0060.0097

14/1/16
0060.0097
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    trong 2 ty Phiên, Niết ((1) Tức ty Bố chính và ty án sát.1) để chuyển bổ sang Cao Bằng. Và số do Bắc Ninh chuyển bổ sang Lạng Sơn cũng vậy. Phàm những người mới bổ đều cho được thăng một bậc, khiến cho phấn khởi làm việc. Còn số Bát, Cửu phẩm, Thư lại ở tỉnh Bắc Ninh nếu có thiếu thì do tỉnh thần chọn người mà bổ, số Vị nhập lưu thư lại có thiếu thì mộ người ngoại sở làm quan bổ sung vào”.


    Lại dụ bộ Binh rằng : “Trước đây, tỉnh Cao Bằng bị giặc vây, chưa được bao lâu đã đến bị thất thủ. Đó vì tỉnh thành thực không thể giữ được, chỉ chuyên trông cậy vào đồn núi, mà đồn núi cũng không được kiên cố cho lắm nên mới đến nỗi thế. Nay tính việc thiện hậu nên trù liệu sẵn. Vậy, truyền dụ cho bọn Hoàng Văn Tú và Trương Sĩ Quản : hội đồng bàn định cùng nhau, mượn dân vát lính sửa đắp tường thành, bề ngoài phải cắm nhiều chông chà rồi dời các kho tàng vào trong thành. Còn đồn núi nào gần sát với tỉnh thành thì cũng tuỳ hình thế mà sửa lại ; chỗ nào có thể phòng thủ giữ được cho tỉnh thành thì nhất luật khởi công làm cả, cốt sao cho được chỉnh đốn và kiên cố.


    Lại cho rằng đất Lạng Sơn là xung yếu, mà tỉnh thành thì quá rộng, lại đổ nát nhiều, bèn Dụ cho bọn Lê Đạo Quảng và Trần Huy Phác : xét xem hình thế, chỗ nào nên sửa và xây lại như cũ, chỗ nào nên đắp mới, cốt phải rút bớt thân thành, khiến cho được vừa phải, rồi cần phải xây bao lấy một nửa núi Bạch Mã để chiếm lấy thắng thế, để tiện cho việc phòng ngự. Bàn tính rồi tâu lên.


    Chuẩn định : từ nay, giá gạo ở các địa phương nếu cao hay hạ từ 3 tiền trở lên thì lập tức tâu lên ; nếu không đến số đó thì đợi kỳ tâu báo giá gạo, sẽ phụ trình, chứ đừng tất tưởi ruổi ngựa tấu báo, nhọc mệt chạy trạm vô ích. Việc này được chép làm lệnh (lệ trước giá gạo hơn, kém từ một tiền trở lên cũng lập tức tâu báo).


    Vua cho rằng trước đây Bắc Kỳ có việc, số lính trạm Thái long thuộc Thái Nguyên có ít, phải vất vả trong việc chạy trạm, bèn thưởng cho 20 quan tiền và 10 phương gạo.


    ở Hà Nội, tên giặc trốn, nguỵ xưng là Đốc vận Đinh Văn Hiên (đồ đảng Quách Tất Tế ở Sơn Âm) lén đi Mỹ Lương chiêu dụ đồ đảng. Đồng tri phủ ứng Hoà là Lê Nguyên Giám thân đem thủ hạ và dân phu chặn đường bắt được. Việc tâu lên, thưởng cho Nguyên Giám kỷ lục một thứ.


    Tham tán quân thứ An Giang là Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân đóng binh thuyền ở Thuận Cảng, chống nhau với giặc, bỗng có người Chân Lạp là Ma A Mân Tri Sốc từ trong đám giặc ở Nam Vang đến đầu hàng quân thứ và nói : Tướng Xiêm, Phi Nhã Chất Tri cùng em thứ hai Phiên vương, có độ hơn 10.000 quân còn đóng ở thành Nam Vang. Người đem quân đến đánh Châu Đốc là tì tướng Phi Nhã Liêm Cầm Hiên, binh thuyền có đội 200 chiếc, mỗi chiếc có độ trên, dưới ba, bốn chục người, đều lẫn lộn cả người Xiêm, người Lạp, người Mán, người Lạo, hay người nhà Thanh, hắn lại nghe tin Phi Nhã Phạt Lăng đem độ 150 chiếc binh thuyền từ Hà Tiên đến, binh sắc phần nhiều là các người Xiêm, Lạp, Đại Thanh, Chà Và theo đạo Gia Tô. Thuyền lớn độ 100 người, thuyền vừa có độ năm, sáu mươi người, thuyền nhỏ độ ba, bốn mươi người, hợp cùng quân của Phi Nhã Liêm Cầm Hiên cùng tiến lên Thuận Cảng sông Hậu Giang để chống nhau với quân ta. Lại nữa, quân tuần tiễu bắt được một giáo đồ Gia Tô là Lê Văn Công và nói : “Còn Trưởng giáo Gia Tô tên là Thuận ở nước Xiêm, dụ được hơn 2.000 người, gồm có Xiêm, Chân Lạp, người Đại Thanh và người Chà Và theo đạo Gia Tô còn ở phía sau, chưa đến”. Bọn Trương Minh Giảng cho rằng giáo đồ Gia Tô phần nhiều theo giặc, ngầm thông tin tức, nên lập tức chém đầu Lê Văn Công và đem tình hình tâu lên.


