0060.0096

14/1/16
0060.0096
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    Tỉnh thành Hà Nội có hơn 70 phú hộ xin đem của nhà ra cứu tế cho những người nghèo đói. Tổng đốc Đoàn Văn Trường liền đem cấp phát cho những nhà cùng khổ, rồi sau mới tâu lên. Bộ Hộ hội nghị cho rằng, trước đây, các tỉnh ngoài Bắc Kỳ bị nước lụt làm hại, cho nên dân phần nhiều túng đói. Các nhà phú hộ ở tỉnh Hưng Yên biết theo lời dụ trước, bỏ ngay tiền của ra quyên, lòng chuộng nghĩa ấy, mới thực đáng khen. Còn như sau khi nạn lụt đã rút, lại kế đến vụ gặt mùa, thì lương ăn của dân đã được dần đủ, không khó khăn như ngày trước nữa, thế mà những nhà phú hộ kia đến bây giờ mới lục đục quyên giúp thì so với những người nghĩa dân ở Hưng Yên, sao khỏi có sự hơn kém khác nhau ? Nhưng chỉ nghĩ : bọn tiểu dân ở thôn quê lại có lòng vui làm điều thiện như thế, thì cũng nên lượng công gia thưởng. Vậy xin xét theo số quyên của kẻ nào khá nhiều thì chuẩn cho được miễn sự đi lính và phu phen tạp dịch, hoặc cấp cho mũ áo có thứ bậc. Còn số tiền từ 50 quan, thóc từ 30 hộc trở xuống, ít ỏi không mấy, thì do tỉnh tự biện : đặt tiệc khoản đãi và truyền chỉ khen thưởng. Nếu tỉnh thần làm không hợp phép thì truyền Chỉ quở ! Vua cho là phải.


    Tướng nước Xiêm là Lạt Xà Lận và Chiêu Vàng Na (em A Nỗ) ở Vạn Tượng đem hơn 1.000 quân Man Xiêm vào xâm nhiễu các châu Tầm Bôn, Mang Bổng, Ba Lan, Làng Thìn ở phủ Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, bắt người, cướp của, dân đều sợ chạy, thự Tuần phủ Nguyễn Tú nghe tin báo lập tức phái ngay Phó quản cơ cơ Quảng Trị là Nguyễn Trọng và Quản cơ cơ Định man là Nguyễn Văn Vân đem 300 quân tiến đánh. Việc đó lên đến vua.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Bọn giặc Xiêm này chẳng qua chỉ hơn một trăm mười người xúi xiểm các quân man vào quấy nhiễu ở biên cảnh, đó chỉ là ý chúng muốn phân tán binh lực của ta mà thôi. Chúng không nghĩ rằng với một số quân Man Xiêm như thế, làm được việc gì, đi sâu vào nơi hiểm yếu, thì chỉ tự rước lấy nạn diệt vong. Huống chi năm trước, chúng đã vào quấy nhiễu châu Ba Lan, thoạt nghe quân ta kéo đến, đã vội tháo thân chạy trước. Gương trước còn đó, nay lại dám càn rỡ gây hấn ! Ta nên lập tức tiễu trừ để yên bờ cõi. Nhưng chỉ vì số quân tỉnh phái đi còn ít, chưa được đắc lực lắm, vậy nên phái thêm một vệ Tượng quân ở Kinh sư giao cho Vệ uý Lê Văn Thuỵ đem ra và một vệ quân Khinh kỵ giao cho Vệ uý Phạm Phi, quản lĩnh cả 300 quân ở các vệ Kinh tượng và viện Thượng tứ, đem theo súng thần công, súng quá sơn, súng du sơn, các hạng đại bác cộng 16 cỗ, thuốc đạn mỗi hạng đều 100 phát, cấp tốc đi Quảng Trị vát lấy voi trận, hiệp cùng án sát Hồ Hữu Thẩm tiến đánh. Mọi cơ sự trong quân phải bàn bạc xác đáng mà làm”.


    Lại sai Nguyễn Tú trước hãy gọi gấp lấy thổ binh ở các châu, mỗi châu dăm bảy trăm người, để đón quan quân, theo đi bắt giặc. Lại gọi thêm 500 hương dõng trong tỉnh, dồn thành từng đội, mỗi đội đều chọn lấy một người mẫn cán cho đứng đầu, cấp văn bằng làm Ngoại uỷ suất đội rồi trích lấy một Quản cơ hoặc một Thành thủ uý để đem họ tiếp tục đi, vâng lệnh bọn Lê Văn Thuỵ sai phái. Còn thuế thân bọn hương dõng năm nay đều cho miễn cả. Và trong khi hành quân, lặn lội trong sơn lam chướng khí, nên điều vài ba y sinh ở tỉnh và chuẩn bị thuốc thang, cho nhiều, đem đi để điều trị trong quân thứ.


