0060.0098

14/1/16
0060.0098
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    là hạng thứ ; thiếu tự 2 phân 1 ly trở lên là hạng liệt. Mỗi khoá cứ đến cuối năm, Thượng ty ở các địa phương căn cứ vào phân số đủ hay thiếu về sự trưng thu trong một năm của các phủ, huyện, mà hội làm thành sổ sách tư lên nộp vào bộ Hộ, để lưu chiểu. Nếu viên nào thu thiếu từ 4 phân trở lên thì đến cuối năm ấy Thượng ty phải trích ngay ra, biên làm một tập riêng mà tham hặc đợi chỉ trừng phạt. Còn những người thôi trưng và kinh trưng đều không dự khoá xét công, đến kỳ thanh tra, cứ theo như lệ trước mà làm. Các Bố chính và Tuần phủ hoặc hộ lý Tổng đốc kiêm Bố chính, là những người làm việc đốc trưng, thì đến kỳ xét công, do họ tự trình bày riêng, chớ nên nghị xử lẫn vào lệ khoá thanh tra.


    2. Về phép bắt, giải lính : Mỗi khoá cũng đặt tiêu chuẩn là 10 phân. Nếu đủ cả 10 phân là hạng ưu, thiếu 1 phân trở xuống, là hạng bình ; 2 phân trở xuống, là hạng thứ, từ 2 phân 1 ly trở lên, là hạng liệt. Thượng ty cũng cuối mỗi năm căn cứ vào phân số thiếu hay đủ về việc bắt, giải lính trong một năm của các phủ, huyện mà hội làm thành sổ sách tư lên, nộp vào bộ Binh để lưu chiểu. Nếu có thiếu đến 4 phân trở lên, thì đến cuối năm ấy cũng lập tức trích ra tham hặc để trừng phạt. Còn ty Bố chính sứ những chỗ đáng được phân xử cũng trình bày cả vào kỳ xét công để đợi chỉ.


    3. Về phép chiết trừ sự hơn kém : Phàm các án tra xét kết tội trong các nha môn coi việc hình, hạn kiện tụng thì vẫn theo như lệ cũ, đến như phép chiết trừ thì cho lấy 2 cái án xử giỏi hạn 2 tháng, hoặc 4 cái án xử giỏi hạn 1 tháng, mới đủ trừ 1 cái án xử kém hạn 3 tháng. Khi tính dồn để chiết trừ những bản án đã xử kết xong mà đều ở trong hạn thì bất luận là hạn 3 tháng, 2 tháng hay 1 tháng, đều được liệt vào hạng ưu. Nếu chiết trừ mà còn có án xử giỏi thừa ra thì cũng bất luận là hạn 3 tháng, 2 tháng hay 1 tháng, cũng liệt vào hạng ưu. án xử giỏi và án xử kém nếu bằng nhau thì là hạn bình. Nếu chiết trừ mà thừa ra 4 cái án xử kém trở xuống thì bất luận là hạn 3 tháng, 2 tháng hay 1 tháng đều là hạng thứ ; mà nếu là 5 cái án xử kém trở xuống thì là hạng liệt. Thượng ty cứ cuối mỗi năm, căn cứ vào phân số của các phủ huyện khám xử được bao nhiêu án, tra xét các lẽ và ngày nhận đơn cùng ngày kết án, hội lại làm thành sổ sách tư lên, nộp bộ Hình để lưu chiểu. Gián hoặc có cái án nào vốn không mắc míu khó xử, nhưng viên khám quan cố ý để chậm trễ, quá đến 3 hạn trở lên, thì không đợi đến kỳ xét công, Thượng ty ngay cuối năm ấy cũng phải nêu ra mà tham hặc để trừng phạt. Những án do Thượng ty là ty Bố chính và ty án sát chuyên xử cũng xếp gộp cả vào bản sách tư lên ấy, trong đó nếu có án nào xử sai không đúng thì quan trong bộ phải lập tức nêu ra, xin bác đi và bắt xử lại theo hạn định. Còn ty Bố chính và án sát đáng phân xử như thế nào, cũng đợi đến kỳ xét công tâu bày luôn thể để đợi chỉ.


