0060.0093

14/1/16
0060.0093
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    - Vũ lâm dinh : Có Tả dực và Hữu dực lúc ở trại thì canh giữ tuần phòng, lúc ra trận thì xung phong chống giặc cùng với vệ Cẩm y và vệ Loan giá đều là thân binh. Thống chế chia coi chính lệnh Tả dực và Hữu dực. Sự ngăn cấm phải nghiêm túc, sự phòng ngự phải vững vàng để việc bảo vệ được hùng mạnh. Từ Vệ uý trở xuống đều thuộc vào đó.


    Bốn dinh Thần cơ, Tiền phong, Long võ, Hổ oai và năm dinh Thần sách, trung, tiền, tả, hữu, hậu đều là Cấm binh. Chính lệnh mỗi dinh đều do Đô thống coi giữ. Chỉnh đốn quân ngũ để nghiêm sự túc vệ. Thống chế theo mệnh lệnh của Đô thống giúp việc quân chánh. Từ Vệ uý trở xuống đều thuộc vào đó.


    - Thượng trà viện : Chuyên giữ các thức chè rượu, có Viện sứ trông coi và Phó sứ làm phó phụ.


    - Kim sang đội, Ngân sang đội : Đều chuyên giữ súng điểu sang để hỗ tòng hộ vệ nhà vua.


    - Thượng thiện đội : Phàm sự cung phụng đồ ngọc thực quý báu trong nhà vua, đều chuẩn theo cách thức và độ số mà cung biện. Người quản lĩnh đội này là do mệnh vua lựa chọn, không có nhất định ở viên quan nào.


    - Các đội Hoà thanh thự : Phàm tuyên dương lục luật((1) Lục luật : Hoàng chung, Thái thốc, Cô tiến, Di tân, Di tắc, Vô dịch.1) và tiết tấu bát âm đều thuộc về thự Hoà thanh : người quản lĩnh do mệnh lệnh vua chọn ra, không nhất định ở viên quan nào.


    - Tài hoa đội : Chuyên coi việc trồng trọt.


    - Thượng tứ viện : Tổng lý công việc các tàu ngựa nhà vua. Phàm các việc nên dùng ngựa để cung ứng túc trực hay hỗ tòng xa giá đều thuộc vào viện Thượng tứ. Viện phải hiệp đồng với Thái bộc tự thường chăm sóc thêm vào. Có viện sứ coi quản công việc trong viện. Lệ thuộc vào đó có 3 vệ Kiêu kỵ, Phi kỵ và Khinh kỵ.


    - Các vệ Kinh tượng : Phải trông nom sửa sang mọi việc về Tượng chính. Chức quản lĩnh vệ này là do mệnh vua lựa chọn, không có nhất định là viên quan nào. Khi năm quân ở yên thì chuyên cần huấn luyện, lúc ra trận thì xung phong chống địch.


    - Đô thống phủ, Chưởng phủ sự : Mỗi Đô thống phủ đều coi mọi chính lệnh trong một quân. Tiết chế phải nghiêm minh để quân chính được nghiêm túc. Thống chế theo lệnh Đô thống để giúp việc quân chính các vệ, các cơ đều lệ thuộc cả.


    - Thuỷ quân : Coi mọi việc về chiến thuyền và chiến hạm, dùng Đô thống Chưởng phủ sự để quản lĩnh. Thống chế làm phó phụ để giúp việc. Từ Vệ uý trở xuống đều lệ thuộc cả. Các chức sự trong vệ Nội thuỷ và ngành thủy.


    - Nội thuỷ vệ : Chức sự của vệ này cũng giống thuỷ quân. Hằng ngày lại gánh nước trong để cung tiến.


    - Kinh thành Đề đốc : Coi việc tuần phòng trong Kinh sư, tra xét kẻ gian phi, cấm chứa chấp kẻ trộm cắp, vâng mệnh nhà vua, chọn cử ra, kiêm lý cả việc phủ Thừa Thiên, hội đồng với Kinh doãn bàn tính làm việc.


    - Hộ thành Binh mã ty : Thuộc quyền Đề đốc quản lĩnh. Binh mã sứ coi mọi việc trong bản ty có viên phó sứ giúp việc. Các thuộc viên có Chủ sự, Tư vụ, Bát, Cửu phẩm và Vị nhập lưu thư lại.


    - Giám thành vệ : Chuyên giữ việc vẽ bản đồ và chỉ bảo kiểu mẫu cách thức kiến trúc.


    - Võng thành vệ : Chuyên giữ võng thành và việc săn bắt. Những vệ này đều thuộc về ty Binh mã.


    - Các vệ Hộ lăng : Giữ việc thờ cúng hương hoả, và trồng các loại cây tùng cây thu. Phải đốc suất thuộc hạ giữ gìn trông nom.