    Vua dụ rằng : “Đó chẳng qua là phô trương số hão mà thôi ; huống chi quân giặc từ xa kéo lại, vị tất đã am hiểu đường đất. Nhiều lần ban chỉ dụ về cơ mưu đánh dẹp, cũng đã rõ ràng rồi. Các ngươi nên ra quân kỳ để giành phần thắng, cốt sao cho dẹp tan được bọn giặc, xứng đáng với việc đã giao cho”.


    Vua lại dụ Nội các rằng : “Trước đây, phái quan quân đi việc quân ở Nam Kỳ, ta đã hạ chỉ dụ cho các hạt từ Phú Yên đến Bình Thuận, phải dự bị nhiều thuyền hộ tải cho đỡ sức quân, nhưng nay nghĩ : thuyền bè các tỉnh có khi không đủ dùng mà nếu cứ câu nệ theo chđcụ trước, thì e có lẽ chậm chạp lỡ làng việc quân trẩy. Hiện nay, quan quân chắc đã đi qua địa phận hạt Phú Yên rồi, vậy sai bộ Binh truyền chỉ cho Khánh Hoà và Bình Thuận : phải trù bị trước một số thuyền bè, nếu tiếp được quan quân kéo đến, thì lập tức chiểu theo số thuyền phân phối vào ngồi để nhanh chóng tiến đi, còn bao nhiều thì đều do đường bộ đi ngay. Lại nữa, binh thuyền do Kinh phái đi, cũng đã sắp đến cửa biển Gia Định, vậy truyền dụ cho bọn Tổng đốc Nguyễn Văn Trọng, Tuần phủ Hà Duy Phiên, phái ngay một viên Bố chính hoặc án sát, vát nhiều dân thuyền đi đón trước ở ngoài cửa biển. Khi binh thuyền kéo đến, nếu là thuyền nhỏ thì lập tức cho tiến đi đánh dẹp, còn thuyền lớn thì phải góp sức kéo đi, hoặc lấy dân thuyền bốc khí giới thuốc đạn, chở trước đến quân thứ để cấp phát, khiến cho thuyền lớn được nhẹ ngược dòng mà tiến, ngõ hầu mới được nhanh chóng”.


    Thưởng cho từ Suất đội trở lên, ở 2 vệ Hùng võ, Dũng võ của Bình Định, vệ Nhuệ võ của Khánh Hoà và vệ Thần võ của Bình Thuận, mỗi người một chiếc áo trận, sai thị vệ mang đến quân thứ để ban phát cho. Lại vì hai vệ Hùng võ và Dũng võ tiến quân đúng kỳ hạn, bèn dụ cho Tổng đốc Bình - Phú Vũ Xuân Cẩn, trước ở dưới tên có ghi bị giáng một cấp, nay cho khôi phục ngay, Bố chính Bình Định Đặng Đức Thiệm, án sát Phạm Thế Trung, đều được thưởng kỷ lục một thứ. Tỉnh Phú Yên vì vát thuyền hộ tống được nhanh chóng, nên viên thự Tuần phủ Nguyễn Công Liêu trước dưới tên có ghi bị giáng một cấp, nay lập tức cũng cho khai phục ; thự án sát Vũ Đức Mẫn cũng được ban thưởng kỷ lục một thứ.


    Sai Bình Định và Quảng Ngãi mỗi tỉnh phải chế tạo 2.000 cây trường thương ; Quảng Nam, Phú Yên, Khánh Hoà và Bình Thuận mỗi tỉnh 1.000 cây trường thương. Và các súng điểu sang chứa trong kho, phàm các đồ phụ tùng như bao da trâu, ống hồng và bầu lớn đựng thuốc súng, phải kiểm tra lại xem nếu thứ nào hư nát hay thiếu thốn, thì đều phải sửa chữa hoặc làm lại đầy đủ để dùng.


