0060.0091

14/1/16
0060.0091
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    giải nộp. Lại, biền binh các tỉnh trước phái đi trận bị thua lần lượt trốn về, nay theo đi đánh giặc, gắng sức chuộc tội, xin đợi khi yên rồi, sẽ giao tất cả cho quan địa phương đưa vào hàng ngũ”.


    Vua được tin báo, mừng lắm, thưởng người lính trạm cưỡi ngựa lĩnh đệ cờ đỏ, 1 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn ; người lính trạm đi phụ, 1 đồng ngân tiền hạng nhỏ ; thị vệ Trần Văn Kiếm nhận tiếp tuyên bố tin thắng trận, được thưởng 10 đồng ngân tiền hạng lớn và kỷ lục 1 thứ.


    Vua dụ bộ Binh : “Bọn Tạ Quang Cự nhận mệnh lệnh, chuyên việc đánh dẹp, đến đâu không ai địch nổi ; đã đánh giải vây Lạng Sơn. Nay lại thu phục tỉnh thành Cao Bằng, công ấy tốt lắm. Tạ Quang Cự trước đã phong tước bá, Vũ Văn Từ đã phong tước nam. Nay đều thưởng gia quân công 1 cấp. Từ các Lãnh binh đến các Quản cơ dự trận ấy cũng đều thưởng gia quân công 1 cấp ; các Suất đội, đều thưởng gia quân công kỷ lục 2 thứ ; biền binh và thổ dõng đều thưởng tiền và lương bổng cho 1 tháng. Các viên đi hiệu lực và bọn Nguyễn Đình Hoảng đều rộng tha tội trước và gia ơn cho khai phục hàm cũ.


    “Nay hai tỉnh Lạng - Bình, hiện đã thanh bình, nên truyền dụ cho Tạ Quang Cự, trích lấy 1 vệ quân Thần sách và 1.000 cơ binh ở các tỉnh, 5 thớt voi trận, giao Vũ Văn Từ quản lĩnh, nhưng cứ lưu lại trên đất Cao Bằng để tìm bắt bọn tàn phỉ. Còn vệ Tiền nhị quân Vũ lâm rút về lưu ở Sơn Tây ; vệ Dương võ thuộc Trung dinh quân Thần sách rút về lưu ở Hải Dương, sung vào việc đồn thú. Binh, voi các tỉnh đều cho về hàng ngũ. Ngoài ra, Kinh binh và các hạng người tòng chinh đều chuẩn cho theo Tạ Quang Cự nghỉ ngơi vài ngày, rồi đem trước về Kinh chầu hầu. Vũ Văn Từ nên chia phái biền binh đến núi Ngọc Mạo, giáp giới địa phận châu Bảo Lạc ; nếu đã săn bắt được Nông Văn Vân để làm cho ra án rồi thì một mặt báo cho bọn Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ biết để lên đường mang quân về ; một mặt liệu lượng lưu lại độ trên dưới 1.000 các hạng biền binh, mà trước phái đi, thua trận đã thoát về được, theo Bố, án và Lãnh binh ở Cao Bằng để phòng thủ. Rồi lập tức đem biền binh đã phái đi ấy ca khúc khải hoàn”.


    Vua lại truyền dụ bọn Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ : “Nếu đã bắt hoặc chém được Nông Văn Vân, thì theo dụ trước, do đường cũ Tuyên Quang, mà khải hoàn, thì đã đành là hay rồi. Nếu quan quân còn ở địa phận núi Ngọc Mạo chia được lùng bắt, thì khi tiếp được Dụ này, cũng chuẩn cho liệu để ít nhiều thổ binh ở đấy tầm nã phỉ rồi lập tức theo chỗ gần, do đường Cao Bằng đem quân về, hoặc theo đường cũ, tuỳ tiện đấy”.


    Vua lại cho rằng Lạng Sơn cũng là nơi biên thuỳ quan trọng, sau khi binh biến, nên có trọng binh để trấn áp. Vua bèn dụ cho Tham tán Vũ Văn Từ : “Ngày nào việc yên rồi đem quân về, thì rút bớt 1 Quản cơ và 500 biền binh đi trận đó cho lưu lại đóng giữ Lạng Sơn, đợi sau ngày khai ấn sang năm sẽ do tỉnh Bắc Ninh phái toàn cơ Hậu quân đến thay đồn thú”.


    Vua sai bộ Binh đem việc Bắc Kỳ đã yên, thông dụ từ Quảng Trị trở ra Bắc đến Quảng Yên, Quảng Nam trở Nam đến Bình Thuận, khiến cho đều biết. Lại truyền dụ các Tướng quân, Tham tán ở Nam Kỳ, khiến đều hết lòng làm nhiệm vụ bắt giặc, cho sớm xong việc, để cùng mừng cảnh thanh bình.


