tỉnh thành Cao Bằng, bọn phản nghịch là Bế Văn Cận và Bế Văn Huyền cũng đã trước kéo vài chục quân tàn đi rồi. Phía trong, ngoài thành, nhà cửa quan, dân đều bị tàn phá không còn gì. Duy còn sót lại hành cung và kho tàng ở nơi đồn núi. Bọn Cự lập tức phát cờ đỏ báo tin thắng trận và làm sớ tâu vua nói : “Nguyên Quản cơ cơ Lạng hùng, đi tòng quân trổ sức chuộc tội là Nguyễn Đình Hoảng, Cai đội Nguyễn Đình Cầu, Chánh đội trưởng Suất đội Nguyễn Đình Triều (theo Hoàng Văn Quyền thua trận), Chánh đội trưởng Suất đội cơ Hiệu thuận là Vũ Quang Huy (khi Cao Bằng thất thủ, bị giặc bắt, thoát về được), Thổ tri châu châu Thoát Lãng là Nguyễn Đình Liêm (bỏ châu, tránh giặc), đều biết cố gắng hăng hái, bắt được bọn nguỵ Chánh điều bát là Nguyễn Khắc Thuyên và cha hắn là Nguyễn Khắc Bào, nguỵ Quản cơ là Hoàng Đình Ngữ,
  • Chia sẻ trang này