    Tha tội cho những phạm viên là Hồ Hựu, Nguyễn Văn Phượng, Phạm Phước Thiệu, nhưng phát vãng đi quân thứ Cam Lộ. Hoàng Công Tài, Nguyễn Công Thiện phát vãng đi quân thứ An Giang, đều cho đi tòng chinh gắng sức lập công chuộc tội.


    Vua truyền chỉ dụ thự Bố chính Nguyễn Đình Tân và án sát Vũ Đĩnh ở Nghệ An rằng : “Hạt các ngươi trước đây có tin do thám báo rằng người Xiêm âm mưu dụ dỗ thổ mán gây loạn, dẫu chưa mười phần đích xác nhưng cũng nên để ý phòng bị trước, vậy các ngươi phải chước lượng tình hình : nếu ở tỉnh đã đủ quân phòng thủ rồi thì phái ngay một Quản vệ và 200 quân kéo đến Trấn Ninh, 2 Suất đội và 100 quân kéo đến Trấn Tĩnh, chia ra đóng đồn để trấn áp quân địch. Lại trích lấy những số tù phạm phát phối ở tỉnh mà quê ở các tỉnh từ Quảng Bình trở vào Nam, tháo bỏ xiềng xích, cấp cho khí giới, rồi giao cho quan quân đốc suất đem đi để chúng gắng sức làm việc, chuộc tội. Nếu số binh có ít, không đủ phái đi, thì liệu xem nên gọi hạng binh dõng nào, rồi lập tức tâu lên, đợi chỉ thi hành”.


    Định lại khoá lệ ((1) Khóa lệ : thể lệ sát hạch để thăng chức.1) về chức danh Đội trưởng và Ngoại uỷ đội trưởng thuộc các vệ, cơ, đội ở trong Kinh và ngoài các tỉnh.


    Trước đây, vua bảo bộ Binh : “Theo lệ trước, mỗi đội đã có một Suất đội, lại 4 Suất thập, một Thư lại, như vậy số viên chức rất cồng kềnh. Nay nên bàn định lại : mỗi đội đặt một Suất đội, và đặt thêm 2 Đội trưởng cùng 2 Ngoại uỷ đội trưởng, để giúp việc. Nếu gặp có việc sai phái toàn đội, thì Suất đội quản lĩnh đem đi ; nếu việc sai chỉ cần lấy vài, ba chục người, thì Đội trưởng và Ngoại uỷ đội trưởng quản lĩnh mang đi. Suất đội được thực thụ phẩm hàm, Đội trưởng và Ngoại uỷ đội trưởng thì do người cai quản hay địa phương cấp văn bằng cho, cứ 6 năm một khóa, tâu lên để xin thực thụ. Nếu còn khuyết Suất đội thì lấy Đội trưởng hay Ngoại uỷ đội trưởng thay vào, còn Suất thập và Thư lại đặt trước, nay đều rút bỏ đi”.


    Đến đây, lời bàn của bộ Binh dâng lên, cho rằng các đội binh trong các vệ, các cơ, các đội ở Kinh hay ở các tỉnh, có đội 50 người, có đội 60 người và có đội đến hơn 100 người. Vậy xin : phàm đội có từ 60 người trở xuống thì đặt 1 Suất đội, Đội trưởng và 2 Ngoại uỷ đội trưởng. Duy các đội thuộc dinh Vũ lâm, mỗi đội hơn 100 người thì xin đặt một Suất đội, 4 Đội trưởng và 4 Ngoại uỷ đội trưởng.


    Còn như khoá lệ, xin vẫn theo như trước : hạng giản binh thì lấy những năm dần, tỵ, thân, hợi làm từng khoá, hạng mộ binh thì lấy những năm tý, mão, ngọ, dậu làm từng khoá. Đến khóa kỳ, thì thực thụ Đội trưởng được thăng thụ Chánh đội trưởng, lại 6 năm nữa, thăng thụ ngạch ngoại Cai đội ; những Ngoại uỷ đội trưởng đến khóa cũng được thực thụ Đội trưởng, lại 6 năm nữa, thăng thụ ngạch ngoại Cai đội. Nếu đến khoá kỳ giản binh trong đội thiếu 9 người, mộ binh thiếu 4 người trở xuống thì cho được dự khoá, nếu giản binh thiếu 10 người, mộ binh thiếu 5 người trở lên thì không được dự. Dinh Vũ lâm, thiếu từ 19 người trở xuống, cũng cho dự khoá, nếu thiếu từ 20 người trở lên thì không cho dự khoá.