    - Các đội Lục kiên : Đều thuộc Lục bộ sai khiến.


    - Các đội Lý thiện ty : Phàm lễ phẩm để tế tự, món quý trong yến tiệc, nhất thiết mọi việc nấu nướng đều phải liệu lý cả. Người quản lĩnh do mệnh vua lựa chọn không có nhất định là viên quan nào.


    - Thành thủ uý : Chuyên giữ then khoá, đóng, mở cửa thành.


    - Các đội tuần thành : Chuyên coi việc tuần tiễu thành quách.


    - Các vệ, các cơ, các đội ở Kinh thành : Vệ thì có Vệ uý và Phó vệ uý, cơ thì có Quản cơ và Phó quản cơ, đội thì có Cai đội, Suất đội và Suất thập, để cai quản hàng ngũ quân đội. Lại có Tri bạ, Bát, Cửu phẩm, Vị nhập lưu thư lại để trông nom giữ gìn sổ sách.


    - Các quan, tấn, thủ ngự : Coi giữ cấm lệnh để phòng kẻ gian tế, thuộc hạ có Bát, Cửu phẩm thư lại.


    - Các trạm : Đội trưởng và Thứ đội trưởng cùng đốc suất lính trạm thừa hành những việc bưu chính.


    - Các kho ở tỉnh : Đội trưởng, Thứ đội trưởng cùng đốc suất binh đội để giữ của công.


    - Các tượng cục : Chánh phó tri tượng đem thợ cả đốc suất, trông coi trong cục của mình và thuộc dưới quyền bộ Công.


    - Các Thiên hộ, Phó thiên hộ, Bát, Cửu phẩm bá hộ : Đều theo quyền quan quản hạt sai phái.


    - Các Hộ trưởng các hộ : Đều coi giữ sổ sách nhân đinh trong hộ, để đóng thuế khoá cho nhà nước.


    - Khinh xa đô uý, Kiêu kỵ đô uý, Kỵ đô úy, Phi kỵ uý, Ân kỵ uý, Phụng ân uý, Thừa ân uý : Đều là tập ấm, không có thực quyền làm việc.


    - Các chức thổ quan : Phàm cương giới các phiên di, quân dân các bộ lạc đều thuộc quyền coi giữ. Kính giữ chức sự tuân theo sự ước thúc của triều đình. Các Tuyên uý sứ, Tuyên uý phó sứ, Tuyên uý đồng tri, Phòng ngự sứ, Phòng ngự đồng tri, thổ Tri phủ, thổ Tri châu, thổ Tri huyện, thổ Huyện thừa, thổ Lại mục, Thổ binh các chi Chưởng chi, Phó chi, Cai đội, Suất thập đều đốc suất các thuộc hạ theo sự điều khiển của Thượng ty quản hạt).


    Bãi lò nung gạch ngói.


    Vua dụ Nội các rằng : “Tự trước đến nay, hàng năm thường có mở lò nung gạch ngói, chính vì cần dùng cho việc doanh tạo kiến trúc, nên không thể không dùng sức dân để làm. Đó thực là một việc bất đắc dĩ, nay các công trình kiến thiết đều đã yên cả, mà gạch ngói lưu trữ còn nhiều, vậy từ nay sang năm chuẩn cho lập tức đình chỉ việc lập lò nung gạch ngói”.


    Giặc Xiêm xâm lấn thành Nam Vang. Quân và dân nước Chân Lạp sợ hãi bối rối tản ra bốn ngả. Binh thuyền do tỉnh An Giang hai lần phái đi vì sóng gió ngăn trở, không thể tiến được. Thừa biện Nam Vang biện vụ là Hồ Công Chỉ cho rằng quân đồn thú của mình ít và yếu, bèn rút lui. Thành Nam Vang do đấy bị thất thủ. Bố chính An Giang Đặng Văn Bằng và án sát Bùi Văn Lý mới bàn nhau uỷ cho Lãnh binh Nguyễn Đăng Huyên thân đốc binh thuyền đã phái đi đánh giặc. Bỗng gặp có thư cáo cấp của tỉnh Hà Tiên đến, liền chuyển ngay thuyền binh do đường sông Vĩnh Tế tiến lên để tiếp ứng. Khi vừa đến cửa sông thì đã thấy binh thuyền của bọn Tuần phủ Trịnh Đường đóng ở đấy, bèn chia đóng đồn trại để làm thế ỷ giốc, rồi một mặt phi trình về quân thứ Gia Định xin quân cứu viện và báo cho các tỉnh Vĩnh Long, Định Tường đem quân đi phòng thủ theo địa phận hạt mình, một mặt phi tấu lên triều đình.