    4. Về phép xét công để nghị thưởng phạt : Phàm viên phủ, huyện nào trong 3 năm mà việc tiền lương, lính tráng và án từ đều được vào hạng ưu cả, lại ở vào nơi tối yếu khuyết, thì được xin đặt vào hạng trội và xếp vào hạng ưu để khen thưởng, đề bạt. Những phủ huyện nào thuộc nơi yếu khuyết thì được thưởng gia 2 cấp. Những phủ huyện nào thuộc nơi trung khuyết thì được gia một cấp và kỷ lục 2 thứ ; nơi giản khuyết gia một cấp. Ai được 2 ưu 1 bình, ở vào tối yếu khuyết, thưởng gia 2 cấp ; yếu khuyết gia 1 cấp và kỷ lục 2 thứ ; trung khuyết gia một cấp ; giản khuyết, gia kỷ lục 3 thứ.


    Viên nào được 2 ưu 1 thứ, hay 1 ưu 2 bình và ở vào nơi tối yếu khuyết thì được thưởng gia 1 cấp và kỷ lục 2 thứ ; yếu khuyết gia 1 cấp ; trung khuyết gia kỷ lục 3 thứ ; giản khuyết gia kỷ lục 2 thứ.


    Viên nào được 3 bình, hay 1 ưu 1 bình, 1 thứ mà ở vào nơi tối yếu khuyết thì thưởng kỷ lục 3 thứ ; yếu khuyết, thưởng 2 thứ, trung khuyết hoặc giản khuyết đều thưởng 1 thứ.


    Viên nào được 2 bình 1 thứ, hay 1 ưu 2 thứ, mà ở vào nơi tối yếu khuyết thì thưởng kỷ lục 2 thứ ; yếu khuyết thưởng 1 thứ ; trung khuyết hoặc giản khuyết, không được thưởng, cũng không phải phạt.


    Viên nào 1 bình 2 thứ, hay 2 ưu 1 liệt lại ở nơi tối yếu khuyết hoặc yếu khuyết đều được thưởng kỷ lục 1 thứ ; trung khuyết hoặc giản khuyết không thưởng, cũng không phải phạt.


    Viên nào 3 thứ hay 1 ưu, 1 thứ, 1 liệt thì không kể là tối yếu khuyết, yếu khuyết, trung khuyết hoặc giản khuyết đều cho miễn nghị.


    Viên nào 1 ưu, 2 liệt hay 2 bình, 1 liệt mà ở nơi tối yếu khuyết, thì phạt 3 tháng lương ; yếu khuyết, phạt 6 tháng lương ; trung khuyết và giản khuyết đều phạt 9 tháng lương.


    Viên nào 1 thứ, 1 bình, 1 liệt hay 2 thứ 1 liệt mà ở nơi tối yếu khuyết thì phạt 6 tháng lương ; yếu khuyết, 9 tháng ; trung khuyết hoặc giản khuyết đều phạt lương 1 năm.


    Viên nào 1 bình, 2 liệt mà ở nơi tối yếu khuyết hoặc yếu khuyết đều phạt lương 1 năm. Trung khuyết hoặc giản khuyết đều giáng 1 cấp, lưu.


    Viên nào 2 liệt 1 thứ, mà ở nơi tối yếu khuyết hoặc yếu khuyết đều giáng 2 cấp lưu ; trung khuyết hoặc giản khuyết đều giáng 2 cấp, điệu((1) Điệu : phải đổi đi nơi khác.1).


    Viên nào 3 liệt, mà ở nơi tối yếu khuyết hoặc yếu khuyết đều giáng 4 cấp, điệu; trung khuyết, hoặc giản khuyết, đều cách chức.


