0061.0001 - @ nhani78 (Done Wk)

18/1/16
0061.0001 - @ nhani78 (Done Wk)
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:


    Mã số : 7X387M4



    VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

    VIỆN SỬ HỌC

    QUỐC SƯ QUÁN TRIỀU NGUYỄN

    Tổ Phiên dịch Viện Sử học phiên dịch


    ĐẠI NAM THỰC LỤC


    TẬP BỐN
    (Tái bản lần thứ nhất)

    Phiên dịch : Nguyễn Thế Đạt, Trương Văn Chinh, Nguyễn Danh Chiên, Ngô Hữu Tạo, Nguyễn Mạnh Duân, Đỗ Mộng Khương.

    Hiệu đính : Hoa Bằng
    .

    NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC


    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN CXVII

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ


    Giáp Ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15 [1834] (Thanh Đạo Quang năm thứ 14), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1. Dụ rằng : Phàm quan Kinh lệ được ban yến, mà có tang không dự, thì đều gia ơn ban thưởng chiếu theo phẩm. Lại cho rằng để tang cũng có tang nhẹ tang nặng, mà trong hạng lại nhất khái không dự lễ triều hạ thì thực chưa có phân biệt. Chuẩn y lời bàn của bộ Lễ : từ nay phàm quan viên trong Kinh và ngoài các tỉnh có tang 3 năm vẫn theo lệ trước, trong 27 tháng, đều miễn lễ triều hạ ; nếu gặp tang 1 năm, thì tứ phẩm trở lên cho miễn triều hạ 3 tháng ; ngũ phẩm trở xuống miễn 1 tháng ; đều bắt đầu kể từ ngày được tin cáo phó. Việc này được ghi làm lệ lâu dài.

    Chuẩn cho các quan to nhỏ trong Kinh và ngoài các tỉnh : từ năm Minh Mệnh thứ 14 [1833] trở về trước, nhân vì việc công phải phạt đều do bộ làm danh sách, đợi Chỉ, rộng tha.

    Thưởng tiền và gạo 6 tháng cho 99 trạm từ Thừa Thiên vào Nam đến Gia Định và từ Thừa Thiên ra Bắc đến Hà Nội (Thừa Thiên 6 trạm, Quảng Nam 7 trạm, Quảng Ngãi 5 trạm, Bình Định 6 trạm, Phú Yên 6 trạm, Khánh Hòa 11 trạm, Bình Thuận 16 trạm, Biên Hòa 5 trạm, Gia Định 3 trạm, Quảng Trị 4 trạm, Quảng Bình 6 trạm, Hà Tĩnh 6 trạm, Nghệ An 5 trạm, Thanh Hoa 5 trạm, Ninh Bình 2 trạm, Hà Nội 6 trạm. Duy có trạm Ninh Đa mỗi tháng tiền 40 quan, gạo 25 phương, còn các trạm mỗi tháng đều tiền 30 quan, gạo 20 phương). Còn những trạm ít việc, năm ngoái cũng có những việc khẩn cấp phải truyền đệ nên cũng gia ân thưởng cấp có thứ bậc khác nhau (Gia Định, Gia Lộc 1 trạm, Định Tường 3 trạm, Vĩnh Long 2 trạm, An Giang 4 trạm, Hà Tiên 1 trạm, Bắc Ninh 4 trạm, Thái Nguyên 1 trạm, Lạng Sơn 3 trạm, Cao Bằng 2 trạm, Sơn Tây 10 trạm, cộng 36 trạm, mỗi trạm đều tiền 50 quan, gạo 30 phương. Nam Định 2 trạm, Hưng Yên 1 trạm, Hải Dương 4 trạm, Hà Nội, Hà Xuyên 1 trạm, Bắc Ninh, Bắc Đông 1 trạm, cộng 9 trạm, mỗi trạm tiền 30 quan, gạo 20 phương. Ân thưởng mùa hạ cũng thế).

    Bọn Tham tán quân thứ An Giang là Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân đánh tan giặc Xiêm ở sông Cổ Hỗ (tức là thủ sở Chiến Sai cũ).