    Vua hạ dụ quở rằng các Tướng quân và Tham tán ở quân thứ Gia Định rằng : “Nước Xiêm âm mưu xâm lấn bờ cõi quân ta được tin báo đã lâu rồi, thế mà các ngươi coi như không nghe thấy, không sớm đem quân đi chống giữ, vậy thử hỏi các ngươi vâng mệnh chuyên việc chinh phạt, há nên ngồi nhìn để lỡ cơ nghi mà không thi thố được một chút mưu kế gì ư ? Sự thất thủ ở ngoài biên như thế, ấy lỗi tại ai ? Vậy các Tướng quân Trần Văn Năng, Tống Phước Lương, Nguyễn Văn Trọng, các Tham tán : Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân, Trần Văn Tri đều giáng 2 cấp, Tuần phủ Hà Duy Phiên giáng 1 cấp, nhưng chuẩn cho ghi tội vào sổ sách.


    “Nay người Xiêm bỏ bạn chuốc thù, manh tâm gây hấn, rõ ràng lỗi ở chúng thì không thể nói đến cuộc giảng hoà với chúng nữa rồi ! Vậy, các ngươi, Trần Văn Năng, Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân, phải theo ngay dụ trước, đem 4, 5 nghìn hương dõng, chia đi các thuyền, kéo ra An Giang, cốt sao giết lui được quân Xiêm để chuộc lỗi trước. Vả, địa thế An Giang là nơi hiểm yếu, bọn giặc từ xa kéo lại, thế tất không am hiểu được hết. Vậy, lũ ngươi phải nên thế nào, hoặc ra quân kỳ để thắng địch, hoặc chia nhau chẹn đường, triệt lối, trổ sức, tấn tiễu một trận, thừa thắng ruổi dài, đuổi giặc ra khỏi bờ cõi, không những khỏi được tội trước mà lại còn được hậu thưởng nữa”.


    Tấu sớ của các Tướng quân và Tham tán liền đó cũng đệ lên nói : “Trước đây, cứ tin biên báo của An Giang, lập tức đã hội bàn, uỷ cho Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân đem hơn 400 biền binh ở các vệ, các cơ và 8 chiếc thuyền Hải đạo, Ô, Lê ((1) Tức là thuyền Hải đạo, thuyền Ô và thuyền Lê.1) đi đến An Giang, tuỳ cơ điều khiển. Tiếp lại nghe tin cáo cấp của Hà Tiên, lại phái thêm hơn 500 biền binh và 15 chiếc thuyền kế tiếp tiến đi.


    Vua lại dụ họ rằng : “Đã mấy lần được tin báo động của An Giang đưa đến nhưng chưa thấy các Tướng quân và Tham tán bày ra được một mưu kế gì ở trong quân cả, ta đã hạ chỉ dụ quở trách nghiêm ngặt và giáng cấp, ghi lỗi để răn dạy rồi, nay căn cứ vào lời sớ tâu, thì sự thực hiện đã sai phái đó cũng hơi hợp với cơ nghi nhưng chỉ hiềm số binh thuyền phái đi còn ít mà thôi. Ta nghĩ lại : Đương lúc có việc quân lữ, các Tướng quân, Tham tán và Tuần phủ đã phải giáng cấp, ghi lỗi, nay đều cho rộng miễn, trổ sức dẹp giặc, để trách cứ phải làm thành công. Nếu xếp đặt lỡ làng để xảy lầm lỡ, thì trị tội cũng chưa muộn. Vả, nay quân giặc cố thủ ở trong thành, ngày càng cùng quẫn, hiện nay quan quân và hương dõng của ta đóng ở Trường Luỹ kể ngót hàng vạn, nếu liệu lưu 5.000 người ở lại, rồi truyền lệnh điều thêm 2.000 hương dõng ở Gia Định, cho đủ 7.000 người, giao cho bọn Tống Phước Lương, Nguyễn Văn Trọng, Lê Đăng Doanh, Trần Văn Tri và Hà Duy Phiên thống lĩnh chia ra phòng thủ, thì cũng đủ giúp để ngăn ngừa đấy. Còn Trần Văn Năng lập tức tuân theo dụ trước trích lấy 4.000, 5.000 binh dõng đi gấp đến An Giang, hội đồng với Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân, mưu tính việc quân, khiến có trọng binh đàn áp để cho quân địch phải sợ sệt”.