    Cứ 3 năm đến kỳ xét công, 3 bộ Hộ, Binh, Hình đều đem sổ sách các việc thu thuế, bắt lính và xử án đưa cả sang bộ Lại xét bàn, tính dồn cả rồi chia từng hạng châm chước, bàn định thưởng phạt xếp thứ tự làm sách tâu lên.


    Và, bộ Hình ở Kinh, phàm có các án giao để tra xét, cứ cuối mỗi năm làm thành sổ sách, do bộ Lại xem xét liệu lý, y theo lệ trên mà làm.


    5. Về lệ các quan mãn hạn lương bổng : Phàm các Đốc, Phủ, Bố, án ở mọi địa phương cứ đến kỳ xét công, đều căn cứ vào công trạng trong 3 năm, làm thành 1 bản tự trình bày. Còn ở Kinh các quan Chưởng ấn các nha môn bộ, viện, các quan Chưởng lãnh các quân dinh ở các tỉnh, các Lãnh binh quan, viên nào ăn lương chức hiện tại, đã đủ 3 năm, thì không câu nệ vào kỳ xét công, cứ đến năm mãn lương bổng đều căn cứ vào công trạng trong 3 năm, làm một bản tự khai. Đến như các quan chức văn võ thuộc viên ở trong Kinh và ngoài các tỉnh, văn từ Tứ phẩm trở xuống, võ từ Tam phẩm trở xuống, không câu nệ vào kỳ xét công, gián hoặc có người được ăn lương đủ 3 năm rồi thì đều do quan trên cai quản viên ấy sát hạch : ai là người mẫn cán, ai là người tầm thường đều đem sự trạng lý lịch với lời ghi việc sát hạch, đệ đến 2 bộ Lại, Binh duyệt lại, để theo y lệ trên chia thành từng hạng làm sổ sách tâu lên, đợi chỉ định đoạt).


    Vua dụ rằng : “Cứ như nghị định, trích ra 3 việc thu thuế, bắt lính, xử án gộp làm một khoá 3 năm dồn lại mà tính, lại xét từng nơi nhậm chức công việc nặng nhẹ, châm chước chia thành từng hạng, trong đó nêu rõ cái phép chiết trừ thưởng phạt và cái lệ quan viên mãn hạn lương bổng thực đã chu đáo thoả đáng có thể thi hành được. Duy có điều là, theo lệ trên đây, những bản án mà bộ Hình đã giao tra xét cứ cuối mỗi năm, xếp thứ tự làm thành sổ sách, do bộ Lại xem xét mà làm cũng hãy còn nhiều phiền phức. Vậy chuẩn định : hằng năm, chỉ đem các bản án đã xét xử trong một năm, làm thành sổ sách do bộ Lại để lại lưu chiểu, đợi đến 3 năm sẽ hội cả lại, châm chước bàn định thưởng phạt để tỏ thống nhất.


    “Vả, lấy 3 việc thu thuế, bắt lính, xử án làm khoá xét công chỉ là nói về những việc tầm thường của phủ, huyện, còn như công việc tuyên dương đức hoá, vỗ về dân chúng có nhiều sự khác nhau giữa người hay, người hèn, thì lại không cần ấn định vào 3 việc ấy. Vậy định thêm : Phàm phủ huyện đương chức nếu dẹp được trộm cướp cho yên dân, khai khẩn ruộng đất ngày một nhiều, giúp nhân dân ngày một đông đúc làm việc minh mẫn, được dân tin yêu, nếu kẻ nào hèn mọn, tham nhũng, lời nói và việc làm đều kém cỏi làm cho kiệt quệ, chẳng hợp lòng dân, cả hai đều ghi vào lời sát hạch mới có thể phân biệt được kẻ hay người dở. Những hạng người ấy có quan hệ đến sự lợi, hại của dân. Các quan trên phải biết cho đích xác, hễ thấy có đủ sự thực hiển nhiên có thể nêu rõ ra được thì không cứ phải đợi đến kỳ xét công, cũng cho phép cứ thực tâu ngay, đợi chỉ thăng, giáng”.