    Trước kia bọn Giảng từ Thuận Cảng lui đóng ở sông Cổ Hỗ, đặt đồn ở hai bên bờ làm thế ỷ giốc. Sau đó vài ngày, Tướng quân Tống Phước Lương lại đến. Giặc Xiêm dẫn hơn 100 binh thuyền từ Thuận Cảng xuống, dàn ngang giữa dòng sông, cầm cự chu sư của ta, lại vây đánh đồn ở bờ bên tả. Quản vệ giữ đồn là Phạm Hữu Tâm cự chiến, chém được tên đại đầu mục giặc là Phi Nhã Khổ Lạc và hơn 20 đầu giặc. Giặc dựng trại đối diện với lũy ta, ngày đêm bắn đại bác. Quân ta có người bị thương và chết. Bọn Giảng cho rằng thế giặc đương dữ tợn hung hăng, bèn phi tư cho quân thứ Gia Định phái thêm binh thuyền đến tiếp ứng. Bấy giờ vừa gặp Tham tán Hồ Văn Khuê đến quân thứ. Trần Văn Năng liền bàn, uỷ [Văn Khuê] đi giúp việc quân. Lại phái Phó vệ úy vệ Hậu thủy Nguyễn Tiến Khoan đem hơn 300 binh dõng và 7 chiếc thuyền, đồng thời cùng tiến. Rồi đem việc tâu lên.

    Vua dụ rằng : “Phạm Hữu Tâm đóng giữ đồn bên tả, thoạt gặp giặc Xiêm đến xâm lấn, liền đốc thúc quân sĩ đánh giết giặc : dẫu là thắng trận nhỏ, nhưng cũng đủ làm mạnh thanh thế quân ta. Vậy thưởng cho 1 đồng kim tiền Phi long nhỏ và 5 đồng ngân tiền lớn. Thưởng cho các biền binh 100 quan tiền. Người chém được tên đại đầu mục giặc được thưởng 30 lạng bạc, còn mỗi đầu giặc là 3 lạng. Suất đội Trương Văn Huy bị chết trận, ban tiền tuất gấp đôi và thưởng thêm cho 10 lạng bạc. Lại nữa, các tướng biền, binh dõng, nếu đương trường bắt được 1 tên hay chém được 1 đầu trở lên, tức thì thưởng cho cái thẻ “thưởng công ngân bài”. Mấy lần đánh dẹp trước đây nếu có thực trạng như thế cũng cho truy cấp. Rồi cũng trình bày luôn thể ở trong tập tấu để cho biết rõ công trạng. Những người ở quân thứ Gia Định cũng thế.

    “Những binh và thuyền do Kinh phái đi, thủy bộ đều tiến, hiện nay chắc đã đến quân thứ rồi. Các Tướng quân và Tham tán nên rộng bày mưu chước, cốt đánh cho quân Xiêm thua to, sớm đem cờ đỏ báo tin thắng trận. Một khi biên cương đã được yên ổn thì sẽ cùng được thưởng to”.

    Giặc Xiêm chia đảng đóng giữ Ba Cầu – Nam Phủ ở Chân Lạp. Tuần phủ Gia Định là Hà Duy Phiên, mới nghe tin, cho rằng nơi ấy có đường thông đến Quang Hóa và thượng du Trọc Giang thuộc Biên Hòa, liền làm giấy tư cho thự Tuần phủ Vũ Quýnh theo địa hạt canh giữ. Quýnh lập tức thương lượng ủy cho án sát Phạm Duy Trinh đi đến Thượng Nguyên (chỗ đối ngang với Trọc Giang) thuộc thủ sở An Lợi, đốc thúc biền binh phái đến trước đóng giữ ngăn chặn. Đến khi Trinh về tỉnh, Quýnh lại thân đem binh dõng và voi trận, theo dụ trước, đến quân thứ Gia Định, theo Tướng quân và Tham tán 3 đạo quân phân phái làm việc quân. Sớ tâu lên, vua bảo bộ Binh rằng : “Cứ như sớ tâu, thì đạo Quang Hóa có thể thông đến thượng du Biên Hòa cũng là nơi xung yếu, mà mấy lần lính Kinh phái đi Gia Định cũng đã có nhiều, vậy nên truyền dụ cho Phạm Duy Trinh liệu xem trong số 2000 hương dõng hiện mới bắt, lưu lại hơn 1000 để giữ tấn sở, còn thừa mới cho Vũ Quýnh đem đi”.