    Vua lại dụ Nội các rằng : “Trước đây trận đánh ở cầu Cao Man mất 1 cỗ đại luân xa pháo, và tiền đạo gặp giặc lại lùi, ta đã hạ chỉ dụ giáng bọn quản lĩnh bộ đạo là Nguyễn Văn Trọng, Trương Minh Giảng và Hoàng Đăng Thận mỗi người đều 2 cấp, còn bọn chuyên lĩnh đạo quân ấy là Lê Sách, Nguyễn Văn Đoài mỗi người đều giáng 4 cấp. Nhưng từ nay về sau, nếu biết ra sức vây đánh, khiến địch lâm vào tình thế ngày một cùng quẫn, thì công với tội cũng đủ bù lại cho nhau. Vậy, gia ân cho bọn Nguyễn Văn Trọng đều được khai phục, không bị án giáng cấp nữa. Đó là sự tuỳ việc thưởng công, phạt tội, thi hành một cách chí công, ta vốn không có thành kiến gì cả. Nay các ngươi nên bội phần cảm kích phấn khởi, gắng sức giết giặc cho được sớm thành công mới phải”.


    Vua sai truyền dụ cho bọn Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát 6 tỉnh Nam Kỳ rằng : “Từ trước đến nay theo lệ định, dân gian không được chế binh khí riêng, nay Nam Kỳ bỗng có giặc Xiêm, các ngươi nên tuyên dụ cho nhân dân thuộc hạt đều được chế tạo các thứ điểu sang, giáo dài, gươm đao, họp đoàn luyện tập, để phòng khi trưng mộ, hoặc lưu lại ở hương thôn để phòng thủ. Nếu quân giặc Xiêm nghe binh oai của ta mà trước tự khuất phục rút lui thì thôi, nếu ngông càn dám xâm lược ta, tức thì nhân dân sở tại đã sẵn có khí giới sắc bén, đều có thể giết giặc lập công, cốt khiến cho loài Man xấu không còn một chiếc xe trở về, để yên bờ cõi. Sau khi việc yên, những đồ binh khí của nhân dân chế tạo ra đó đem nộp Nhà nước, sẽ được trị giá trả tiền, nếu người nào không muốn nộp, thì cho đem phá làm đồ dùng”.


    Đổi bổ Hàn lâm viện Kiểm thảo Nguyễn Song Thanh làm Cai đội Cấm binh.


    Trước đây, Thanh phụng mệnh đi trinh thám ở Nam Kỳ, nhân đó tập họp được hương dõng, đi tòng chinh. Vua nghe vậy, ban khen, cải bổ chức này, sai vẫn đem số hương dõng đã mộ ấy theo các Tướng quân làm Tham tán quân vụ. Lại thấy Dực mỹ Cai đội Ngô Văn Thắng trước giờ cũng là kẻ mẫn cán trong khi sai phái, vậy dụ các Tướng quân và Tham tán cấp bằng cho làm ngoại uỷ quản cơ, hiệp cùng đầu mục hương dõng đã từng được đặt làm Ngoại uỷ quản cơ cùng cai quản một cơ, và cho theo đi đánh dẹp.


    Vua dụ bộ Hộ rằng : “Gần đây Nam Kỳ có giặc, số hương dõng, các đạo đi tòng chinh khá nhiều. Ta nghĩ bọn hương dõng đó ở gần quê nhà mà khi tỉnh thành mới thu phục được của kho chi ra, hoặc giả có chỗ không khắp, đã chuẩn cấp cho tiền gạo hằng tháng, nay tiền công lần lượt chở đến đã gần 10 vạn, tưởng cũng đủ chi dùng rồi. Lại nghĩ : bọn chúng tòng quân đã lâu, ra sức giết giặc, công thực đáng khen. Vậy chiếu trong ngạch lính hương dõng ra tòng chinh từ trước đến nay, bất luận là người còn đóng ở tấn sở Gia Định, hay đã phân phái đi đánh dẹp hoặc đóng giữ ở các hạt khác đều gia ơn cấp cho kỳ tháng 12 này và kỳ tháng giêng sang năm, mỗi người một tháng được 1 quan tiền”.


    Tỉnh Bình Định, gạo kém. Vua sai Tổng đốc Vũ Xuân Cẩn phát 20.000 hộc thóc kho cho dân nghèo vay.


    Chuẩn định : từ nay, phàm các quan chức trong Kinh hay các tỉnh ngoài, nếu ai kỳ trước đã được thăng bổ, cách 3 năm trở lên, được thăng chức khác, thì chiếu theo lệ, được đưa lên bộ, để bộ dẫn lên yết kiến ; nếu ai kỳ trước thăng bổ đã được dẫn yết kiến rồi, cùng với những người đã từng được dẫn yết kiến, lại cho về lỵ sở mà trong một năm hoặc hai năm liền được thăng chức khác thì đều miễn cho dẫn yết kiến. Nay ghi làm lệnh.


    Định lệ trừ hao cho việc đúc ngân tiền Phi long.