    ác man Quảng Ngãi thường làm mối lo cho biên giới. Bố chính Lê Nguyên Trung và án sát Nguyễn Đức Hội theo chỉ dụ, thay phiên nhau, đi tìm cách xử trí : đã chia uỷ cho Phó lãnh binh Nguyễn Vĩnh ngăn chặn, ở đồn Tứ Kỳ. Vừa gặp quân Man lén xuống, Vĩnh thân đem biền binh đánh giết, lũ Man sợ hãi. Từ đấy ngoài biên mới được hơi yên.


    Bọn Trung đem tình hình tâu lên. Vua xuống dụ khen ngợi, cho Nguyễn Vĩnh làm Vệ uý, trật Chánh tam phẩm, sung làm Lãnh binh Quãng Ngãi. Nguyên Lãnh binh Trần Văn Hựu vì không nên công trạng gì trong việc đánh giữ, bị giáng làm Phó vệ uý, trật Tòng tam phẩm, đổi làm Phó lãnh binh Quảng Ngãi. Lê Nguyên Trung và Nguyễn Đức Hội, trước bị giáng cấp, nay đều cho khai phục, còn 500 người dân lân cận được điều đến để phụ việc canh giữ, đều cho về.


    Dùng Lang trung bộ Lại là Đào Trí Phú quyền làm công việc bộ Lễ.


    Dùng Chưởng cơ Lê Thuận Tĩnh làm Kinh thành Đề đốc, kiêm coi công việc phủ Thừa Thiên và kiêm coi quản vệ Trung nhất, dinh Vũ lâm. Quyền lĩnh Đề đốc Hoàng Văn An lại về vệ Hậu nhất dinh Vũ lâm, làm chức cũ.


    Định rõ thể lệ xét xử kiện tụng. Vua dụ đình thần rằng : “Việc văn án quý ở bớt ít và thanh thoả. Văn án bớt được thì việc không bận mà dân được yên sinh nghiệp. Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, khi mới đại định, trong dân gian, phàm những việc kiện cáo nhỏ đều cho Lý trưởng xử miệng trước, nếu còn có sự oan khuất ức hiếp thì mới được theo thứ tự, kiện lên phủ, huyện. Cho nên văn án được bớt đi mà tiểu dân nhờ đó được yên ổn. Kính nghĩ Hoàng khảo là bậc đại thánh nhân, biết hết dân tình, mở rộng chính thể như thế, ta nay phải nên vâng giữ pháp điển có sẵn, noi theo lâu dài, thế mà từ trước đến nay, các nha môn xử án nệ theo luật lệ : Dẫu việc kiện nhỏ, cũng đều lấy cung, làm án. Gián hoặc có viên nào muốn làm cho bớt việc, lấy lễ xử lý cho qua, nhưng một khi có kẻ hiếu sự lại đưa việc lên quan trên, lại bị bới vạch về lỗi bỏ sót không báo ! Do đấy văn án quá nhiều, chật nhà, nặng xe mà chẳng ích gì cho chính trị ! Những kẻ lại dịch không tốt, nhân đó lại gây mối tệ hại xoay xoả. Nay nên nêu rõ phép cũ, sửa bỏ mối tệ. Từ nay phàm các nha môn xử án, những án tội nặng thì cứ theo như lệ trước xét xử, còn những việc nhỏ như lăng mạ, tiền nợ và đánh nhau, bị thương nhẹ đều cho hương mục, lý trưởng sở tại phân xử bằng miệng. Nếu xử không công bằng thì cho kiện lên phủ huyện. Phủ, huyện nên xử ngay không cần lấy khẩu cung, làm thành văn án để dân không đến nỗi phải sớm chiều hầu kiện mất việc làm ăn. Quan trên cũng không được cho là bỏ sót mà đòi hỏi khắt khe. Đó là ta noi theo phép trước, muốn cho bớt việc để dân ta được lạc nghiệp an cư. Các quan địa phương đều nên thể theo ý ta, hết sức tuân làm thực sự. Nếu có kẻ nào làm theo ý riêng, hoặc xếp trọng án vào một loạt với tiểu tụng phân xử lờ mờ qua loa xong việc, hoặc nhân dịp mà gây ra tệ hại ở trong đó, thì sẽ có tội”.