    Thảo nghịch Tả tướng quân Tống Phước Lương và Tham tán Trần Văn Trí tiến đến quân thứ Thuận Cảng, cùng Tham tán Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân, chia nhau đốc suất binh thuyền lớn đóng ngang ở trong cảng, dùng đại bác bắn ra, lại bày trận ở hai bên bờ, bắn súng để chống cự quân ta, giao chiến từ giờ Mão đến giờ Tỵ, giặc bị thương vong nhiều, chống cự lại rất hăng. Những viên bị cách chức đi hiệu lực là nguyên Phó vệ uý vệ Túc võ Đinh Văn Tự và nguyên Thành thủ uý An Giang Nguyễn Đăng Luận đều tử trận. Tham tán Trần Văn Trí cũng bị thương vì đạn lạc. Vệ uý Ban trực Tả vệ là Phạm Hữu Tâm đem một chi binh lên cạn, đánh vào đồn tả ngạn của giặc, tự giờ Tỵ đến giờ Mùi cũng không hạ được đồn, thuyền của Tống Phước Lương rút lui trước, các quân đều rút theo. Trương Minh Giảng đem binh lính thuộc bộ mình, lưu lại đợi Phạm Hữu Tâm xuống thuyền rồi cũng rút lui. Chiều đến về đến thủ sở Chiến sai cũ ở Tiền Giang, rồi sai người đi truy mời các tướng trở lại, chọn nơi thiết lập đồn trại để phòng ngự. Rồi phi tư cho quân thứ Gia Định vát thêm binh thuyền và tức tốc phái ngay Thái Công Triều đi hội tiễu. Bọn Tướng quân Trần Văn Năng liền sai Thái Công Triều đem hơn 300 quân hương dõng bản bộ và 5 chiếc thuyền đi theo sai phái. Trần Văn Trị đeo vết thương, quay về Gia Định điều trị. Việc lên đến vua.


    Vua dụ rằng : “Khi giặc Xiêm vào lấn, về lý, nó đã là gian, về quân, lại là ô hợp, không phải là quân có kỷ luật. Trước đây, bọn Tham tán Trương Minh Giảng, lấy ít đánh nhiều, còn thắng trận luôn. Nay Tống Phước Lương thân làm đại tướng, binh quyền đem đi chắc không phải ít, vậy mà không đánh lui được quân giặc mà biền binh lại có người bị thương vong. Những chỗ được không đủ bù cho cái thua thiệt ! Tất nhiên do vì điều khiển sai lầm mà gây nên thế thôi ! Vậy, truyền chỉ nghiêm quở Tống Phước Lương”.


    Tham tán Trần Văn Trí, từ khi được cất nhắc đi tòng chinh đến nay, nhiều lần lập được công lao, nay bỗng bị thương vì đạn lạc, tình thực đáng thương ! Vậy ra lệnh cho Hà Duy Phiên, Tuần phủ Gia Định thượng khẩn vát ngay y sinh đến điều trị, sao cho chóng khỏi, để ta yên lòng. Và lấy ra trong kho Nội phủ 3 chi sâm Cao Ly thượng hảo hạng, phái thị vệ mang đi ban cho Trần Văn Trí. Còn trận vong là Đinh Văn Tự và Nguyễn Đăng Luận, đều được khai phục nguyên hàm, và chiếu theo phẩm mà cấp tiền tuất.


    Quân giặc ở xa kéo đến, ta lợi ở đánh ngay. Nay lại đóng quân ở Thuận Cảng, giặc muốn mưu đồ cầm cự dài lâu. Tình thế ấy quyết không làm được. Đường sông An Giang có nhiều ngả rất là hiểm yếu. Nên xét kỹ cơ mưu đánh và giữ, hoặc đem đại quân chặn đường trước mặt, không cho quân địch tiến lên một tấc đất nào, lại phái một cánh quân, theo đường tắt vòng ra đằng sau địch để cắt đường vận lương của chúng, hay là ngả cây cối xuống, lấp chặt đường đi, chẹn chỗ hiểm yếu để mưu chống giữ, thì quân giặc ở cửa Thuận Cảng cuối cùng rồi cũng đến khốn đốn mà chết. Nếu quân giặc có đem binh quay lại, thì thế tất phân tán, sức tất yếu đi. Khi đó, ta tiến công quyết phải thắng. Tướng quân và Tham tán nên khéo mưu tính lấy.


    “Lại nữa ở Kinh, nay mang ra gấm, đoạn, sa, trừu 60 tấm và sai tỉnh Gia Định tải đi 1.000 lạng bạc và 400 tấm thưởng công ngân bài, đều giao cho Tướng quân và Tham tán. Vậy, nên truyền khắp cho các tướng, biền, binh, dõng : nếu ai hăng hái quên mình, xung phong giết giặc, thì sẽ tuỳ công lớn nhỏ, lập tức thưởng cho gấm, đoạn và bạc lạng, không tiếc. Rồi cứ thực tâu lên, sẽ lại ban ơn thưởng nữa. Nếu kẻ nào nhút nhát chùn lại, không dám tiến, thì tự Quản vệ, Quản cơ trở xuống cũng chém ngay trước quân, để tỏ rõ sự thưởng phạt nghiêm minh, cương quyết, thì ai nấy đều nghĩ giết giặc lập công, giặc cướp sẽ sớm yên được”.