    (Bạc tốt hơn 7 thành thì mỗi một chục lạng đúc thành khí rồi được trừ hao 1 tiền 2 phân linh 7. Bạc 5 thành thì mỗi một chục lạng đúc thành khí rồi được trừ hao 1 tiền 1 phân có lẻ).


    Bộ Lại tâu nói : “Những nhân viên phạm lỗi, gián hoặc có kẻ bị giáng cấp được điệu đi làm việc nơi khác, đối chức hàm Tòng bát phẩm, cũng có kẻ nhờ ơn mới được khai phục, đối chức hàm Tòng cửu phẩm thư lại. Song tra ở các bộ, các tự, đều không có chức đối khuyết tương đương, để có thể đề bổ vào được. Vậy nay xin nên cứ theo hàm thực giáng và hàm được khai phục để bổ cho đi làm việc ở các nha. Từ nay nếu có những loại giống như thế, cũng xin chiếu theo đó mà làm”.


    Vua chuẩn y.


    Giá gạo ở Kinh đô hãy còn đắt. Vua dụ bộ Hộ rằng : “Gần đây giá gạo ở Kinh đô và quanh vùng kinh kỳ lên cao. Ta một niềm nghĩ đến lương ăn của dân, chưa hề xao lãng chút nào. Mà Thừa Thiên là nơi ở dưới bánh xe nên lại càng lưu ý hơn. Nhiều lần ta đã hạ dụ cho giảm thuế khoá, lại phát thóc kho cho bán hạ giá, đối với các hạt lại càng được rẻ hơn. Nhưng nghĩ : trong chốn hương thôn người nghèo thì nhiều, kẻ giàu thì ít. Nếu người ta không có đủ tiền thì không khỏi có sự vay mượn lẫn nhau. Lại có những kẻ không tiền, nhưng vì bị bọn Lý trưởng thúc giục, phải nhờ hắn lĩnh thay, thì kẻ nghèo vị tất đã được cùng hưởng ơn trạch, mà bọn nhà giàu lại thêm đầy túi.


    “Vậy, hạ lệnh cho Kinh doãn phải sức khắp cả cho nhân dân trong hạt : nếu người nào có tiền đong thóc kho thì cứ chiếu giá phát mại ; nếu những người không có tiền đong thì chuẩn cho mỗi người được vay một hộc thóc, hạn đến vụ thuế sang năm, hoặc muốn chiếu giá trả tiền, hoặc nộp trả bằng thóc, gạo cũng đều được cả”.


    Tỉnh Hưng Yên có sớ tâu báo về sự động tĩnh cuối mùa thu.


    Vua dụ Nội các rằng : “Năm nay nạn lụt ở Hưng Yên khá nặng, tình hình dân gian không khỏi quẫn bách. Thế mà trong hạt dần được yên ổn. Gián hoặc còn có một vài đám lén lút nổi lên cũng chỉ là bọn nhỏ nhặt, lại dẹp được ngay, không đến nỗi xảy ra án lớn. Thực là một sự may cho con đỏ trong một địa phương. Việc phòng ngự yên dân ấy của các viên phủ, huyện thật có phương pháp. Vậy ra lệnh cho bộ Lại điều tra chức danh của hộ để phân biệt nghị tự ((1) Nghị tự : sự giao cho Bộ nhận xét và bàn định, nêu lên những cấp bậc để ban thưởng cho quan viên có công.1)”.


    Định lại thể lệ về địa phương phát vãng những người bị tội quân lưu làm lính, và tội quân lưu chuẩn cho làm tội đồ.


    Vua dụ Nội các rằng : “Đối với những tù phạm quân lưu phát đi các nơi, trước đã chuẩn định đường đất xa gần, để phát vãng rồi. Nay chiếu theo phiến lục của bộ Hình thì những tù quân lưu ở các tỉnh thuộc Bắc Kỳ đã phát vãng đi các tỉnh từ Quảng Bình trở vào Nam hiện đã nhiều rồi, thế mà những tù phạm đợi phát vãng và đợi kết án còn đến một, hai trăm người nữa ! Nếu đến kỳ phát vãng, lại chiếu án đưa đến các hạt Nam Kỳ, thì không những khi giải đi đường thuỷ hay đường bộ, sự đi lại rất khó, mà số tù ở nơi bị đày ngày càng gấp bội, sự canh giam quản thúc hoặc giả lại không được chu tất chăng. Và, bọn tù phạm xưa nay quen tính hung hãn, cho chúng ở tụ một chỗ, lại sợ xảy ra những sự bất tiện. Xưa nay bọn tù làm phản ở trong ngục thường thường phá án, vậy nên quyền nghi xử trí cho dứt mối tệ.