    Vua thường bảo quan hầu rằng : “Gần đây, các nha môn xét việc hình án ở nhà Thanh, tra tấn tù phạm, có khi lấy 2 mảnh gỗ kẹp chặt vào chân người tù, làm cho đau khổ. Ôi, đối với những lũ hung tợn, tra tấn bằng khổ hình, để phải xưng thực, cũng chẳng sao ; chỉ e đứa gian xảo dù bị tra tấn nghiêm khắc cũng không nhận tội, còn dân vô tội một khi bị đau khổ, liền tự nhận liều thì oan uổng bởi đâu mà giải tỏ được ? Việc dùng hình phạt há chẳng nên cẩn thận hay sao ?”.


    Tả phó đô Ngự sử Phan Bá Đạt tâu rằng : “Cái đạo trị dân phải có pháp luật để trị, mà pháp luật cần phải có người tốt rồi sau mới thi hành được. Nếu dùng không được người tốt thì lập pháp để phòng gian lại trở thành cái túi tham cho kẻ gian giảo hoạt”.


    Vua nói : “Từ khi ta lên ngôi đến nay, cầm cương nảy mực, những mong quan to giữ phép, quan nhỏ giữ liêm, làm việc giữ gìn theo phép, để làm pháp điển thành văn, song cũng chưa giữ được hết mối tệ. Thí dụ như một việc trồng đay, vốn là có ý khuyến nông, thế mà kẻ thừa hành không khéo, lại hoá hại dân. Ta vẫn lấy việc đó làm giận. Đại để từ xưa cai trị thiên hạ, hễ lập một phép, thì sinh một tệ, dẫu lo xa trông rộng, cũng khó làm được tốt cả. Nay những nơi trồng đay không thành, nếu lại trách cứ sở tại phải đền, thì kẻ tham lam chẳng khỏi lại nhắm vào dân, thì tệ hại càng hơn nữa. Chi bằng bãi bỏ là hơn”.


    Bá Đạt thưa rằng : “Xưa, vua Hán Văn đế không thay đổi việc gì mà trong nước giàu thịnh ; Đường Văn Hoàng bớt sưu, nhẹ thuế, mà thiên hạ thái bình, xem thế thì các bước đi đến con đường thịnh trị có gì khác đâu, chỉ không nhiễu việc mà thôi”. Vua cho là phải.


    Tuyên Quang lại có bọn giặc lén lút nổi lên ở Trinh Bảo châu Đại Man. Quan tỉnh là bọn Trần Ngọc Lâm liền uỷ Phó quản cơ cơ Trung hùng thuộc Hữu quân theo tỉnh sai phái là Nguyễn Văn Long đem quân và voi đi tiễu. Việc tâu lên. Vua dụ rằng giặc ấy chẳng qua là lũ quân tàn lẻ tẻ. Ta trước đã chuẩn cho Nguyễn Công Trứ đem đại quân thuận đường đến đấy, đàn áp lùng bắt dư đảng. Thế mà tỉnh thần chẳng biết tư báo chỗ gần để cho kịp việc đi đánh dẹp, làm việc sao lại hồ đồ như thế ! Vậy truyền chỉ ban quở ! Rồi lập tức tư đi hội quân với Nguyễn Công Trứ, thẳng đến Đại Man, dập tắt ngay lũ giặc ấy, tiện đường trở về, khiến cho địa phương được yên mãi mãi.