    (1 - Năm trước, đã dự khoá lệ : Dinh Vũ lâm Tả dực, Hữu dực có 10 vệ mỗi vệ có 5 Suất đội. Bốn dinh Thần cơ, Tiền phong, Long võ, Hổ oai mỗi dinh có 5 vệ, mỗi vệ có 10 đội ; duy Hậu vệ dinh Thần cơ chỉ có 8 đội, vệ Nội thuỷ có 10 đội, quân Thần sách 5 dinh, Ban trực 5 vệ, mỗi vệ có 10 đội. Hai vệ Nhất, Nhị, thuộc Trung bảo Trung quân mỗi vệ 10 đội, Trung sai 3 đội. Hai vệ Nhất, Nhị thuộc Tiền bảo Tiền quân mỗi vệ 10 đội, Tiền sai 2 đội. Hai vệ Nhất, Nhị thuộc Tả bảo Tả quân, mỗi vệ 10 đội, Tả sai 5 đội. Hai vệ Nhất, Nhị thuộc Hữu bảo Hữu quân, mỗi vệ 10 đội, Hữu sai 3 đội. Hai vệ Nhất, Nhị, thuộc Hậu bảo Hậu quân mỗi vệ 10 đội, Hậu sai 4 đội. Thuỷ quân có 5 vệ, mỗi vệ 10 đội.


    Các dực : Dực uy, Dực tín, Dực thắng và Dực thành, mỗi dực 3 đội ; Dực dũng, Dực trang, Dực hùng, mỗi dực có 1 đội.


    Các sai : Tân sai 3 đội, ứng sai 1 đội, Hùng sai 4 đội.


    Sáu kiên : Kiên vĩnh, Kiên thịnh, Kiên hoà, Kiên võ, Kiên tín, Kiên mỹ, mỗi Kiên 2 đội.


    Tỉnh Quảng Ngãi, cơ Tĩnh man nhất 6 đội, còn 5 cơ : Nhị, Tam, Tứ, Ngũ, Lục, mỗi cơ 8 đội. Thuỷ cơ 10 đội.


    Tỉnh Bình Định, cơ Định dũng có 10 đội.


    Tỉnh Phú Yên, Thuỷ cơ có 3 đội.


    Tỉnh Khánh Hoà, cơ Hoà thắng có 8 đội, Thuỷ cơ có 4 đội.


    Tỉnh Bình Thuận, cơ Thuận nghĩa tả có 10 đội, cơ Thuận nghĩa hữu có 8 đội, Thuỷ cơ có 5 đội.


    Tỉnh Gia Định, 2 cơ Gia tiệp tả, hữu và Gia An thuỷ cơ, mỗi cơ có 10 đội.


    Tỉnh Biên Hoà, cơ Biên hùng có 10 đội.


    Tỉnh Vĩnh Long, 2 cơ Vĩnh bảo tả, hữu và Thuỷ cơ, mỗi cơ có 10 đội.


    Tỉnh Định Tường, cơ Định uy và Thuỷ cơ, mỗi cơ có 10 đội.


    Tỉnh An Giang, cơ An bình và Thuỷ cơ, mỗi cơ có 10 đội.


    Tỉnh Hà Tiên, cơ Hà điện có 2 đội.


    Tỉnh Nghệ An, cơ Trung thuỷ có 10 đội. Bốn vệ Tuyển phong tiền, Phấn võ, Trung võ, Trang võ thuộc Thần sách Tiền dinh, 4 vệ Tuyển phong tả, Định võ, Nghiêm võ, Diệu võ thuộc Thần sách Tả dinh, 2 vệ Cường võ và Trang võ thuộc Thần sách Hậu dinh, mỗi vệ có 10 đội.


    Tỉnh Hà Tĩnh, 4 vệ Uy võ, Dương võ, Toàn võ, Minh võ thuộc Thần sách Trung dinh, mỗi vệ có 10 đội.


    Tỉnh Thanh Hoa, cơ Tả thuỷ có 9 đội, 4 vệ Tuyển phong hữu, Nghĩa võ, Túc võ và Cộng võ thuộc Thần sách Hữu dinh, 2 vệ Tuyển phong hậu và Quảng võ thuộc Thần sách Hậu dinh, mỗi vệ có 10 đội.


    Tỉnh Hà Nội, 10 cơ Ngũ chấn, Ngũ định thuộc Trung quân và Thuỷ cơ, mỗi cơ có 10 đội.


    Tỉnh Ninh Bình, 2 cơ Tiền và Tả, mỗi cơ có 10 đội.