    “Nay ra lệnh cho các đình thần phải gia tâm trù tính : từ nay, ở Bắc Kỳ, phàm những tù phạm bị xử án làm tội lưu quân và đày đi sung quân, hoặc chiếu theo nơi gần mà đổi chỗ phát vãng và các tỉnh Nam Kỳ từ nay có phát vãng các tù phạm bị tội quân lưu vào các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra Bắc, khi đã đến chỗ bị đày hoặc nên chiếu theo địa hạt gần và thuận tiện mà phân phối cho sung làm lực dịch. Có thể chước lượng xử trí cơ nghi, bàn kỹ để tâu trình đầy đủ”.


    Đến khi đình thần hội bàn tâu xin : “Từ Hà Tĩnh trở ra Bắc, phàm có những tù phạm bị tội quân lưu hiện giam còn đợi phát vãng, và từ nay về sau lại có những án xử tội quân lưu, thì cứ chiếu xem đường đất gần xa ở các hạt Bắc Kỳ mà phát phối đi có khác nhau. (Tù phạm Hà Tĩnh và Nghệ An đổi phát vãng đi các địa phương Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên. Tù phạm Thanh Ba và Ninh Bình, đổi phát vãng đi các địa phương Bắc Ninh, Thái Nguyên. Tù phạm Hà Nội và Hưng Yên đổi phát vãng đi địa phương Lạng Sơn. Tù phạm Nam Định đổi phát vãng lên địa phận Cao Bằng. Tù phạm ở Thái Nguyên và Bắc Ninh đổi phát vãng đi địa phương Thanh Ba. Tù phạm Lạng Sơn và Cao Bằng đổi phát vãng đi địa phương Ninh Bình. Tù phạm Hải Dương và Quảng Yên đổi phát vãng vào địa phương Nghệ An. Tù phạm Sơn Tây, Tuyên Quang và Hưng Hoá đổi phát vãng vào địa phương Hà Tĩnh. Tất cả đều theo như phép luật, thích chữ giải đi phối sở. Khi đến phối sở thì do sở tại chiếu xem các nơi thuộc hạt mình như ven biển, bờ cõi mới, nơi biên viễn và các đồn bảo, nơi nào có biền binh trú phòng có thể quản thúc được thì liệu tuỳ số tù nhiều ít mà chia ra đưa đến. Còn những tù phạm phải làm binh, cũng chiểu xem các địa phương mà những kẻ bị tội quân lưu đáng được đổi đi phát vãng thì theo đó mà đưa đi, rồi do sở tại chia cấp vào các cơ, các đội thuộc tỉnh mình làm lính để sai phái. Còn ba hạt : Thừa Thiên, Quảng Trị và Quảng Bình số tù không có nhiều thì xin để do Nam Kỳ phát vãng như cũ, đến như từ Quảng Nam trở vào Nam, thì theo lệ trước đây tù phạm quân lưu đều sung phối ở các tỉnh Bắc Kỳ, nhưng hàng năm, số giải đi cũng không nhiều lắm. Vậy xin chiếu như lệ cũ mà phát vãng. Nhưng để cho tụ tập cùng ở với nhau cũng thấy có điều bất tiện. Vậy xin từ nay nếu có tù phạm giải đến các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra Bắc, thì do sở tại chiếu xem số trạm trong hạt mình liệu chia đưa đi, giao cho các cai trạm quản thúc nghiêm ngặt, thích 2 chữ tên trạm vào mặt phạm nhân để tỏ sự phân biệt. Đó là một cách xử trí quyền nghi.


    “Kịp đến cuối năm, gián hoặc có nhiều tù phạm hiện đây ở tỉnh nào mà phải chước lượng phân phát đi nơi khác thì do bộ Hình bấy giờ họp bàn thoả đáng tâu xin thi hành.


    “Lại kính xét trong luật có chép rằng : phàm phát lưu tạp phạm đều được chuẩn theo tội đồ, lấy 4 năm làm một hạn. Lại, năm Gia Long thứ 17 [1818] có lệ định : phàm ba tội lưu thực phạm, có tội được chuẩn theo tội đồ 5 năm rưỡi, có tội chuẩn theo tội đồ 6 năm, có tội chuẩn theo tội đồ 6 năm rưỡi. Gần đây những kẻ phạm tội quân lưu đều vì thực phạm, chiếu án mà phát vãng, hằng năm số giải đi phát phối ngày càng tăng nhiều, sự giam cầm và đề phòng thực khó khỏi có chỗ bất chu. Vậy xin từ nay phàm những án xử quân lưu, những kẻ tội nặng như làm giặc, giết người, cướp của, trước bị xử tử, sau được giảm xuống tội sung quân hay tội lưu thì cứ chiếu lệ mà phát vãng. Còn nhất thiết những kẻ phạm tội quân lưu thì nên châm chước lệ cũ : phàm tội đáng lưu 2.000 dặm và phát đi sung quân ở nơi phụ cận thì được chuẩn theo tội đồ 5 năm rưỡi ; tội lưu 2.500 dặm và phát đi sung quân ở nơi biên giới gần, thì được chuẩn theo tội đồ 6 năm ; tội lưu 3.000 dặm và phát đi sung quân ở ngoài nơi biên viễn, cực biên thì được chuẩn theo tội đồ 6 năm rưỡi ; hết hạn tha về, nếu tái phạm sẽ luận tội tử hình”.