    Vua sai truyền dụ cho Tổng đốc Ninh - Thái là Nguyễn Đình Phổ rằng : “Trước kia, lũ giặc gây việc nguyên ở địa phận Tuyên Quang, còn như Thái Nguyên chỉ là vài mươi tên dư đảng Nông Văn Sĩ hư trương thanh thế mà thôi. Sao lại để đến lan rộng gây thành việc lớn ! Hoặc giả quan lại Thái Nguyên ngày thường có nhiều người tham lam sách nhiễu làm dân khổ sở đã lâu để đến nỗi thế chăng. Vả lại Bố chính Nguyễn Đôn Tố tự xin lĩnh binh đi tuần ở khoảng Bằng Thành, Cổ Đạo, lúc ấy, giặc chưa hung hăng lắm, dân sở tại cũng chưa bị giặc dụ dỗ, há chẳng phải vì Đôn Tố mượn tiếng đi tuần đến đâu sách nhiễu đó, bèn làm cho lòng dân đến như thế ? Vậy thì gây nên biến loạn, lúc đầu có lẽ bởi quan lại tham ô, đến nửa vời lại không kịp thời dập tắt được sớm, đến sau, một mực nhát sợ, chỉ việc cuống quýt hoang mang, làm cho giặc coi khinh đến nỗi như thế ! Ngươi phải lập tức tra xét thực trạng trước sau, nghiêm ngặt tham hặc để trừng trị, không được vì tư tình giấu giếm một mảy nào.


    “Lại nữa, châu Đại Man thuộc Tuyên Quang còn có dư đảng quân giặc lén lút ló lên. Vậy, nên liệu sai 1 Quản cơ, 3, 4 trăm biền binh, tiện đường tiến đi hội tiễu, nếu đại quân Nguyễn Công Trứ trở về đến đấy đã đánh tan giặc rồi thì không cần sai phái nữa, khỏi phải lặn lội vất vả”.


    Cất bổ các viên tử là Nguyễn Hoàng Nhiên và Nguyễn Hoàng Thoả làm Phó vệ uý chư quân vẫn đem hương dõng theo các Tướng quân và Tham tán đi làm việc quân. Lũ Nhiên đều là các con của Chưởng tiền quân Nguyễn Hoàng Đức. Khi Nam Kỳ mới có việc, họ tụ họp nghĩa dõng theo đi đánh giặc, dự có công lao, cho nên được đặc cách cất dùng.


    Vua bảo quan bộ Binh rằng : “Trước kia, ta cho rằng từ Gia Định đi Quang Hoá, đường bộ rất là xung yếu, nên bảo đốt phá cầu Tây Hoa, vả cái cầu ấy ở vào chỗ gần sát, nên ngăn chặn từ xa xa, mới là đắc sách. Vậy truyền dụ cho các Tướng quân và Tham tán : Trên con đường ấy cứ cách xa vài ngày đường, tìm chỗ hiểm yếu, thiết lập đồn to, phái 500 binh dõng và các võ tướng được việc đem nhiều súng ống đạn dược để canh giữ. Lại ở các bến đò thuộc đạo Quang Hoá cũng lập đồn trại, phái thuyền và binh dõng phòng thủ, cốt phải nghiêm mật mười phần, thì quân giặc biết có phòng bị, không dám đến xâm lấn. Rồi tiếp tục xa xa dò thám, nếu giặc Xiêm liều chết mà đến thì một viên Tướng quân hoặc Tham tán đem đại quân đi đánh dẹp, khiến cho giặc Xiêm không còn mảnh áo giáp mà về, thì sẽ có thưởng to. Vả chấn địa lôi dùng để đánh giặc, rất đắc lực. Kíp nên đem đến quân thứ An Giang, hạng nhỏ và hạng vừa hơn 1.000 quả và hơn 10 cỗ súng có đạn kèm theo đặt ở trên thuyền Hải đạo lớn. Khi tiến đánh, nên liệu chừng cái tầm trại giặc xa hay gần, lấy độ số ở trong thước đầu súng tính cho đúng, nhằm theo đích mà bắn vào trại giặc, thì giặc đều tan nát, bấy giờ quân ta thừa thế xông đánh, hẳn được đại thắng. Lại truyền dụ cho bọn Tướng quân và Tham tán ở quân thứ An Giang : lập tức truyền khắp cho nhân dân biết rằng nay ở Kinh có phái Tướng quân và Tham tán thống suất đại quân chia đi hơn 30 chiếc thuyền đồng lớn và hơn 100 chiếc thuyền Hải đạo, cùng với 50 chiếc thuyền Điện hải của các tỉnh do đường biển tiến đi Hà Tiên, ngăn chặn cửa biển để cắt đứt đường về của quân Xiêm. Quân Xiêm trước sau bị đánh, hẳn không lối chạy. Đến như đạo quân An Giang, trước đã có chỉ sai đại đội thuỷ bộ cùng tiến, hiện nay đều đến quân thứ, hợp sức đánh dẹp, chắc giặc Man ô hợp, sớm muộn hẳn phải tiêu diệt không sót. Trăm họ đều nên ở yên, chớ có đem lòng ngờ sợ. Dụ này đến, đều nên lập tức tuân theo”.