    Các tướng quân và tham tán quân thứ Gia Định tâu nói : “Hơn 10 tên giặc ở trong thành nhân ban đêm, lẩn ra ngoài quách bên tả. Quân ta bắn chết được 2 tên. Gia Tiệp quyền sai Suất đội Vũ Văn Hiền và quyền sai Đội trưởng Nguyễn Văn Kết sấn đến chém đầu hai tên bị bắn ấy. Giặc lùi chạy, vượt thành mà vào. Bọn thần hiện đã theo các tấn sở, chia quân tinh nhuệ, đóng xen với hương dõng, ngày đêm phòng thủ nghiêm cẩn. Lại ở các đường đi cầu Tây Hoa, đã phái ủy thự Tuần phủ Biên Hòa là Vũ Quýnh đem quân và voi hội cùng án sát Gia Định là Hoàng Văn Minh và Lãnh binh Lê Sách, tìm chỗ xung yếu, đặt 1 đồn lớn để đóng giữ. Còn đạo Quang Hóa thì phái thêm 300 hương dõng Gia Định theo Phó quản cơ Lê Văn Hợp tuần tiễu chống đánh giặc Xiêm. Lại nữa, Tham tán Trần Văn Tri trước trúng đạn bị thương, nay đã khỏi, hiện đã giữ nguyên chức coi tấn phận bên tả, đốc quân canh giữ”.

    Vua dụ cho Vũ Văn Hiền và Nguyễn Văn Kết đều được thực thụ ngay và thưởng mỗi người 10 lạng bạc về công chém được 2 đầu giặc. Lại cho rằng đối với địa thế và nhân tình ở đạo Quang Hóa, Lê Đại Cương vốn am hiểu nhiều, liền ra lệnh cho Cương đem vài trăm hương dõng được việc, hiệp cùng các quan văn võ phái trước, hội bàn công việc quân cơ, rút Hoàng Văn Minh về tỉnh. Bọn Trần Văn Năng bèn khiến Lê Đại Cương coi quản 2 vệ Thần uy, Hùng võ và hơn 1.200 binh dõng các cơ vẫn cai quản trước. Lại phái Vệ úy Kinh tượng Tam vệ là Nguyễn Văn Thị coi hơn 60 biền binh và 15 thớt voi trận, chia đường thủy bộ đều tiến, bàn cùng Vũ Quýnh và Lê Sách tuỳ cơ đánh giữ.

    Vua nghe nói trước kia, An Giang có việc, Gia Định điều động thuyền, gián hoặc có thiếu, chẳng khỏi chậm trễ, bèn sai truyền dụ cho Tuần phủ Hà Duy Phiên cùng bọn Bố án Hoàng Văn Đản và Hoàng Văn Minh phải gấp rút đốc thúc đóng thuyền và chữa thuyền, cốt cho thảy đều tề chỉnh đầy đủ. Cả đến súng đạn khí giới, lương ăn, không được thiếu thốn một thức gì, nếu có lầm lỡ, sai sót, tất sẽ trị tội theo quân luật. Lại nữa, hễ gặp có khi nên cấp thuyền mành, khí giới và quân nhu, cần đến đâu thì làm đến đấy, không phải chờ đợi hội bàn và câu nệ văn bằng để đến chậm trễ. Lại truyền dụ cho các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận nếu thấy quan quân thủy bộ do Kinh sai phái, đi qua thì lập tức đốc thúc hỏa tốc tiến lên.

    Sai Phó vệ úy vệ Phi kỵ là Bùi Văn Thị đi làm việc quân ở An Giang.

    Thự Bố chính Quảng Bình Lê Phước An và án sát Ngô Dưỡng Hạo cho rằng Quảng Trị và Nghệ An đều có động ở biên giới, Hà Tĩnh cũng có bọn cướp nổi lên mà tỉnh hạt liền sát với mạn rừng núi, tâu xin đưa biền binh hạ ban tập hợp lại thao diễn để phòng sai phái. Vua y cho. Bọn An lại bàn ủy Lãnh binh Vũ Văn Thuyên đem 50 quân đến tấn sở Quảng tuần dò thám, chợt được tin Yên Sơn bị giặc Man lấn cướp, Thổ tri huyện là Xương Na chạy đến sách Dũng Lạn, liền tư đi thúc Vũ Văn Thuyên lấy thêm lính thổ, chọn đất đóng giữ. Việc tâu lên. Vua dụ rằng : “Vũ Văn Thuyên là Lãnh binh quan to, mà phái ủy đem quân đóng đồn phòng thủ, chỉ có 50 người lính, còn thành sự thể gì. Vả, giặc Man thừa cơ xâm lấn, địa hạt Yên Sơn đã có quan quân Nghệ An đánh dẹp, vậy đóng đồn Dũng Lạn thì một người suất đội là đủ rồi, nên rút ngay Vũ Văn Thuyên về, rồi thông tư sang Nghệ An đốc sức quan quân sớm diệt cho hết lũ giặc Man ấy đi”.