    Vua cho là phải, bèn cho những kẻ phạm tội quân lưu được đổi sang tội đồ, hạ lệnh cho các sở tại chước lượng phát vãng các tù phạm ấy đi làm khổ sai ở các đồn bảo và các trạm.


    Chuẩn định : từ nay, phàm các tỉnh có khuyết chân Thông phán hay Kinh lịch, thì do các viên Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát, chọn trong thuộc hạ lấy hạng Bát phẩm thâm niên và mẫn cán bổ làm Kinh lịch. Kinh lịch bổ lên Thông phán và đều phải làm tập tâu đầy đủ. Rồi do bộ Lại xét : nếu ai là người ở địa hạt khác thì được bổ ngay, nếu ai là người bản hạt thì đổi bổ đi tỉnh khác.


    Hộ lý Tuần phủ Ninh Bình là Lê Nguyên Hi mật tâu rằng : “Ba huyện trong tỉnh là Lạc Thổ, Phụng Hoá, An Hoá phong tục vẫn còn giảo trá, địa giới lại ở tiếp giáp với Thanh Hoa, Hà Nội, Sơn Tây và Hưng Hoá, thung lũng, rừng rú rậm rạp, khe ngòi núi non hiểm trở, sự cai trị thật là khó khăn. Trong đó những họ lớn ở các xã là của bọn bạn nghịch Đinh Thế Đội, Quách Tất Công, Quách Tất Tại, Quách Tất Tế, Quách Phước Thành, Quách Phước Trí, Quách Công Thản, Quách Công Huynh, Quách Công Toản, Quách Công Kim, Quách Công Chế và Cao Viết Khoái, đời đời kết hôn với nhau, đều là chỗ thân đảng. Thế mà dân chúng thì một lòng nghe theo bọn thổ ty và thổ mục, nếu có kẻ nào phạm pháp nên đem ra hỏi tội, thì bọn chúng chỉ biết có tình thông gia, che giấu cho nhau, không còn đếm xỉa đến quốc pháp nữa. Năm nay quan quân đi tiễu, trong khoảng 3, 4 tháng có bắt được hai tên phạm nghịch Lê Duy Lương và Lê Duy Nhiên, nhưng chúng lại là người ở xứ khác đến đấy. Còn như bọn Đinh Thế Đội và Quách Tất Công thì chưa từng bắt giải được một tên phạm nào. Đó bởi các phong tục của dân mọi rợ giảo quyệt ấy khác với dân Kinh, cho nên khó trị.


    “Những kẻ bạn nghịch ấy trong khi quan quân chưa đến, đem dân thuộc quyền cai quản của chúng và tụ họp bọn vô lại rông rỡ cướp bóc. Nhân dân trong xã đã điềm nhiên không đi tố cáo, mà bọn thổ ty và thổ mục ở xã khác lại a dua dung túng lẫn nhau. Khi quan quân đến lùng bắt thì chúng lẩn trốn vào hang núi, quan quân đến phía đông thì chúng trốn sang phía tây, chẳng ai còn biết chúng đi đằng nào. Cho nên quân đi tuần tiễu bắt bớ luôn luôn, mà bọn thủ phạm lọt lưới vẫn còn nhiều. Nay được tin bọn Quách Tất Công tụ tập đến hơn 300 đồ đảng ẩn hiện ở phận rừng các xã Sơn Âm, Thượng Lũng, Hiệu Lũng và Trung Hoàng. Lại mong manh được tin tụi phỉ trốn ở Thanh Hoa nay cũng tập họp 4, 5 trăm tên ẩn hiện ở núi Vật Lĩnh gần đèo Ba Dội. Thần đã sức cho bộ biền Phó lãnh binh Nguyễn Văn Tương và Quản phủ Thiên Quan là Vũ Thế Giới đem quân và voi kíp đến các xứ Sơn Âm để nã bắt, lại phái biền binh hợp với quân ở đồn Lý Nhân cùng đi tuần tiễu ở địa phận đèo Ba Dội. Vậy xin nhà vua hạ chỉ phái cho 1.000 biền binh ở cơ, vệ nào đó để hội tiễu”.