    Tỉnh Nam Định, 10 cơ Ngũ kính, Ngũ tiệp thuộc Tiền quân và 3 cơ Trung, Tả, Hữu thuộc Thuỷ sư mỗi cơ có 10 đội.


    Tỉnh Hải Dương, 10 cơ Ngũ kiên, Ngũ nhuệ thuộc Tả quân và 2 cơ Tả, Hữu thuộc Thuỷ sư mỗi cơ có 10 đội.


    Tỉnh Sơn Tây, 10 cơ Ngũ hùng, Ngũ dũng thuộc Hữu quân, mỗi cơ có 10 đội.


    Tỉnh Bắc Ninh, 10 cơ Ngũ uy, Ngũ thắng thuộc Hậu quân mỗi cơ có 10 đội. Từ đây trở lên Tiền vệ, Tả vệ thuộc dinh Thần cơ, Tiền vệ, Tả vệ thuộc dinh Long võ và Tả vệ thuộc dinh Hổ oai, cộng 5 vệ đều là triệu mộ ((1) Triệu mộ (hoặc chiêu mộ) : hạng người ứng mộ mà đi lính.1) Tiền vệ dinh Hổ oai là toàn trừ ((2) Toàn trừ : được miễn trừ tất cả.2) còn thì đều là giản điểm ((3) Giản điểm : hạng người đến tuổi đi lính do thể lệ tuyển duyệt, được lựa làm binh.3).


    2 - Trước chưa dự khóa lệ nay mới gia nhập : 3 vệ Kinh tượng nhất, nhị, tam, mỗi vệ 10 đội. Viện Thượng tứ, vệ Kiêu kỵ có 5 đội, vệ Phi kỵ có 8 đội, vệ Khinh kỵ có 9 đội (giản điểm).


    3 - Y theo năm trước không dự khóa lệ : Viện Thượng trà, 4 đội Ngân sang, đội Kim sang, đội Thượng thiện, đội Lý thiện và các ty (triệu mộ). Ba đội thuộc thự Hoà thanh (một đội giản điểm, 2 đội triệu mộ). Ba đội thự Thanh bình và đội Tài hoa (triệu mộ). Bốn đội Giáo dưỡng (con các quan võ). Hai ty Từ tế tả, hữu (Tôn thất và người huyện Tống Sơn). Hai vệ Hộ lăng trung, tiền, mỗi vệ có 10 đội, Trung vệ (toàn trừ), Tiền vệ (triệu mộ). Vệ Võng thành có 10 đội (toàn trừ). Hộ thành có 4 đội (3 đội giản điểm, 1 đội triệu mộ). Cơ Kiên chu có 10 đội, Thiên chu có 2 đội (toàn trừ). Dực cương có 3 đội, Dực định có 3 đội (triệu mộ). Vệ Dực bảo có 10 vệ đội (3 đội toàn trừ, 7 đội triệu mộ).


    Dực trấn, Dực thịnh, Dực vĩnh, Dực mỹ, Dực hoà thuộc các phủ đệ của các hoàng tử, tước công mỗi dực có 4 đội, thuộc binh có 5 đội (triệu mộ). Đội thuộc binh trong phủ quận vương Thiệu hoá (lưu ngạch). Hai đội Hữu, Vũ, đội Tín sai, đội Lượng võ, đội Trực võ thuộc phủ đệ các thân công (lưu điểm). Ba đội Diệu võ, 3 đội Sách cần, 3 đội Thắng sai, 4 đội Đằng võ (lưu điểm). Bẩy đội thuộc binh (triệu mộ). Thuộc binh của Thái bình hầu, thuộc binh của Phước long hầu, 11 đội Thường ban trong phủ đệ của các công chúa (triệu mộ). Bốn đội lính phủ Thừa Thiên (giản điểm). Đội Tể sinh (triệu mộ), 3 đội Thuận an thuộc Hưng bình và Du mộc (toàn trừ).


    Tỉnh Quảng Nam, 4 đội cơ Nam tráng (giản điểm). Mười đội cơ Quảng Nam, 2 đội cơ Điện hải, đội Pháo thủ và đệ tứ đội thự Thanh bình (triệu mộ). Hai đội Thanh khê và Hà khê (toàn trừ). Năm đội cơ Nam tượng (triệu mộ). Hai đội Quy nghĩa do tù phạm được dồn bổ.


    Tỉnh Quảng Ngãi, 3 đội cơ Tráng nghĩa (giản điểm). Đội Pháo thủ và đệ ngũ đội thự Thanh bình (triệu mộ). Tám đội cơ Quảng ngãi, 2 đội cơ Nghĩa tượng (triệu mộ).