    Thự phủ Biên Hoà Vũ Quýnh tâu nói : “Đã bắt hơn 2.000 hương dõng thuộc tỉnh, quyền đặt làm 5 đồn Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu, dồn thành đội ngũ chia sai đóng đồn canh giữ theo những chỗ xung yếu trong tỉnh hạt”.


    Vua dụ sai trích lấy 1.500 người, theo như chỉ trước, [Vũ Quýnh] thân tự đốc suất tiến đến quân thứ Gia Định, theo Tướng quân và Tham tán sai phái canh giữ ; còn 500 người lưu lại ở tỉnh để tuần tiễu.


    Tên giặc trốn là Nguyễn Công Minh ở Nam Định, tụ họp đồ đảng lén lút nổi lên ở huyện hạt Thư Trì. Phó lãnh binh Nguyễn Văn Vân đem quân đi tuần tiễu, đến nơi thì giặc đã kéo sang địa giới huyện Diên Hà rồi. Bấy giờ trời đương mưa rét, Vân thúc quân đuổi theo gấp đường đi suốt đêm. Nghe tin giặc tụ ở thôn Thượng Lãng, Vân sấn đến bao vây. Giặc đem hơn 400 đồ đảng chống đánh. Quân ta chỉ có hơn 100 người không thể địch được. Vân hết sức đánh, bị nhiều vết thương mà chết. Quân đều vỡ chạy. Tổng đốc Đặng Văn Thiêm đem việc tâu lên. Vua dụ bộ Binh rằng : “Nam Định trước giờ vẫn có tiếng là yên ổn hơn hết, ta đã nhiều lần dụ bảo nên để ý đề phòng, không nên có chút trễ nải. Nay lại có bọn giặc nổi lên, đến nỗi bộ biền bị thua trận ! Trách nhiệm ấy còn đổ cho ai ? Vậy Đặng Văn Thiêm bị truyền chỉ ban quở rồi phải tư cho Hưng Yên hội nhau tìm cách hiệp sức mà bắt giặc. Còn như Nguyễn Văn Vân vì khinh suất tiến quân đến nỗi chết, lỗi ấy khó chối được. Nhưng nghĩ : ít không địch nổi nhiều, thế mà Vân hăng hái quên mình thì cũng đáng thương. Vậy chuẩn cho chiếu nguyên hàm cấp cho tiền tuất”.


    Thự Bố chính Khánh Hoà Nguyễn Văn Điển và án sát Lê Hựu tâu nói : “Số quân hiện tại ở tỉnh có ít, không đủ sai phái. Vậy xin gọi thêm 100 người dân tráng chi cho tiền gạo và khí giới để phụ giữ tỉnh thành”. Vua y cho.