    Vua sai Nội các mật dụ rằng : “Việc quân phải có nắm vững, điều khiển có được hợp nghi thì mới sớm được thành công. Nếu chỉ trông vào nhiều quân và đóng lâu để lùng bắt thì những khe núi, đường rừng đã rất rộng, sự ẩn hiện của giặc Man lại bất thường, ví có hàng mấy trăm nghìn quân đi chăng nữa, cũng khó làm nên việc. Ngay như trước đây, nhà ngươi đã từng đem binh đi tiễu, động tí là phải hơn tuần hơn tháng ; lại phái bọn Nguyễn Văn Tương và Vũ Thế Giới kế tiếp đi tầm nã quân giặc, kết cục cũng chỉ luống công ! Đủ rõ nhà ngươi chưa tính được một mưu quyết thắng nào ! Thế thì dẫu có nhiều quân cũng vô ích. Ngươi có trách nhiệm trông nom bờ cõi phận sự đó rất là quan trọng, ngươi nên hết lòng trù liệu thế nào, phái quân đi chẹn bắt phải làm cho đúng cơ nghi, vả lại nên chiêu tập, phủ dụ thổ dân quen thuộc khiến họ ra sức tầm nã bọn giặc trốn mà lập công, điều đó rất là khẩn yếu. Vả, thổ dân ở đó phần nhiều tuy là dâu gia thân thích với nhau, nhưng nếu ta khéo phủ dụ mà dùng, khiến họ biết sợ và mến thì há lại không dùng được sức lực của họ hay sao ? Không nên coi họ toàn là man di, để họ sinh lòng ngờ sợ, lại càng nhị tâm mạnh hơn thì thất sách đấy ! Khi tờ dụ này đến nơi, ngươi lập tức phải khéo thể theo mà tuân hành”.


    Vua lại mật dụ Tổng đốc Hà - Ninh Đoàn Văn Trường và Tổng đốc Định - An Đặng Văn Thiêm : “Lập tức chiếu xem số quân hiện tại đóng giữ và sai phái ở Hà Nội và Nam Định còn có thừa sức thì mỗi tỉnh liệu lượng phái lấy một hai viên biền đem bốn năm trăm biền binh đến Ninh Bình để cùng tuần tiễu bắt giặc, nếu đã gần yên rồi, thì chuẩn cho rút quân về ngay”.


    Lấy các đội Tả sai và Hậu sai đặt làm vệ Thắng võ, lưu thú tỉnh Thanh Ba ((1) Tức Thanh Hoa.1). (Tả sai, Nhất, Nhị, Tam, Tứ, Ngũ và Hậu sai tứ cộng 6 đội, nguyên là đạo quân phái đi theo bọn Phạm Văn Điển đạo Thái Nguyên để bắt giặc mới rút về). Sai nguyên thự Phó vệ uý vệ Cộng võ là Nguyễn Đức Nhân do chức cũ, quản lĩnh vệ mới đặt ấy.


    ân kỵ uý hưu trí là Cáp Văn Mao và con là Cáp Văn Dương, viên bị cách lui về là Hộ vệ Tôn Thất Hộ và Tôn Thất Lương, theo bộ sai phái, gắng sức làm việc là Trần Văn Trung, đều tình nguyện theo đi hiệu quân thứ Nam Kỳ để góp phần khó nhọc, được bộ Binh đề đạt tâu lên. Vua cho đi cả.


    Sai thị vệ mang 400 thẻ ngân bài “Thưởng công” giao cho Tướng quân, Tham tán ở quân thứ Gia Định : phàm các tướng biền và binh dõng đi trận, hễ ai bắt sống được quân giặc, hoặc chém được đầu giặc có công trạng rõ ràng thì liền theo dụ trước, thưởng cấp cho.


    Vua sai mật dụ bọn Tướng quân Trần Văn Năng, Tham tán Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân rằng : “Quân Xiêm chẳng qua hư trương thanh thế. Chúng từ xa đến chắc là mỏi mệt, tình thế chủ khách khác nhau, quyết không dám phạm trước vào quân ta đâu, nếu giặc không đánh trước thì các ngươi chỉ nên đóng ở An Giang mà chia đặt đồn, trại thuỷ lục, nghiêm ngặt phòng bị khiến quân địch không thể phạm vào được. Và đồng thời ở trấn tĩnh lòng dân khỏi sinh hoang mang sợ hãi. Lại nên thường thường phái người đi lại quân thứ của Xiêm, dò hỏi cái ý người Xiêm đem quân đến đây, để làm kế hoãn binh, đợi sau này ta tập hợp binh lực được hùng hậu, sẽ lại mưu đồ đánh dẹp để nắm lấy phần tất thắng vạn toàn.
  • Chia sẻ trang này