    Sai thự Ngự sử đạo Định Biên Lê Hữu Bản mang theo thị vệ cùng đi vào 6 tỉnh Nam Kỳ. Đến đâu cũng truyền họp bọn tổng lý, hương thân ((1) Hương thân : các thân sĩ trong làng.1) và bảo rõ họ rằng : “Trước đây, thổ phỉ ở Tuyên Quang thuộc Bắc Kỳ gây sự, lan đến Lạng Sơn, Cao Bằng và Thái Nguyên. Vua nhiều lần đã phái đại binh các lộ tiến đánh. Căn cứ vào tin cờ hồng thắng trận do Tổng thống Tạ Quang Cự, Tham tán Vũ Văn Từ luôn 2 lần đưa đến, thì đã giải vây được tỉnh Lạng Sơn và thu phục được toàn tỉnh Cao Bằng. Lại căn cứ vào lời tâu báo trước đây của Tổng đốc Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ tâu báo : quan quân tiến thẳng đánh phá tổ giặc Vân Trung ; Tuyên Quang đã yên ổn và lời tâu báo của Tổng đốc Nguyễn Đình Phổ thì quan quân đánh dẹp thổ phỉ ở Thái Nguyên, bắt và chém được rất nhiều, phỉ đã tan vỡ hết. Thế là bốn tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng đều bình tĩnh cả, nhân dân các tỉnh Bắc Kỳ đều đã yên ổn vô sự.


    “Còn tên nghịch tặc Nam Kỳ Lê Văn Khôi, cố chết giữ lấy cô thành, cũng sẽ hẹn ngày tru diệt được. Ví thử có người Xiêm nom dòm địa hạt nước Chân Lạp, chẳng qua là chúng tham lợi, quên nghĩa. Thế là chúng trái, ta phải, trời tất ghét chúng mà giúp cho bản triều. Ta đã hạ lệnh cho Tướng quân, Tham tán đem vài vạn đại đội binh, thuyền đến đàn áp, binh phong ta lừng lẫy, chắc người Xiêm quyết không dám vượt bờ cõi mà gây sự. Quân và dân các tỉnh nên yên tâm làm ăn, chăm việc nông tang, chớ có tỏ vẻ nhốn nháo một cách bậy bạ.


    “Khi công việc xong, các ngươi lập tức về Kinh, trình bày ta biết”.


    Vua dụ Nội các : “Nay các hạt Bắc Kỳ đều đã bình tĩnh. Công lớn đã lần lượt hoàn thành. Ta nghĩ : “dân Kinh và dân Thổ đều là con đỏ của triều đình, được hưởng thụ lòng khoan hoà, đức nhân hậu của nhà vua đã lâu năm. Mới rồi vì bọn phản nghịch nổi lên. Gián hoặc có kẻ bị cưỡng ép theo giặc, chẳng qua vì sợ ngọn lửa ác của giặc đó thôi. Sau đó quan quân tiến đánh, thì bọn ấy hoặc vất giáo đầu hàng, hoặc tan về đồng ruộng, không bỏ mất tính cách người dân lương thiện. Vậy, nên mở to ơn rộng, tỏ ra chính sự đổi mới. Vậy khá truyền dụ cho Đốc, Phủ, Bố, án ở các tỉnh Tuyên, Thái, Lạng, Bình : Tất cả những người bị cưỡng ép theo giặc đều cho được đổi mới, chỉ trừ tên thủ nghịch Nông Văn Vân và bọn chính yếu phạm : Nguyễn Quảng Khải, Lưu Trọng Chương, Nông Văn Sĩ, Nông Văn Thạc, Nguyễn Khắc Hoà, Nguyễn Khắc Thước, Bế Văn Cận, Bế Văn Huyền không thể tha tội được, vẫn cứ phải nghiêm ngặt tìm bắt, tra xét, niêm phong tài sản của chúng. Ngoài ra, người nào tuy cấp tiền, lương cho giặc, nhận quan chức của giặc, mà trước đã ra thú, về làm ruộng rồi thì đều được rộng tha, bất tất phải tra bắt tịch ký nữa, khiến cho làng xóm được yên, khỏi sinh phiền nhiễu.


    “Lại hạ lệnh khắp nơi, bảo rõ cho chúng biết triều đình, có lòng nhân, vây lưới, mở 3 mặt ((1) Vua Thang nhà Thương (Trung Quốc) có lòng nhân khi thấy người vây lưới cả 4 mặt để bắt chim, thì bảo mở ra 3 mặt để chim có lối thoát.1), mong chúng được sống mà đổi mới. Chúng phải nên cảm động, phấn khởi : đào giếng, cày ruộng, nộp thuế khoá, làm dân lương thiện thái bình lâu dài. Nếu chúng biết rõ đường tránh tội vạ, tất nhiên cùng hưởng được Phước thanh bình. Tờ dụ này phải viết chân phương vào giấy vàng, dán treo lên, khiến cho mọi người đều biết”.


    Nêu thưởng các bầy tôi đã giữ trọn tiết nghĩa ở Cao Bằng.