    Tỉnh Bình Định, 5 đội cơ Định tráng (giản điểm). Mười đội cơ Bình Định, đội Pháo thủ. Bốn đội cơ Định tượng (triệu mộ), 2 đội Bình, Thiện (do tù phạm được dồn bổ).


    Tỉnh Phú Yên, 3 đội cơ Phú tráng (giản điểm). Một đội cơ Phú tượng, 4 đội cơ Phú Yên và đội Pháo thủ (triệu mộ).


    Tỉnh Khánh Hoà, 3 đội cơ Hoà tráng (giản điểm). Hai đội cơ Khánh Hoà, 1 đội cơ Hoà tượng, 3 đội pháo thủ (triệu mộ). Ba đội Hoà thiện (do tù phạm được dồn bổ).


    Tỉnh Bình Thuận, 3 đội cơ Thuận tráng (giản điểm). Hai đội cơ Bình Thuận và đội Pháo thủ (triệu mộ). Hai đội thuộc binh (do tù phạm được dồn bổ).


    Tỉnh Gia Định, 4 cơ Gia dũng, Tiền, Hậu, Tả, Hữu, cơ Gia võ, cơ Gia Định, mỗi cơ có 10 đội, cơ Gia thuận và Tượng cơ, mỗi cơ có 6 đội. Ba đội Pháo thủ, 2 đội nguyên Giáo dưỡng (triệu mộ). Hai đội Hồi lương và đội An lương (do tù phạm được dồn bổ).


    Tỉnh Biên Hoà có 2 cơ Biên sai tả, hữu. Cơ Biên Hoà và Thuỷ cơ, mỗi cơ có 10 đội. Hai đội Tượng cơ và đội Pháo thủ (triệu mộ). Hai đội Hồi lương (do tù phạm được dồn bổ).


    Tỉnh Vĩnh Long có 3 cơ Vĩnh uy trung, tả, hữu, 2 cơ Vĩnh nhuệ tả, hữu, mỗi cơ có 10 đội. Năm đội cơ Vĩnh hoá, đội Pháo thủ, đội Long nghị và 3 đội Trấn binh (triệu mộ). Hai đội Hồi lương và 2 đội Vĩnh lương (do tù phạm được dồn bổ).


    Tỉnh Định Tường, 3 cơ Định thắng trung, tả, hữu, mỗi cơ có 10 đội, đội Pháo thủ, 1 đội cơ Tường tráng và đội Tường võ (triệu mộ). Hai đội Hồi lương (do tù phạm được dồn bổ).


    Tỉnh An Giang, 4 cơ An nghị tiền, tả, hữu, hậu, cơ An Giang, cơ An viễn mỗi cơ có 10 đội và 2 đội Pháo thủ (triệu mộ). Hai đội Hồi lương (do tù phạm được dồn bổ).


    Tỉnh Hà Tiên, 8 đội cơ Hà phú, cơ Hà Tiên và Thuỷ cơ, mỗi cơ có 10 đội (triệu mộ), đội Biên lương (do tù phạm được dồn bổ).


    Tỉnh Quảng Trị, 3 đội cơ Trị tráng (giản điểm), 1 đội cơ Trị tượng, 5 đội cơ Quảng Trị, đội Pháo thủ (triệu mộ), 10 đội cơ Định man (do tù phạm và toàn trừ được dồn bổ).


    Tỉnh Quảng Bình, 4 đội cơ Bình tráng, 5 đội cơ Tuấn thành (giản điểm). Hai đội cơ Quảng tượng, 2 đội Pháo thủ, 3 đội cơ Quảng Bình (triệu mộ).


    Tỉnh Nghệ An, 5 đội cơ An vũ, đội Pháo thủ (giản điểm). Ba đội cơ An tượng, đội thứ 6 thự Thanh bình và đội Thông ngôn (triệu mộ). Hai đội cơ Trấn an (nguyên là các đội ở Phú thuận và đều (do tù phạm được dồn bổ). Ba đội 2 cơ An thuận) do tù phạm và triệu mộ dồn bổ). Ba đội An thiện (do tù phạm được dồn bổ), 9 người vệ Kiến oai (lưu ngạch).


    Tỉnh Hà Tĩnh, đội Tĩnh kiên (giản điểm), 2 đội cơ Hà Tĩnh, 1 đội cơ Tĩnh tượng và đội thuộc binh (triệu mộ).


    Tỉnh Thanh Hoa, đội Pháo thủ (giản điểm). Hai đội cơ Hoa tượng, đội thứ 7 thự Thanh bình, đội Thuộc binh và đội Thanh Hoa (triệu mộ). Hai đội Thiên thiện (do tù phạm được dồn bổ).