    Lại sai bộ Binh tư cho quân thứ An Giang : Nếu được đại thắng thì nên dùng cờ đỏ báo tin thắng trận một lần, trên lá cờ viết 4 chữ lớn “Sát thoái Xiêm khấu”((1) Đánh lùi giặc Xiêm.1), sau này nếu lại thu phục được Hà Tiên và An Giang thì cũng làm cờ đỏ báo tin thắng trận, nếu lại đánh dẹp, giặc Xiêm tan vỡ hết thì nên thượng khẩn dùng cờ đỏ phi báo tin thắng trận, cờ đề chữ lớn “Đãng bình Xiêm khấu"((2) Dẹp tan giặc Xiêm.2).


    “Lại tiếp tục phát đệ tập tấu bìa vàng ngoài bọc giấy đỏ trong ghi những sự trạng đánh giặc để tấu báo về công lớn đã hoàn thành. Phàm khi phi đệ cờ đỏ thì sức trước cho lính trạm : gặp những chỗ thành thị đông người thì ở trên mình ngựa, hô lớn những chữ đã viết ở trên lá cờ (như : Đánh lui giặc Xiêm, Thu phục An Giang, Thu phục Hà Tiên, Dẹp tan giặc Xiêm, Cờ hồng báo tiệp v.v...) khiến cho mọi người đều biết”.


    Vua sai truyền dụ cho các Tướng quân và Tham tán ở quân thứ Gia Định rằng: “Nay người Xiêm vào sâu gây sự về lộ An Giang đã có binh thuyền của Tống Phước Lương, Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân chống đánh. Hiện nay, đại đội thuỷ lục do Kinh phái đi, chắc cũng đã đến quân thứ, thì lập tức phái thêm hơn 5.000 quân đi hiệp tiễu, để nhờ đó được đắc lực hơn thì có thể chống được giặc. Duy còn đường bộ Quang Hoá đáng nên để ý đề phòng hơn hết. Còn như nghịch Khôi, chẳng qua chỉ là thằng giặc cố chết giữ thế thủ, vậy không nên chuyên chú để ý vào nó mà xao lãng việc phòng bị giặc ngoài. Các ngươi nên phái vài nghìn binh dõng thiết lập những đồn trại lớn trên các đường đó. Chẹn giữ những lối từ Nam Vang có thể thông đến Gia Định, để tuyệt đường kéo sang của quân địch. Hiện nay, những voi trận của các tỉnh điều đến, để ở quân thứ Gia Định cũng không dùng gì, nên đem giao tất cả cho Vệ uý Nguyễn Văn Thị quản lĩnh, trước sau 30 con, tức tốc cho theo đại binh, tiến ra đường bộ Quang Hoá phòng ngự cho nghiêm mật, chớ để quân giặc tiến sâu vào thêm một bước. Lại tải thêm 10 cỗ súng đại luân xa hồng y pháo, thuốc đạn đầy đủ, chia đặt ở các nơi đồn trại tại những chỗ xung yếu, vô sự thì thôi, nếu có báo động thì hoặc một Tướng quân hay một Tham tán đem đại binh tiến lên cáng đáng lấy mặt này, cốt sao đánh lùi giặc Xiêm, chớ để chúng tiến đến một tấc đất. Việc này quan hệ không nhỏ, ta đã hai ba lần huấn thị rồi. Các ngươi nên khéo mưu đồ lấy, không được sai trái”.


    Sai bộ Công châm chước nghĩ định chương trình dự trù vật liệu đóng hoặc sửa thuyền. Bộ Công cho rằng gỗ ván dày, mỏng, dài, ngắn, nhiều, ít không đều nhau, vật liệu cần dùng theo đó mà có khác. Thực khó, mỗi cái một ấn định trước được. Vậy xin cho theo lệ trước : phàm có đóng hay sửa hạng thuyền nào thì phái thuộc ty trong bộ hội đồng với viên Giám tu để xem xét mà làm, rồi căn cứ vào các vật liệu đã dùng, ghi chép tường tận, xác thực. Khi xong việc, viên Giám tu cứ theo sự thực, lập thành sổ sách, đệ trình, do bộ duyệt lại về số đã chi tiêu. Nếu có sự hà lạm, ăn bớt, sẽ trị tội nặng. Vua chuẩn y cho.


    Cai đội ở cơ Thái hùng thuộc Thái Nguyên Đinh Quang Tiến, trước theo thổ phỉ, nay ra thú. Tổng đốc Ninh - Thái Nguyễn Đình Phổ đem việc tâu lên. Vua tha tội và cho theo việc sai phái, gắng sức chuộc tội.


    Tướng giặc Hà Tĩnh là Phan Bô tụ họp bè đảng, ẩn hiện ở các hạt Thạch Hà và Kỳ Hoa, cướp bóc dân quê.