    Trước đây, bọn giặc lấn bức tỉnh thành, bọn thự Bố chính Bùi Tăng Huy, án sát Phạm Đình Trạc và Lãnh binh Lạng Sơn Phạm Văn Lưu dời đến đóng giữ đồn núi, bị giặc vây hơn một tháng ; thuốc, đạn và muối ở trong đồn đều gần hết cả, quân lính mỏi mệt đau ốm. Bọn giặc buộc Tuần phủ Hoàng Văn Quyền vào đầu voi bêu lên cho biết và dọa bắt phải hàng, nếu không thì làm cỏ cả thành. Bùi Tăng Huy và Phạm Đình Trạc mới họp văn, võ, binh lính và chức dịch, bảo rằng : “Nay sức đã kiệt, quân cứu viện lại không có, chúng ta thà chết cho toàn tính mệnh quan quân một thành”. Rồi thì các viên ấy đều mặc triều phục, đặt hương án, trông về cửa cung khuyết mà lạy, đoạn, đem triều phục, bằng sắc đốt hết. Bùi Tăng Huy tự thắt cổ chết, Phạm Đình Trạc nằm xuống hố, sai người lấp đất lên ; Phạm Văn Lưu cũng thắt cổ chết. Lãnh binh Cao Bằng Vũ Văn Lợi và bọn người trong đồn đều hàng giặc. Giặc bèn sấn vào thả các tù phạm và hơn 30 tội nhân bị giam về vụ án nghịch Khôi.


    Đến đây, Tổng thống Tạ Quang Cự hỏi rõ tình trạng, tâu vua biết.


    Vua dụ : “Ngày nọ, tỉnh Cao Bằng thất thủ, bọn Bùi Tăng Huy chỉ lấy một cái chết để tắc trách. Ta đã chuẩn cho cứ nguyên chức hàm cũ và cấp tiền tử tuất. Thực là điều phép nước không thể tư vị được. Nay Tạ Quang Cự hỏi hết tình hình việc ấy tâu vào, thì ra bấy giờ, tình thế đã bị cô lập và nguy ngặt, bọn Huy thung dung đi đến tiết nghĩa, không cẩu thả tham sống, thật rất đáng thương. Vậy gia ân đều thưởng 100 lạng bạc và cấp cho gia đình họ. Các quan tỉnh mới đến nhậm chức lập tức sắm sửa quan tài, thu liệm hài cốt, đưa về quê quán chôn cất ; rồi tìm nơi xây dựng đền thờ, sửa lễ, tế một tuần để khuyến khích những người đã tử tiết”.


    Viên quan phạm tội là Dương Tam, trước làm Bố chính Cao Bằng, bị tội lưu, giam ở Lạng Sơn. Đã 72 tuổi, nghe tin quan quân tiến đánh thổ phỉ Cao Bằng Tam bèn trình bày xin với quan tỉnh : “Tuổi tuy đã già, không thể cầm kích, vác giáo, nhưng trước có nhậm chức ở Cao Bằng đã lâu năm, đối với dân tình nơi ấy, vốn đã quen biết. Nếu được đến đấy chiêu tập những người Thổ mà mình quen thuộc để đi tìm bắt bọn nguỵ, thì sức tôi cũng có thể làm được. Vậy thành khẩn xin để con vào chịu giam thay, hạn cho Tam này được phép 3 tháng gắng sức làm việc để chuộc tội”.


    Tuần phủ Lạng - Bình Lê Đạo Quảng vì Tam mà đề đạt lên. Vua thương Tam tuổi già, ra lệnh tha cho và miễn cả việc để con chịu giam cầm thay. Hoặc chuẩn cho Tam thân hành đi hoặc uỷ người thân thuộc có thể dò thám được tên trùm giặc Nông Văn Vân và bọn đầu mục giặc là Bế Văn Cận, Nguyễn Khắc Thước, Nguyễn Khắc Hoà, Nguyễn Khắc Trương, hoặc chính mình bắt được bọn chúng, hoặc báo quan đi bắt : nếu bắt được 1 tên phạm, sẽ tha tội trước ngay ; được 2 tên phạm trở lên, sẽ lại được hậu thưởng và liệu cho quan chức. Nếu nói hão, không nên công trạng gì, thì đã có tội rồi, lại thêm tội nữa.


    Thưởng cấp, kỷ lục và ngân tiền cho đường quan và thuộc viên ở Nội các và Binh bộ có thứ bậc.


    Vua dụ bộ Lại : “Ngày nọ, thổ phỉ ở Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng lén lút nổi lên, ta đã phái quan quân đi đánh dẹp. Công việc bận rộn ; thế mà bộ Binh và Nội các thừa hành chăm chỉ nhanh chóng các việc đều được ổn thoả xong xuôi. Nay cờ đỏ lần lượt báo tin thắng trận. Công lớn đã sắp hoàn thành. Vậy, bọn đường quan bộ Binh là Trương Đăng Quế, Nguyễn Trung Mậu và đường quan ở Nội các là Hà Quyền, Thân Văn Quyền, cho đến các thuộc viên theo làm việc, đều chuẩn cho bộ phân biệt nghị thưởng”.