    BẢNG SÁCH DẪN

    ĐẠI NAM THỰC LỤC - CHÍNH BIÊN - ĐỆ NHỊ KỶ

    A 

    Đại Nam thực lục 

    Chính hiên - Đệ nhị kỷ



    664, 691, 711, 740, 814, 817, 826, 828, 845, 846, 848, 865, 876, 893, 896, 898, 903,905,928, 940,944,962 Bắc Kỳ (dân đói, phát chẩn) : 462,477,480, 488,522, 917, 952 Bắc Kỳ (duyệt tuyển) : 455, 903 Bắc Kỳ (đê, nước sông) : 348, 377, 445, 536, 665,675,681,792 Bắc Kỳ (giặc, thổ phỉ) : 596, 616, 617, 643, 659, 663, 671, 706, 807, 820,903 Bắc Kỳ (kho) : 285, 291, 316, 528 Bắc Kỳ (lúa, gạo) : 318, 441, 530, 533, 637,740

    Bắc Kỳ (mưa, gió, bão, lụt) : 355, 490, 522, 579, 665, 666, 689, 695, 696, 699, 740, 749,752,759, 952 Bắc Kỳ (ngạch thợ) : 315 Bắc Kỳ (trộm cướp) : 467,695 Bấc Kỳ (tù phạm) : 588,589,605,928, 929 Bắc Nham (đồn) : 719 Bắc Nhự (bến đò) : 872 Bốc Nhự (xứ) : 895

    Bắc Ninh : 10, 26, 97, 121, 214, 221, 222, 230, 232, 234, 236, 237, 238, 239, 240, 248, 254, 260, 263, 269, 270, 272, 274, 279, 296, 300, 304, 315, 327, 333, 341, 347, 378, 382, 441, 471, 473, 484, 485, 489, 518, 528, 577, 587, 611, 616, 629, 640, 649, 657, 681, 691, 692, 696, 705, 716, 730, 732, 748, 772, 788, 799, 804, 805, 809, 810, 811, 812, 813, 814, 818, 820, 824, 832, 834, 835, 836, 837, 845, 848, 849, 854, 855, 856, 860, 861, 862, 866, 867, 870, 872, 877, 878, 885, 894, 903, 928, 936, 943, 955, 958, 961, 962, 968,971

    Bắc Ninh (cơ) : 302


    Bắc Ninh (đê, nước sông) : 489, 530, 659, 666, 698

    Bắc Ninh (đánh giặc, phỉ, cướp) : 90, 259, 522, 804, 827, 846, 868, 869, 890, 906, 971

    Bắc Ninh (kho) : 162, 813, 849, 875, 961 Bắc Ninh (lúa, gạo) : 186, 285, 480, 759,817

    Bắc Ninh (lụt) : 740

    Bắc Ninh (mỏ vàng, sắt) : 214, 223, 409,447

    Bắc Ninh (phát chẩn) : 489 Bắc Ninh (thuế) : 236, 300, 302, 314 Bắc Ninh (trạm) : 199, 267, 871 Bắc Ninh (tù phạm) : 812 Bốc Ninh (tuổi thọ) : 141 Bắc Ninh (tuyển lính) : 192,499, 511, 514 Bắc Tầm Bôn : 155, 184, 185, 461, 490, 892, 897

    Bắc Tầm Bôn (Battambang, phủ) : 151, 154, 462,516

    Bắc Tầm Bôn (xứ) : 564 Bắc Thành :11, 16, 17, 20, 22, 26, 30, 31, 33, 34,41,45,47,48, 51, 52,53, 54, 62, 63, 64, 66, 67, 68, 74, 75, 76,77, 85,90, 91, 93, 96, 97, 101, 113, 117, 121, 125, 126, 132, 141, 142, 145, 157, 159, 161, 163,165, 166, 167, 168, 170, 173, 174, 176, 177, 181, 183, 184, 186, 190, 194, 197, 198, 199, 210, 214, 219, 221, 223, 224, 225, 226, 227, 228, 230, 235, 237, 239, 247, 248, 268, 269, 303, 339, 343, 348, 385, 415, 418, 446, 451, 561, 624, 691

    Bắc Thành (ấn triện, dấu) : 254, 336 Bắc Thành (cơ) : 192, 233, 258 Bắc Thành (đúc tiền) : 270
  • Chia sẻ trang này