    Vua nghe tin, bảo bộ Binh rằng : “Bọn giặc Phan Bô, trước đây, ta đã có chiếu Chỉ nghiêm định kỳ hạn cho tra bắt, nay còn dám hoành hành, mà địa phương không thấy tấu báo gì, há chẳng phải là có ý giấu việc giặc cướp đó ư ? Vậy truyền Dụ cho bọn Lê Dục Đức phải tâu ngay về sự trạng tuần phòng và tình hình động tĩnh ở dân gian. Xét kỹ trong các bộ biền phái đi, ai là dũng cảm xuất sắc thì cứ thực tâu bày để đợi Chỉ khen thưởng, đề bạt, nếu kẻ nào sợ hãi chùn lại thì nghiêm hăc để trừng trị.


    án sát Hà Nội Nguyễn Hữu Gia chết. Dùng án sát Hưng Yên Nguyễn Nhược Sơn làm án sát Hà Nội ; Lang trung bộ Hình Nguyễn Trữ làm án sát Hưng Yên.


    Chuẩn định Thừa Thiên và các địa phương, từ nay phàm cái dấu bằng sừng tròn và thẻ trạm các nhà trạm được cấp trước, nếu nay có hư nát hay thất lạc thì cho Thượng ty sở tại theo đúng các thức chế tạo cái khác, không nhất khái phải theo như lệ trước, xin ban cấp.


    Giặc Xiêm xâm phạm phủ lỵ Trấn Tĩnh, tỉnh Nghệ An. Vệ uý vệ Trung võ thuộc tỉnh phái là Nguyễn Đức Long ở đồn Định Biên, đem quân cự chiến. Quân giặc đông nhiều, súng ống bắn tơi bời. Quân ta ít, không địch nổi, bèn lui vào động Giàng Màn, giặc liền phóng lửa đốt đồn phủ. Nguyễn Đức Long lại nghe tin cha con Chuyên Cương làm hướng đạo cho giặc, lo bị đánh tập hậu, nên lại chuyển về đóng ở khe Nhự ổi (chỗ này có 2 đường thông với châu Quy Hợp và sách Trú Cẩm). Tuyên uý Đồng tri Tuân Kỳ, cùng thổ dân và bọn Chiêu Thiển là con Quốc trưởng Vạn Tượng nguyên ngụ ở đầu địa giới phủ Trấn Định (sông này là chi nhánh của sông Khung, thuộc đầu địa giới huyện Cam Cát). Hai huyện Cam Cát và Cam Môn báo với tấn sở và thủ sở ở bến sông xin quân phòng ngự. Bọn Bố chính, án sát Nguyễn Đình Tân và Vũ Đĩnh được tin báo, lập tức phi tư cho Lãnh binh Nguyễn Văn Tạo đem quân thẳng đến sách Trú Cẩm tuỳ cơ đánh dẹp. Và sức cho bọn Chiêu Thiển đi theo quân thứ để sai phái, còn gia quyến cho ở yên tại tấn sở Quy Hợp.


    Lại phái Phó vệ uý vệ Tráng võ là Nguyễn Văn Thu đem 200 biền binh đi Trấn Định, chọn đất đóng đồn, và đốc suất thân binh và dân do ba huyện Cam Cát, Cam Môn và Cam Linh đã điều bát tập hợp theo địa hạt mà phòng bị nghiêm ngặt, lại cho rằng phủ Trấn Định giáp giới với địa đầu Hương Sơn, nên phi tư cho Hà Tĩnh phái binh ra tiếp ứng ở Ngạn Phố. Rồi đem việc tâu lên.


    Vua dụ rằng : “Về việc chia quân phòng thủ các người sai phái đều đã hợp nghi. Chỉ duy các phủ đất mới, đường núi nhiều ngả, vậy truyền chỉ cho Lãnh binh Nguyễn Văn Tạo và bọn Quản vệ : phàm quân ta đi đến đâu thì phải truyền sức cho Thổ tri châu và Thổ tri huyện sở tại tập họp nhiều thổ dõng và khí giới, chia đi phòng ngự các nơi xung yếu, giết được quân giặc, cốt sao đánh cho giặc Xiêm một trận rất nặng, đuổi ra khỏi cõi, khiến chúng không dám lại xâm lấn nữa, thì tất có trọng thưởng.


    “Còn như Nguyễn Đức Long mới thoạt gặp giặc, không dám hăng hái tiến lên, thật là hèn nhát, vậy trước hãy giáng 2 cấp. Lại nữa : nay đương lúc có việc sai phái, các ngươi nên chiêu mộ những dân ngoại tịch, cần được 1.000 người, cấp cho khí giới và tiền, lương, dồn lập thành đội, mỗi đội 50 người, lựa lấy 2 người đầu mục đặt làm Ngoại uỷ suất đội. Mỗi 10 đội đặt làm một vệ, rồi lựa lấy 2 Cai đội hoặc 2 Quản cơ thuộc tỉnh quyền sung làm Quản vệ và Phó vệ đều do tỉnh cấp văn bằng để cho cai quản, đốc suất”.