    Cho Trấn thủ Cao Bằng Vũ Văn Tình quyền sung chức Lãnh binh Cao Bằng, hiệp cùng các Bố, án, Lãnh binh, bàn tính làm việc. Gọi Hồ Bôi, nguyên Phó vệ uý quân Thần sách do đường trạm, về Kinh để tuyển dùng. Bọn Tình, trước đã phái đi tòng chinh ở quân thứ Bắc Kỳ, đến nay nhiệm vụ bắt giặc đã xong, cho nên có mệnh lệnh này.


    Tổng thống đạo Lạng - Bình Tạ Quang Cự tâu : “Thám thính được tin sau khi bọn giặc tan vỡ, tên nghịch phạm Bế Văn Huyền trốn ở xứ Thượng Pha, Hạ Pha hạt Cao Bằng ; Bế Văn Cận trốn ở các miền rừng Linh Quang, Linh Mai hạt Thái Nguyên. Thần đã phái biền binh chia đường đi lùng bắt lũ ấy. Tham tán Vũ Văn Từ đã đem binh và voi lên đường tiến đi Ngọc Mạo để hội tiễu.


    “Thần lại dò hỏi biết tin nguyên Tuần phủ Lạng - Bình Hoàng Văn Quyền bị giặc bắt, bị chúng bức bách đem về Cao Bằng, giặc đã giết hại Quyền vào ngày 11 tháng rồi”. (Thượng Pha, Hạ Pha, Linh Quang, Linh Mai đều là tên xã).


    Sớ tâu lên, vua dụ : “Cho sớm xong việc, rồi lập tức theo dụ trước, đem quân về”.


    Vua lại bảo Nội các : “Trước đây, vì thấy một dải Thái Nguyên hiện đã dẹp yên thổ phỉ, ta đã xuống dụ cho bọn Phạm Văn Điển tâu khúc khải hoàn, đem quân về, lưu Nguyễn Đình Phổ ở đấy, chiêu an, phủ dụ nhân dân. Vả lại, gần đây sắp xếp, tưởng đã đâu vào đấy rồi. Vậy, nên truyền dụ Nguyễn Đình Phổ : ngày nào tiếp được tờ dụ, lập tức liệu trích lấy 5, 6 trăm cơ binh lưu lại đóng giữ Thái Nguyên. Còn số biền binh đã đem đi trước thì cho tấu khúc thắng trận, kéo về Bắc Ninh. Những biền binh các tỉnh theo đi đánh trận đều trả về hàng ngũ cũ. Vua lại truyền chỉ cho bọn Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ : “Nếu đại binh đã đi đường cũ, về đến Tuyên Quang, hoặc do đường Cao Bằng về tới Lạng Sơn thì lập tức trích trước lấy Trần Văn Lộc quyền sung Lãnh binh đang đi trận ấy và chuyển tờ tư cho Hoàng Văn Trạm quyền sung Lãnh binh Sơn Tây, đều do đường trạm, về Kinh đợi chỉ lựa dùng. Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ đều về tỉnh cung chức. Còn Tuyển phong Hữu vệ đi tòng chinh, thì rút về cho đóng ở Sơn Tây để thay đồn thú. Ngoài ra, được tuỳ tiện trả các quân về hàng ngũ cũ. Lại, 2 vệ Tiền bảo nhị và Đinh võ hiện đang đồn thú Sơn Tây, đợi hai vệ Vũ lâm Tiền nhị và Tuyển phong hữu đến thay, thì lập tức rút về Kinh và về hàng ngũ Nghệ An. Đến như vệ Tiền phong hậu trước đồn thú ở Hà Nội cũng rút về hàng ngũ ở Kinh, còn hai vệ Vũ lâm Trung nhất và Trung nhị thì vẫn cứ lưu thú ở tỉnh ấy”.


    Cho Phó vệ uý Tiền nhất quân Vũ lâm Lê Văn Quý tạm quyền sung chức Thống chế và phái ra trận : Phó vệ uý vệ Vũ lâm Tả nhất Tôn Thất Tường ; Phó vệ uý vệ Tiền phong tiền Tăng Viết Thanh ; Phó vệ uý vệ Long võ hữu Phan Văn Điện.


    Lại cho các Cai đội : Nguyễn Văn Dương quyền sung Phó vệ uý vệ Tiền nhất ; Nguyễn Văn Triệu quyền sung Phó vệ uý vệ Tả nhất ; Hoàng Phước Lợi quyền sung Phó vệ uý vệ Tiền phong tiền ; Hồ Văn Biện quyền sung Phó vệ uý vệ Long võ hữu: đều đem vệ binh, cùng với Đỗ Chiêm Phác, Phó vệ uý Thuỷ quân, theo Lê Văn Quý chia ngồi hơn 30 chiếc thuyền các hiệu phối hợp với binh Hộ vệ Cảnh tất, đi đến quân thứ Gia Định để theo các Tướng quân làm Tham tán việc quân. Lại phát các hạng súng, đạn và quân nhu tải theo đoàn thuyền, chuyển giao cho đủ dùng :