    Tỉnh Hà Nội 10 đội cơ Hà thành (giản điểm), 2 đội Pháo thủ (1 đội triệu mộ 1 đội giản điểm). Ba cơ : Thiện võ, Nghiêm dũng và Hà Nội, mỗi cơ có 10 đội. Một đội Tuần thành, 3 đội Hoài an, 3 đội Tượng cơ và đội Lạc hoá (triệu mộ).


    Tỉnh Ninh Bình, 3 đội Hữu cơ, 2 đội Hậu cơ, 1 đội cơ Ninh tượng và đội Pháo thủ (triệu mộ).


    Tỉnh Nam Định, 3 cơ Tráng oai, Lạc dũng và Nam Định, mỗi cơ có 10 đội, 3 đội Tượng cơ, 2 đội Pháo thủ và đội Tuần thành (triệu mộ), đội Hướng thiện (do tù phạm được dồn bổ).


    Tỉnh Hưng Yên, 10 đội cơ Hưng Yên (triệu mộ).


    Tỉnh Hải Dương, 2 cơ Chánh võ và Hải Dương, mỗi cơ có 10 đội, đội Pháo thủ và 3 đội Tượng cơ (triệu mộ).


    Tỉnh Quảng Yên, 2 đội cơ Quảng hùng (giản điểm). Ba đội cơ Quảng Yên (triệu mộ), 3 đội cơ Quảng Yên (triệu mộ).


    Tỉnh Sơn Tây, 2 cơ Võ dũng và Sơn Tây, mỗi cơ có 10 đội, 3 đội Tượng cơ, đội Pháo thủ và đội Tuần thành (triệu mộ), 4 đội Tòng thiện (do tù phạm được dồn bổ).


    Tỉnh Hưng Hoá, 3 đội cơ Hưng hùng (giản điểm). Năm đội cơ Hưng Hoá (triệu mộ).


    Tỉnh Tuyên Quang, 3 đội cơ Tuyên hùng (giản điểm). Năm đội cơ Tuyên Quang và đội Tuần thành (triệu mộ).


    Tỉnh Bắc Ninh, 2 cơ Cự oai và Bắc thuận, mỗi cơ có 10 đội. Bốn đội cơ Bắc Ninh, 3 đội Tượng cơ, và đội Pháo thủ (triệu mộ).


    Tỉnh Thái Nguyên, 9 đội cơ Thái hùng (giản điểm). Bảy đội cơ Thái Nguyên (triệu mộ).


    Tỉnh Lạng Sơn, 9 đội cơ Lạng hùng (giản điểm). Bốn đội cơ Lạng Sơn, 10 đội cơ Hiệu thuận (triệu mộ).


    Tỉnh Cao Bằng, 10 đội cơ Cao hùng (giản điểm). Bốn đội cơ Cao Bằng (triệu mộ).


    Lại về việc phân xử binh lính đào ngũ : trước kia, mỗi đội có 4 thập, hoặc 8 thập, không đều, nhưng cứ lấy số lính đi trốn và thiếu trong thập mà tính để khép tội. Nay đã đặt lại Đội trưởng và Ngoại uỷ đội trưởng, mà bỏ bớt Suất thập, cũng xin châm chước lệ trước để thi hành cho được chu đáo. (Phàm giản binh trong đội mà trốn đến 6 người, thì Đội trưởng và Ngoại uỷ đội trưởng mỗi người đều phải phạt 20 roi, Suất đội phải phạt 10 roi, cứ mỗi 3 người trốn thì tăng tội lên một bậc. Dinh Vũ lâm, hàng đội mà trốn đến 12 ngươi thì Đội trưởng và Ngoại uỷ đội trưởng mỗi người phải phạt 20 roi, Suất đội phải phạt 10 roi, cứ thêm mỗi 6 người trốn thì lại tăng tội lên một bậc. Hàng vệ mà trốn đến 60 người thì Quản vệ phải phạt 20 roi, cứ thêm mỗi 30 người trốn thì lại tăng tội lên một bậc và tội chỉ phạt đến 100 trượng. Mộ binh hàng đội mà trốn đến 10 người thì Đội trưởng và Ngoại uỷ đội trưởng mỗi người phải phạt 20 roi, Suất đội phạt 10 roi, cứ thêm mỗi 5 người trốn thì lại tăng tội lên một bậc và tội chỉ phạt đến 80 trượng. Hàng vệ mà trốn đến 100 người thì Quản vệ phải phạt 20 roi, cứ thêm mỗi 50 người trốn thì lại tăng tội lên một bậc và tội chỉ phạt đến 100 trượng. Phàm khi đã bị xử phạt như thế, Đội trưởng và Ngoại uỷ đội trưởng thì phải đánh ngay, còn Quản vệ và Suất đội thì được chiếu lệ giáng phạt).