    Bọn Tân tâu nói : “Hiện nay, biên cương có động, việc bắt giặc đương khẩn cấp, nếu cứ tất phải dân ngoại tịch mới cho ứng mộ, thì thiết tưởng không được là bao. Vậy xin : không cứ là dân nội tịch hay ngoại tịch đều cho ứng mộ cả”.


    Vua sai truyền Dụ rằng : “Đương buổi có việc sai phái, nếu ai tình nguyện ứng mộ, lập công, thì dẫu là dân nội tịch, có hại gì ! Nhưng cũng nên chước lượng : nếu quan quân đã từng đánh lùi được giặc Xiêm, các hạt đất mới dần được yên ổn, thì nên đình chỉ ngay việc xin mộ cả dân nội tịch”. Lại vì kho tỉnh tích trữ chưa đủ, truyền cho Thanh Hoa tải đến 30.000 phương gạo kho.


    Sai bộ Binh mật dụ cho Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoa, Ninh Bình, Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh, Sơn Tây và Hải Dương đều gộp hết thảy xem số biền binh thuộc tỉnh mình và số lính thú hiện có bao nhiêu, lập tức làm thành mật tập tâu lên. Phàm các công tác tạp sai, ở tỉnh phải mượn dân làm, không được động dụng đến sức quân lính để họ được chuyên việc thao diễn.


    Thành thủ uý Bình Định là Trần Ngọc Thụ, nhân thấy biên thuỳ có giặc, tình nguyện ra sức lập công. Tổng đốc Vũ Xuân Cẩn vì Thụ mà tâu lên. Vua cho Thụ đi ngựa trạm đến quân thứ An Giang, do Tướng quân và Tham tán phái Thụ đốc suất cơ vệ đi tòng chinh.


    Tuần phủ Nam - Ngãi là Đỗ Khắc Thư thấy binh thuyền Đà Nẵng được phái đi dẹp giặc ở Nam Kỳ, có một chiếc thuyền không có đại bác đem theo, bèn tư lên bộ Binh xin phát súng, để phân phối bố trí. Vua quở rằng : “Hành binh là việc khẩn yếu, thế mà không dự trù trước, đến khi lâm sự mới loanh quanh tư hỏi, như vậy há chẳng chậm trễ đó sao ? Lập tức phạt Đỗ Khắc Thư 3 tháng lương. Chuẩn cho trích lấy 4 cỗ súng quá sơn và 2 cỗ súng hồng y ở đài Điện Hải và đạn dược mỗi thứ súng 50 phát, phái Phó vệ uý vệ Cẩm y là Lê Văn Phú do đường trạm tiến đi đốc thúc. Những biền binh đi trận chuyến ấy xin lĩnh tiếp tiền và lương ăn tháng sau, Đỗ Khắc Thư lại viện lẽ không có lệ, không chịu phát, Văn Phú lại đem việc tâu lên.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Về các binh thuyền được phái đi, ta đã dụ sai các tỉnh thần phải đến tận nơi xem xét liệu lý, thế mà một việc súng ống, khí giới và quân nhu, đã không trù tính làm sẵn, còn việc quân trẩy lương theo, khẩn yếu là dường nào, cũng lại câu chấp không chịu chi phát, sao không nghĩ rằng trong vòng sóng gió trên đường biển, muôn một chi dụng không đủ, hoặc để chậm trễ, làm lỡ việc quân cơ, thì lỗi ấy tại ai ? Vậy Đỗ Khắc Thư, giao xuống cho bộ nghiêm xét”.


    Rồi phi tư cho các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, mỗi tỉnh phái tải ra 5, 6 trăm phương gạo để trữ sẵn ở cửa biển, nếu thấy binh thuyền ghé vào thì lập tức cấp phát, không cần kê khai nhân khẩu, không cần đợi đơn xin lĩnh, đốc thúc tiến ngay.


    Khi lời bộ nghị tội dâng lên, Khắc Thư cuối cùng bị giáng 2 cấp.


    Chuẩn định : các địa phương từ nay nếu có sai phái hay trưng điệu biền binh mà đi đường biển thì không cứ là thượng tuần hay hạ tuần trong tháng, đều phải cấp trước cho tiền và gạo, lương tháng sau để chi dùng, đợi sau sẽ chiết trừ. Lại, từ nay, cứ trong tháng chạp hằng năm, những biền binh tại ngũ nếu phải sai phái đi việc quân, thì chuẩn cho thượng khẩn cấp trước tiền, gạo, lương tháng giêng năm sau. Những biền binh hiện đang lưu ban cũng chuẩn cho cứ thực số mà cấp lương trước. Còn sang năm tập hợp biền binh hạ ban cũng cứ theo lệ cấp phát. Việc này được ghi làm lệ.