    (Xung tiêu pháo 10 cỗ, thuốc đạn kèm theo súng ấy đều 50 phát. Phách sơn pháo 10 cỗ, luân xa pháo 5 cỗ, quá sơn pháo 100 cỗ, đạn kèm theo các súng ấy đều 100 viên. Thuốc súng 60.000 cân 8 phân 8 ly. Đạn gang 30.000 viên. Đạn hồ điệp bằng đồng 745 bộ. Súng điểu sang và súng trường đều 1.000 khẩu. ống phun lửa 1.400 chiếc. Nguyên trước đem đi các hạng đại bác, trước đã đem đến, đường kính rộng 3 tấc 2 phân đến 2 tấc 1 phân, thì nay phát thêm số đạn dùng theo súng ấy, mỗi cỗ súng 50 viên ; hạng súng đường kính rộng 1 tấc 9 phân đến 8 phân, thì phát thêm số đạn dùng theo súng ấy, mỗi cỗ súng 30 viên. Tiền kho ở Kinh 60.000 quan. Các thứ ấy đều giao quân thứ. Các vải màu và sại ((1) Sại : một thứ lụa nổi cát và có vân hình ô vuông.1) ta màu đỏ 8.000 tấm, giao tỉnh Gia Định may quần áo để chiếu theo tiêu chuẩn và phân phát. Kinh binh đi tòng chinh ấy, mỗi người đều 1 chiếc áo kép lót vải dày mổ bụng và 1 cái quần sại ta. Binh dõng các tỉnh, mỗi người một chiếc áo đơn bằng vải và 1 quần vải nâu. Hương dõng các tỉnh Nam Kỳ hễ là người sở tại, thì không được dự. Thứ tây sâm hồng nhục hạng nhì 3 cân, các vị thuốc theo bài bình vị nguyên thọ hơn 10 đơn và các thứ thuốc viên. Phái 2 y sinh và 1 ngoại khoa ở Thái y viện đến để điều trị. Lại phát tôm khô, cá mắm khô, giao Tướng quân, Tham tán chia phát cho binh dõng).


    Cho Phó vệ uý vệ Cẩm y Đoàn Dũ làm Vệ uý, hiệp cùng Lê Văn Quý đem binh thuyền đi theo bắt giặc. Trương Phước Đĩnh, Hữu thị lang bộ Lễ sung làm việc Nội các ; Tả thị lang bộ Binh Trần Chấn quản lý Nội vụ phủ ; cùng chuyển cho cùng cai quản binh thuyền đi đến quân thứ, vẫn giữ chức Tán tương cơ vụ như cũ.


    Phước Đĩnh xin mang thuộc viên là Kiểm thảo Hoàng Công Huyến, Trần Chấn xin mang theo thuộc viên là Viên ngoại lang Nguyễn Văn Bản. Vua đều chuẩn y cả.


    Lại cho Phó vệ uý ngạch ngoại Thuỷ quân Nguyễn Văn Cần làm Phó vệ uý vệ Trung thuỷ và cho Đoàn Khác, viên quan bị cách, đã đi trổ sức làm việc để chuộc tội, được khai phục làm Cai đội Thuỷ quân, cùng nhau chia ngồi thuyền binh, đi lệ thuộc vào quân thứ An Giang để theo làm việc quân.


    Người con Nguyễn Đức Xuyên, Quận công Chưởng Tượng quân là Nguyễn Đức Hựu, tình nguyện đi làm việc để góp phần khó nhọc. Quan phủ Thừa Thiên đề đạt thay cho.


    Vua khen, ra lệnh cho phối hợp với binh thuyền theo đi Gia Định, do Tướng quân và Tham tán cấp bằng, cho tạm quyền đem 1 đội quân đi trận. Lại có Tú tài Nguyễn Hữu Nghiêm, tự xin thử làm súng để dùng vào việc binh. Vua cũng cấp cho 10 lạng bạc làm lộ phí, sai cùng với 3 người đồ đệ, theo đi quân thứ An Giang chế tạo đại hoả pháo, hoả khí và hoả yên, nếu có thực hiệu rõ rệt, thì chuẩn cho Tướng quân và Tham tán tâu lên, sẽ lại khen thưởng thêm.


    Cho Thị lang bộ Lễ Thân Văn Quyền sung làm công việc Nội các ; Lang trung Nội vụ Nguyễn Văn Đức tạm quyền giữ ấn quan phòng của Nội vụ phủ.


    Tỉnh Quảng Ngãi, trước đây, vì vụ lúa chiêm bị tổn hại, giá gạo lên cao. Có 3 người phú hộ tình nguyện bỏ của ra giúp người nghèo khó (thóc 550 hộc, tiền 400 quan). Quan tỉnh tâu lên. Vua cho bộ Hộ bàn thưởng ; cấp mũ áo cửu phẩm và miễn cho thuế thân, sai dịch.