    Vua chuẩn y lời bàn ấy. Sau đó, bề tôi bộ Binh lại tâu : “Suất thập, nay đã rút bỏ đi, phàm có việc gì sai phái đến toàn tội, thì xin phái cả Suất đội và Đội trưởng với Ngoại uỷ đội trưởng cùng làm. Nếu chỉ phái 25 người thì 1 Đội trưởng và 1 Ngoại uỷ đội trưởng cùng quản lĩnh đem đi, ngoài ra cứ lấy đó mà suy ra.


    “Lại nữa, hạng mộ binh, xin cứ theo số nhiều, ít hiện có mà chước lượng đặt ra. Thí dụ : từ 40 người trở lên, thì chiếu theo lệ đặt 2 Đội trưởng và 2 Ngoại uỷ đội trưởng ; từ 30 đến 39 người thì đặt 2 Đội trưởng và 1 Ngoại uỷ đội trưởng ; từ 20 đến 29 người, thì đặt 1 Đội trưởng và 1 Ngoại uỷ đội trưởng, từ 19 người trở xuống thì chỉ đặt 1 Đội trưởng, đợi khi mộ đủ số lính sẽ lại thi hành như lệ định”. Vua y theo.


    Cho Kiến An công Đài : về số lương thân công bị phạt một năm, nay chia làm 2 năm, mỗi năm chiết trừ một nửa cấp cho một nửa để chi dùng. (Trước đây, Đài vì khinh suất sai người thuộc hạ trong phủ ra ngoài sinh sự, nên bị phạt).


    Lãnh binh Quảng Trị Nguyễn Văn Nghị vì già yếu về hưu. Cải bổ Lãnh binh Quảng Nam Nguyễn Cửu Đức làm Lãnh binh Quảng Trị.


    Tỉnh Sơn Tây có bọn thổ phỉ hơn 1.000 tên, ẩn hiện ở huyện hạt Yên Lạc và Lập Thạch. Tỉnh phái quan quân đi dẹp, bọn giặc lại quay sang miền rừng Bình Tuyền tỉnh Thái Nguyên ở bên cạnh mà đi. Bọn quan tỉnh là Đỗ Huy Cảnh đem việc tâu lên.


    Vua dụ rằng : “Địa hạt các ngươi có một vài bọn giặc sổng, thường thường thừa cơ lén lút ló ra. Một khi quan quân kéo đến thì lập tức tản đi. Chúng thường cho thế là đắc sách. Các ngươi có trọng trách ở địa phương, nên tìm nhiều phương pháp, nghiêm đốc các bộ biền hết sức bắt giặc, hoặc dụ giặc bắt chém nhau mà ra đầu thú, cốt sao bắt được tên đầu sỏ đến làm án để trừng trị”.



















    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển cxvi



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Quý Tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14 [1833], mùa đông tháng 12, giặc Xiêm xâm đất Trấn Tĩnh thuộc Nghệ An, lại đưa thư sang Trấn Ninh đòi lại những dân Vạn Tượng còn sót. Bọn Bố chính, án sát là Nguyễn Đình Tân và Vũ Đĩnh được tin báo, liền bàn uỷ Lãnh binh Nguyễn Văn Tạo đem 300 biền binh đi Trấn Tĩnh và kiêm lĩnh cả số quan quân phái đi trước để tuỳ cơ đánh dẹp. Lại phái Phó vệ uý vệ Tráng võ là Tống Phước Minh đem 300 quân đi Trấn Ninh phòng bị, rồi đem việc tâu lên.


    Vua phê rằng : “Kẻ kia chẳng qua xa dương thanh thế để chuyên nhằm vào việc Chân Lạp đó thôi. Trước đây quân thứ An Giang đã thắng trận ; hiện nay lại được toàn thắng, như vậy, việc nước ta đã êm rồi, giặc Xiêm lại còn làm gì được nữa ? Các ngươi đã phái quân đi phòng thủ ngoài biên là được rồi !”.


    Vua dụ Nội các rằng : “Trước đây, vì thổ phỉ ở Lạng Sơn và Cao Bằng đã dẹp, nên đã dụ sai Tổng thống Tạ Quang Cự và Tham tán Vũ Văn Từ hát khúc khải hoàn, rút quân về. Nhưng gần đây lại tiếp tin biên báo của Nghệ An, nên truyền dụ cho Tạ Quang Cự : nếu về đến Nghệ An thì lưu lại ngay ở tỉnh mà tuỳ nghi điều khiển, đợi trong một tuần, việc biên cảnh được yên sẽ về Kinh yết kiến. Còn Vũ Văn Từ thì cho do đường trạm, về Kinh trước”.