    Tổng thống đạo Lạng - Bình Tạ Quang Cự tâu nói : “Thần đã phái binh dõng tiếp tục bắt được bọn phỉ trốn : nguỵ Quản cơ Nguyễn Khắc Chiếu, nguỵ Phó cơ Nguyễn Khắc Ngư, nguỵ án sát Nguyễn Khắc Dũ, nguỵ án thủ Nguyễn Khắc Mãn và nguỵ Cai đội, Phó đội cộng 19 tên, cùng mẹ và vợ với con ba người của tên tướng giặc Bế Văn Cẩn đều đã áp giải ra chợ chém đầu, còn 25 người thân thuộc của phạm nhân hãy cho tạm giam lại”.


    Vua sai thưởng tiền bạc cho binh dõng, có tầng bậc khác nhau. Còn những thân thuộc của phạm nhân đều cho làm nô ở những nhà vũ biền, cấp cao.


    Lại sai Thống chế Thần sách Trung dinh Hoàng Đăng Thận sung làm Tham tán đại thần, đi gấp vào Nam Kỳ. Khi đến quân thứ hoặc đi An Giang, hoặc lưu ở Gia Định, chuẩn cho hội đồng với các Tướng quân và Tham tán tuỳ cơ mà làm, chia nhau cai quản các ngạch binh dõng để đi đánh dẹp. Lại phái 2 y chánh và y phó viện Thái y đến quân thứ An Giang điều hộ các tướng sĩ.


    Sai thống chế Thần sách Hữu dinh Tôn Thất Bằng, kiêm lĩnh ấn triện Trung dinh.


    Các Tướng quân và Tham tán ở quân thứ Gia Định tâu báo tình hình trong quân, có nói : “Quan quân vây thành, ngày thường bắn súng đại bác vào trong thành, giặc đều lẩn tránh, không dám ra”.


    Vua dụ rằng : “Bắn súng đại bác, phải cho người trèo lên cao mà nhòm ngó, nếu thấy giặc ở trong thành hoạt động, thì mới nên nhắm bắn, cốt sao bắn phải cho trúng ; nếu không, mỗi ngày chỉ bắn năm, ba phát thôi, chớ nên một mực bắn phóng, làm phí thuốc đạn. Lại nữa binh dõng phòng thủ ở Trường luỹ, nếu có việc chiến đấu hay bao vây thì thôi, nếu có thời giờ nhàn rỗi thì nên nhân lúc ban đêm, đắp thêm các núi đất, cốt phải cao hơn tường thành năm, ba thước, thì từ trên núi đất, nhằm bắn vào những nơi ẩn trốn của giặc trong thành. Từ cao đánh xuống, mới có thể giết được nhiều giặc”.


    Cho Thái Công Triều làm Vệ uý, hiệp cùng các Tướng quân và Tham tán ở quân thứ An Giang thương biện các sự vụ quân cơ. Sai thị vệ mang ban cho [Công Triều] một chiếc áo trận.


    Vua sai truyền dụ các Tướng quân và Tham tán rằng : “Công Triều vốn am hiểu thông thạo tình hình người Man và địa thế trong đó. Nay phái đi quân thứ tòng chinh nếu có trình bày điều gì thì các Tướng quân và Tham tán nên xét kỹ mà châm chước thi hành, chớ coi khinh là hạng thấp kém mà át đi, không nghe lời nói phải. Nhưng không những chỉ Công Triều mà thôi, phàm tất cả các tướng biền nếu ai có mưu hay, kế giỏi, các ngươi cũng nên thu dụng, khiến người người đều được trổ hết sở trường, thì việc đánh giặc chóng được thành công. Lại, binh dõng mà Thái Công Triều nguyên trước cai quản, còn có những kẻ đã từng lưu thủ tấn sở Trường luỹ Gia Định, nay nên lượng trích lấy một vệ do Kinh phái vào để thay thế rồi cho theo đi sai phái tất cả”.


    Lại dụ Bình khấu Tướng quân Trần Văn Năng và Thảo nghịch Tướng quân Tống Phước Lương rằng : “Tống Phước Lương là đại thần trong nước, vốn am hiểu quân luật, nay uỷ cho việc quân lữ, tin rằng có thể sớm tâu công to. Vả lại sự tiễu trừ giặc Xiêm và vây đánh nghịch tặc, đều là việc trọng đại cả. Khi tờ dụ này đến, nếu đã đánh lui được giặc Xiêm rồi, thì lập tức nên hết sức đuổi đánh, cốt sao cho một trận dẹp tan quân giặc, nếu chưa gặp được cơ hội còn phải đóng quân phòng giữ, thì không nên miễn cưỡng ở lại trong quân vì ngươi vừa mới khỏi bệnh. Chuẩn cho mau mau đi riêng một chiếc thuyền luôn đêm về ngay quân thứ Gia Định, hiệp cùng Nguyễn Văn Trọng chuyên bàn mọi việc đánh dẹp. Còn các quan quân đều để lại giao cho Tham tán Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân coi quản để tiễu ngư. Khi đến Gia Định, Trần Văn Năng lập tức tiến lên An Giang để mưu đồ việc đánh dẹp. Việc này rất trọng đại, các ngươi chớ nên phân bì kia khác, ai nấy đều nên đồng lòng vì nước, gắng sức cần lao. Đến ngày quét sạch giặc Xiêm, ta cũng lục công một thể, quyết không thiên vị”.