    Bộ Binh tâu : “Mộ binh ở các vệ trong Kinh được dự vào ngạch quân cấm lữ, nhờ ơn triều đình nuôi nấng, chẳng khác gì hạng giản binh, vậy mà lại có những đồ lười biếng thường trốn tránh. Sau khi trốn về, chúng đã lấy làm vừa may thoát được chân lính ; dân xã cũng lợi vì có chúng cùng chịu tạp dịch, nên không chịu đưa chúng giao trả về hàng ngũ. Chúng thường lấy thế làm đắc sách, nên số lính trốn, thiếu, ngày một nhiều. Tệ này phải nên sửa đổi. Vậy xin phàm những mộ binh các vệ ở Kinh, gián hoặc có kẻ nào trốn tránh, thì cứ theo nguyên quán, trách cứ phải tầm nã ; không bắt được, thì cứ trách hỏi cha mẹ vợ con họ. Nếu ai dám ẩn giấu, sẽ xử tội. Nhưng nay, đương có việc sai phái, xin nên cho truyền bảo trước : các binh trốn từ tháng 11 năm nay, bất cứ là sơ phạm, tái phạm hay tam phạm, hạn từ năm nay đến tháng 2 sang năm là cùng, nếu biết đem thân ra thú, thì lập tức theo như trên đây mà xử lý. Ví bằng còn cố ý trốn tránh và khi sai phái bỏ trốn hễ bắt được thì trị tội ngay để răn bảo kẻ khác. Còn như giản binh ở các hạt cũng nhiều người cáo bệnh trốn việc, vậy xin do quan địa phương xét nghiệm : kẻ nào bệnh nặng thì bắt chọn người điền vào ; kẻ nào bệnh nhẹ, giao trả hàng ngũ, cho đủ ngạch binh”. Vua chuẩn y lời tâu.


    Binh nước Xiêm tiến đóng đồn Nùng Khai (thuộc nước Vạn Tượng, giáp đầu địa phận Trấn Ninh).


    Bố chính Nghệ An là bọn Nguyễn Đình Tân, Vũ Đĩnh căn cứ vào lời thám báo của phủ Trấn Ninh làm sớ tâu lên, nói : “Nơi ấy từ xưa không có quân Xiêm ở đấy ; hoặc giả trong nước nó có việc phái đi gọi binh (người Thổ, có kẻ nói : Tây dương đánh nước Xiêm, lấy xứ Xán Khả Xu Linh) hay là nó chiêu dỗ dân thổ man, mưu đồ gây sự. Thực khó ở xa mà lượng đoán được tình hình. Bọn thần đã uỷ vài người thuộc hạ ở bản tỉnh thông thạo tình hình biên giới, hiệp cùng với người do phủ phái đi, ăn mặc giả dạng người Man, đến tận nơi dò thám đích xác, để tiện dựa vào đấy mà điều khiển”.


    Vua cho là phải, lại sai Nội các truyền dụ rằng : “Trấn Ninh có ba ngả đường thông với nước Vạn Tượng, phải nên chọn chỗ xung yếu, đặt đồn giữ hiểm, để sự dự bị phòng thủ được vững mạnh. Bọn ngươi phải chuyển sức cho bọn Phòng ngự sứ Kiệu Huống và Đồng tri Khâm Khuyết lập tức tìm xem ở đầu địa giới các ngả đường ấy, nơi nào núi và khe có hình thế hiểm yếu, thì dựng rào bằng gỗ, đào hào sâu, đắp luỹ cao, mé ngoài cắm chông chà, rồi chia giao vài trăm dân thổ đóng giữ. Nếu ngoài biên không xảy ra sự gì, thì bức thành kiên cố ấy cũng đủ làm cho biên giới mạnh lên. Nếu có biến động, thì binh ta có chỗ hiểm để dựa, dễ bề phòng ngự, tự có cái thế một người giữ hiểm, chống nổi nghìn người. Thực là công việc khẩn yếu, các ngươi phải khéo lo toan”.


    Thuỷ binh giặc Xiêm đến hải phận Lam Dữ.


    Tuần phủ Hà Tiên là Trịnh Đường được tin thám báo, lập tức chia phái lính tỉnh chẹn giữ các đường xung yếu thuỷ và lục, lại phi tư cho quân thứ Gia Định phái thêm binh thuyền phòng giữ, rồi phi tấu lên.


    Vua dụ bộ Binh : “ý hướng người Xiêm, tuy chưa thể biết, nhưng cũng không thể hoãn việc dự phòng được. Trước đây, ta cũng đã xuống dụ các Tướng quân, Tham tán và tỉnh An Giang liệu lượng điều bát binh thuyền, súng ống khí giới phái đi đóng giữ Hà Tiên rồi. Vả lại, việc này, ở quân thứ đã được tin báo trước, đáng lý ra các viên Tướng quân và Tham tán phải cần kíp đem binh đi đến trấn áp mới phải; thế mà lại chần chừ nghe ngóng ; nếu xảy ra sự biến thì há chẳng để lỡ việc ư ? Vậy truyền chỉ nghiêm quở các Tướng quân và Tham tán. Nay phải liệu rõ sự cơ, điều thêm binh dõng, thuyền bè khiến cùng binh lính phái trước, cốt đủ trên dưới 1.000 người, kíp đến Hà Tiên, phòng giữ nghiêm cẩn.