    Bấy giờ vừa lúc Tạ Quang Cự có sớ tâu nói : “Tham tán Vũ Văn Từ tiến đến châu Thông Nông giáp đầu Bảo Lạc, dò các thổ dân thì họ đều nói : đạo quân Tuyên Quang tiến phá Ngọc Mạo, giặc Vân cạo trọc đầu, lẩn trốn. Sau đó, quan quân rút đi thì Vân lại chiêu tập bọn người Triều Châu nhà Thanh, độ 7, 8 trăm người, lại kéo về Ngọc Mạo, rồi lại chia đảng, chiếm cứ Mật Lũng, Du Lũng thủ hiểm. Vậy xin hãy lưu lại ở thành Cao Bằng để trấn áp, khiến cho Vũ Văn Từ chuyên sức về việc tiễu phỉ. Độ một tuần, sự việc dần yên, sẽ lập tức theo lệnh rút quân về”.


    Vua dụ rằng : “Tên tướng giặc Nông Văn Vân đã bị quan quân đánh tan, phải cạo đầu trốn thoát, lại còn dám học tập bọn vô lại còn sót, mưu đồ chống lại. Vậy chuẩn cho Tạ Quang Cự hãy tạm lưu lại Cao Bằng, rồi nên phái thêm biền binh theo Vũ Văn Từ đi bắt giặc, để làm cho mạnh thanh thế. Nếu một mình Vũ Văn Từ khó làm nổi thì lập tức phái thống lĩnh đại binh tiếp đến, cốt sao san sào huyệt của giặc thành bình địa, nếu bắt hay chém được Nông Văn Vân thì càng tốt, còn nếu nó sợ oai quân ta mà lại trốn trước thì cũng đừng nên khắp núi rừng lùng thú dữ, mà lập tức nên cùng Vũ Văn Từ lên đường rút quân khải hoàn”.


    Hạ lệnh cho Bắc Ninh tải 300 phương muối trắng ở kho tỉnh lên trữ tại Lạng Sơn, rồi trích lấy 1.000 phương tải sang Cao Bằng.


    án sát Cao Bằng Trương Sĩ Quản tâu rằng : “Tỉnh thành tuy đã thu phục, nhưng tên nghịch Cận và nghịch Huyền cùng với nghịch Vân ở giáp giới còn chưa bắt được. Thiết tưởng : sau khi đại binh rút về, thành trì chưa được vững bền, quân nhu lại thiếu thốn, một khi tro tàn giặc giã lại nhen, thì dân Man, Lạo chưa chắc đã yên tĩnh. Vậy xin chuẩn cho lính dinh Thần sách và quân các tỉnh hơn 1.000 người lưu lại, đợi thự Bố chính Hoàng Văn Tú đến tỉnh lỵ sở liền cùng Lãnh binh Nguyễn Văn Thuận đem đi thẳng đến đánh phá Mật Lũng và Du Lũng thuộc Bảo Lạc, để lùng bắt bọn tướng giặc, ngõ hầu địa phương mới giữ được yên ổn lâu dài”.


    Vua dụ rằng : “Đã có chiếu chỉ cho Tổng thống Tạ Quang Cự lưu lại ở tỉnh ngươi, trong mươi ngày tuỳ tiện bắt giặc. Ngươi nên phủ dụ nhân dân lo chứa lương thực, cốt sao có thể tự cường, bất tất phải vội xin đem binh đi, chỉ nói suông không ích gì.


    “Lại vì các súng đại bác ở Cao Bằng bị thất lạc rất nhiều. Lại sai Tạ Quang Cự trong khi rút quân phải trích ra lưu lại súng thần công và súng quá sơn, mỗi thứ 20 cỗ kèm theo đạn dược để giữ tỉnh thành. Lại sai Tuần phủ Lạng - Bình là Lê Đạo Quảng bàn cùng Bố chính Cao Bằng cho mua gang vụn để đúc súng Hồng y đại bác, đường kính lòng súng rộng trên dưới 2 tấc 2 phân, cốt 20 cỗ, để chia đặt tại 2 tỉnh thành”.


    Vua dụ bộ Lại rằng : “Tỉnh Cao Bằng nay mới thu phục, một lần sắp xếp công việc bề bộn, cần phải bổ thêm tá lãnh và lại dịch để giúp đỡ công việc. Vậy ra lệnh cho tỉnh Lạng Sơn lựa lấy độ 6, 7 người Bát, Cửu phẩm và Vị nhập lưu thư lại ở
  • Chia sẻ trang này