    Tham tán đạo Lạng - Bình là Vũ Văn Từ kéo binh đến miền núi Niệm Chử, thì gặp hơn 500 quân giặc, đánh chém được 3 đầu giặc, bọn giặc đều tan vỡ, Tổng thống Tạ Quang Cự đem sự trạng tâu lên và nói : “Tự miền núi này thẳng tới Ngọc Mạo chỉ có một con đường độc đạo, sườn núi cheo leo phải đi như xâu cá mới tiến lên được. Nếu biền binh của ta đột tiến, đánh mặt này thì giặc chạy ra mặt kia, tính kế như vậy chưa được mười phần toàn vẹn. Vì vậy, thần đã tư đi hội cùng Vũ Văn Từ hãy tiến sát địa đầu Ngọc Mạo để chẹn những chổ hiểm yếu và nghiêm chặn đường giặc, rồi uỷ cho thám thính tin tức đạo binh Tuyên Quang, hẹn kỳ hội tiễu. Lại ở châu An Bác tỉnh Lạng Sơn, có hơn 1.000 giặc lén lút tụ tập. Binh dõng do tỉnh phái đi chưa đánh tan được. Khi tiếp được tin báo, thần cũng đã trích phái 200 biền binh hiện đương hành quân để theo đi điều khiển”.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Bọn giặc ở Vân Trung, trước đây, đã bị đại binh của Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ tiến đánh, sào huyệt tan tành, tướng giặc đã phải cạo đầu, chạy trốn, cầu sinh. Nay còn một vài đám lén lút tụ họp, đó chẳng qua chỉ là bọn lẻ tẻ tàn rạc mà thôi. Bấy giờ Vũ Văn Từ đã dẹp tan được, oai thanh ấy chắc đã chấn động khắp nơi. Và bọn Lê Văn Đức ở Tuyên Quang đã do đường lớn rút quân khải hoàn, thì Vũ Văn Từ cũng bất tất phải đuổi bắt mãnh thú đến cùng kiệt rừng núi làm gì. Vậy, truyền chỉ cho Vũ Văn Từ lập tức rút binh về Cao Bằng nghỉ ngơi, sang năm khải hoàn. Khi đến tỉnh chuẩn cho Tạ Quang Cự giao cho Vũ Văn Từ 1.000 biền binh để ở lại đó mà trấn áp rồi rút quân về trước. Đến như bọn tiểu yêu ở châu An Bác đã có nhiều binh dõng do Lê Đạo Quảng phái đi đủ giúp cho làm được nên việc. Lại truyền dụ cho Bắc Ninh và Hải Dương liệu phái biền binh tiến đến chỗ tiếp giáp bọn giặc quần tụ, họp sức hội tiễu, cốt chém hoặc bắt cho kỳ hết sạch bọn phỉ, đừng để sót lại một mống.


    Sai thị vệ mang ban cho Tổng thống Tạ Quang Cự và Tham tán Vũ Văn Từ mỗi người một chiếc áo cừu bằng lông bạch thử.


    Bắc Ninh có tên giặc trốn là Nguyễn Đình Thể tụ tập đồ đảng 500 người, quấy nhiễu cướp bóc huyện Yên Thế. Đồng tri phủ Lạng Giang là Phạm Minh Dực và thí thự Huyện thừa là Lý Đăng Khoa, sức thuộc hạ và tổng lý, dân phu đi đánh dẹp, bắt và chém được hơn 20 tên, tịch thu được khí giới của giặc. Việc lên đến vua.


    Vua khen ngợi. Phạm Minh Dực và Lý Đăng Khoa trước bị cách lưu, Bố chính Nguyễn Khắc Hài, án sát Trần Thế Nho và Lãnh binh Trần Đình Di, trước bị giáng một cấp, nay đều cho khai phục. Thưởng cho dân phu 300 quan tiền.


    Định lại điều lệ xét công và mãn hạn lương bổng. Trước đây, vua sai đình thần đem những tài năng hơn kém về việc xét xử hình án của các viên phủ, huyện gộp lại để xét công, đợi mãn hạn ba năm, đem ra bàn định thưởng phạt và thể lệ mãn hạn lương bổng của quan chức văn võ trong Kinh và các tỉnh, rồi bàn kỹ để tâu lên. Đến đây, đình thần liệt thành từng điều, tâu vua.


    ( 1. Về phép trưng thu tiền lương : Mỗi khoá đặt tiêu chuẩn là 10 phân, nếu đủ cả 10 phân, là hạng ưu, thiếu 1 phân trở xuống là hạng bình, thiếu 2 phân trở xuống
  • Chia sẻ trang này