    “Nếu quả thật có quân Xiêm đến đất ta, thì phải trước phái người đưa thư đến vặn hỏi người Xiêm đem quân đến đây là vì ý gì. Xem chúng đáp lại thế nào ? Nếu chúng trả lời bằng giọng hoà hảo, thì tuỳ nghi biện bác, khiến chúng đuối lý, phải tự rút lui, ấy là kế hay nhất. Nếu chúng tham việc gieo tai rắc hoạ, gây hấn ra trước, thì hãy nên tuỳ cơ mà đánh. Nhân đó, vua sắc sai bộ Binh thảo sẵn bức thư để đưa quân Xiêm. Lại dụ Trịnh Đường gọi 1.000 hoặc 5, 6 trăm hương dõng hợp sức cùng phòng giữ”.


    Cho Phó vệ uý Tiền phong tiền Lê Văn Phú làm Phó vệ uý vệ Cẩm y, chuyên coi các đội túc trực và ty Trấn phủ, vẫn kiêm lĩnh chức Thị vệ ; Phó vệ uý vệ Ban trực hậu Trần Bá Vinh đổi bổ làm Phó vệ uý vệ Long võ hậu ; thự Phó vệ uý vệ Long võ hậu Hồ Văn Thập đổi sang thự Phó vệ uý vệ Ban trực hậu lập tức đi đến Trấn Hải đài, quản lĩnh biền binh thay việc phòng thủ. Còn Phó vệ uý vệ Ban trực tiền Trần Văn Hùng thì cho rút về để sai phái.


    Cho Thống chế Thần sách tả dinh Hồ Văn Khuê sung làm Tham tán đại thần, do đường trạm đi trước đến Nam Kỳ thương lượng với các Tướng quân và Tham tán, hoặc lưu ở Gia Định, hoặc đi An Giang, chia coi binh dõng, họp sức cùng làm việc quân. Lại phái Vệ uý vệ Tả nhị quân Vũ lâm Nguyễn Văn Thận, Phó vệ uý vệ Long võ hậu Trần Bá Vinh, Phó vệ uý vệ Tiền phong trung Đỗ Văn Sửu, Phó vệ uý vệ Ban trực tiền Trần Văn Hùng ; lại cho Cai đội : Nguyễn Văn Dụ quyền sung Phó vệ uý vệ Tả nhị, Vũ Văn Trí quyền sung Phó vệ uý vệ Long võ hậu, Nguyễn Văn Nghị quyền sung Phó vệ uý vệ Tiền phong trung, Tôn Thất Tê quyền sung Phó vệ uý vệ Ban trực tiền, Ngô Tất Khoa quyền sung Phó vệ uý vệ Thần cơ trung. Các viên ấy đều coi quản vệ binh, chia ra lên đường bộ, tiến đi Gia Định, theo các Tướng quân và Tham tán sai phái. Còn biền binh vệ Thần cơ trung, khi đến quân thứ, cho thuộc dưới quyền coi quản của thự Phó vệ uý Vũ Viết Tuấn của bản vệ.


    Hồ Văn Khuê tâu nói : “Cai đội vệ Thần cơ Nguyễn Văn Khách, Đội trưởng Tống Văn Hoá đều hơi am hiểu phép bắn đại bác, xin đem theo đi để sai khiến”. Vua chuẩn y.


    Lại thấy thuyền ở tỉnh Bình Thuận cùng các hạng thuyền ở Kinh phái đi số thừa còn nhiều, vua dụ quan tỉnh sửa sang chuẩn bị buồm và cột buồm ; thả trước xuống bến nước đợi biền binh do Kinh phái qua tỉnh, sẽ lập tức truyền chỉ sức sai phối hợp vào thuyền, cùng đi đến quân thứ ; còn thì cứ do đường bộ tiến theo, để cho sức quân đỡ phải nhọc mệt.


    Sai Thống chế Thần sách Hữu dinh Tôn Thất Bằng quyền lãnh ấn triện Tả dinh.


    Thấy đại đội quan quân, thuyền bè, thuỷ, lục đều tiến, vua sai Hữu ty bày đàn ở ngoài Nam Giao Kinh thành, sắm đủ lễ phẩm tam sinh ((1) Tam sinh : trâu bò, dê, lợn.1), phái đường quan bộ Binh đến tế thần cờ, thần súng. Lại phái Công bộ và Kinh doãn chia nhau đến hai miếu Long vương, Phong bá ở biển nam, đều làm trâu để tế. Bấy giờ mưa rồi lại hửng tạnh, nhà vua bảo thị thần : “Từ xưa, dùng binh cũng bói xem các thiên thời, địa lợi và nhân hoà mà thôi. Nay thuỷ, lục đều xuất phát, mà trời hửng tạnh, thế chẳng phải là được thiên thời ư ? Gia Định, đất nhiều cỏ rậm, sông nhiều chi phái ; quân Xiêm ở xa đến, chắc không thông thạo bằng quân ta, thế chẳng là được địa lợi ư ? Quân Xiêm tàn ngược, mọi người đều ghét cay ghét đắng, hương dõng các tỉnh đều vui lòng được triều đình dùng, thế chẳng phải là được nhân hoà ư ? Xem thế, thì giặc Xiêm không đáng lo”. Sau đó gió lặng, sóng yên, quân trẩy thuận tiện. Vua lại sai bộ Lễ đến 2 miếu Long vương và Phong bá ở biển nam làm lễ tạ.


    Tả thị lang bộ Hộ Dương Văn Phong từ Nam Kỳ về, tâu nói : “Đàn ông, đàn bà của bọn giặc ở trong thành, ra hàng ngày càng nhiều, mà các Tướng quân và Tham tán đều tống cả một loạt đến ty án sát Gia Định để giam cầm !”.


    Vua nói : “Bọn chúng đều là những kẻ bị cưỡng ép theo giặc nay đã cải tà, quy chính, nên rộng tha ngay, đều cho đổi mới. Trước ta đã sắc sai bộ thông tư bảo làm rồi. Nay còn như thế, há chẳng làm tuyệt đường đối với những kẻ muốn đầu hàng ư ? Vậy truyền dụ cho các Tướng quân và Tham tán : khi tờ dụ đến nơi lập tức phải đem những người đã đầu hàng từ trước đến sau, phụ nữ, trẻ con, già yếu thì tha cho về nhà, người mạnh khoẻ thì cho sáp nhập đội ngũ ngay, chiếu theo lệ binh lính hằng tháng cấp tiền và gạo, khiến cho gắng sức làm việc để chuộc tội và cấp cho quần áo tốt đẹp, để cùng với phụ nữ từ trong thành mới ra hàng, hằng ngày ra lệnh cho đến đầu nơi phụ quách kêu gọi người trong thành nếu sớm biết quay đầu ra thú, tất sẽ được đãi khỏi tội chết, lại được đoàn tụ với vợ con, khiến chúng rủ nhau đầu hàng, để phá mưu gian và cô lập bọn giặc”.


    Hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Khoa Minh nhân tâu : “Bọn quân và dân các tỉnh Nam Kỳ, trước đây bị giặc ép theo, nay ra thú, được tản về, lại bị quan địa phương nhất khái bắt bớ tra xét, sợ sinh ra nhiều sự phiền luỵ !”.


    Vua bảo Nội các : “Người Gia Định vốn có tiếng là trung nghĩa. Ngày nọ, nghịch Khôi gây biến, duy có bọn Hồi lương ((1) Hồi lương : những người phạm tội, bị tù, sau được tha, dồn làm đội quân, gọi là đội Hồi lương, đóng ở Gia Định.1) và người đạo Gia Tô ngả theo thôi. Còn dân hạt ấy hoặc giả có kẻ bị giặc ép theo, chứ không phải cam tâm theo giặc. Thế mà sở tại nhất khái cho là đảng giặc, bắt bớ tra xét, dây dưa liên luỵ, vậy muốn lòng người không dao động được ư ? Vả lại, kẻ bị hiếp tòng, không bị trị tội, chính sách vương giả vẫn cho điều đó là cần nhất. Ta từng đã xuống dụ rõ ràng, thế mà các hạt còn thi hành như thế, thật lỗi vì câu nệ quá lắm ! Từ trước đến nay, chưa ai đề đạt cho Trẫm biết, nay Nguyễn Khoa Minh biết nhân việc, tâu rõ, thực đáng khen thưởng. Vậy thưởng cho 1 đồng kim tiền Phi long hạng lớn và 10 tấm lụa màu, để khuyến khích những bầy tôi biết làm nhiệm vụ can ngăn”.


    Vua bèn ra lệnh truyền dụ cho Đốc, Phủ, Bố, án 6 tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên. Phàm những lại viên, nho sĩ, tổng lý, quân dân trước đã bị giặc ép theo, nhân danh mục của giặc ai đã ra thú, đều được tha tội và vẫn cho theo làm chức việc như cũ, hoặc tha về yên nghiệp. Ai đã được về thôn quê rồi, mà vì có người cáo tố, lại bị bắt, cũng lập tức tha ra, cho làm lính, phát đi quân thứ An Giang để sai phái, gắng sức làm việc chuộc tội. Sau này có loại giống như thế, thì cứ chiếu theo dụ này mà làm, bất tất phải trách cứ nã bắt.


    Thưởng quần lụa và trừu cho từ Tướng quân trở xuống đến Chánh, Phó quản cơ ở quân thứ Gia Định, có thứ bậc khác nhau. Suất đội, Hiệu uý lần trước chưa được thưởng áo rét và bọn Suất cơ, Suất đội hương dõng mới đặt, đều cấp cho 1 áo, 1 quần, lại thưởng khắp cho Tướng quân đến binh dõng tiền lương 1 tháng.


    Hơn 100 chiếc binh thuyền giặc Xiêm xâm phạm tỉnh Hà Tiên : hoặc từ cửa biển Kim Dữ tiến đến ; hoặc do sông nhánh Thị Lý đổ bộ.
  • Chia sẻ trang này