    Sai Cai đội Thủy quân Nguyễn Văn Kiều đem biền binh đi thuyền Thanh dương đại hiệu, chở đồ binh khí (súng điểu sang máy Tống và trường thương mỗi thứ 1000 cây, thuốc súng 10000 cân, diêm tiêu 500 cân, lưu hoàng 1.000 cân, ống phun lửa 500 cái, đạn các hạng đại bác 110500 viên, đạn chì súng điểu sang 100.000 viên) vào quân thứ Gia Định.

    Thự Tuần phủ Thanh Hoa là Nguyễn Khả Bằng, tâu xin bắt thêm hơn 400 người huyện Tống Sơn để giữ đồn Trấn Man. Đặc cách cấp cho tiền, gạo lương tháng.

    Ngày Canh Ngọ, có sấm sét. Khâm thiên giám đem việc xem bói về sét đánh, làm thành tập tấu dâng lên. Sắc sai từ nay về sau, phải làm tờ phiến tâu kín.

    Quan tỉnh Thanh Hoa tâu nói : “Trước đây, thổ Tri huyện Sầm Nưa là Bảo Cương chết, nhà vua đã có Chỉ lấy thổ Huyện thừa là Đạo Nam lên thay. Nay Đạo Nam theo tục Man, con được kế tập. Xin nhường cho con Bảo Cương là Bảo Cung. Thần đã xét Bảo Cung là người cũng có thể làm được việc”. Vua bèn y cho.

    Dân 11 sách man ở nguồn Chiên Đàn, thuộc Quảng Nam đến trường giao dịch, đầu thú và chịu phục, xin bỏ lệnh cấm về việc làm ăn thông thương. Quan tỉnh xét rõ tình thực tâu lên Dụ sai tuyên dương uy đức triều đình, khiến họ biết sợ và mến, thực lòng chịu phục mãi mãi.

    Dùng thự Phó vệ úy, vệ Thắng võ là Nguyễn Đức Nhân, làm Phó vệ úy Hữu vệ Tuyển phong dinh Thần sách.

    Quách Công Quế là tên giặc trốn ở Ninh Bình, tụ họp đồ đảng, cướp đốt và cướp nhà dân ở xã Trạch Lâm (thuộc huyện Tống Sơn, Thanh Hoa). Phó vệ úy Hữu vệ Tuyển phong là Lê Phước Thư giữ đồn Biểu Sơn, đem quân đuổi bắt, bị giặc bắn chết. Suất đội Nguyễn Như Lý, người cùng đi chuyến ấy, bèn hiệp cùng biền binh do phủ phái đi cùng cứu ứng, hết sức chống đánh : chém được 1 đầu và bắt được 1 tên. Giặc bèn theo đường rừng trốn thoát. Tuần phủ Nguyễn Khả Bằng được tin báo, lập tức thân đem quân và voi đến ngay đuổi đánh.

    Vua nghe tin, bảo bộ Binh rằng : “Trước đây ở địa phận núi Tam Điệp có toán giặc nổi lên, Nguyễn Khả Bằng đem quân đánh dẹp. Cứ như lời tâu thì giặc đã mất tích. Thế mà nay còn có bọn này thừa cơ gây việc, há chẳng phải vì sơ hở trễ biếng mà đến thế. Vậy Nguyễn Khả Bằng, Nguyễn Đăng Giai và Lê Đức Ngạn đều bị truyền chỉ nghiêm quở. Còn Lê Phước Thư khinh địch, tiến đánh, đến nỗi thua cơ, đã đành khó chối được lỗi, nhưng nghĩ, Phước Thư ra trận quên mình, cũng đáng thương, vậy cứ cho chiếu theo phẩm, cấp tiền tuất. Những biền binh chém hoặc bắt được quân giặc, thưởng cho mỗi người 2 lạng bạc”.

    Nguyễn Khả Bằng, khi đến Biển Sơn, cứ theo tên giặc bị bắt đã báo ra dẫn đến phần rừng làng Kỳ Lão (thuộc huyện Phụng Hóa, Ninh Bình, tiếp giáp địa giới Thanh Hoa) lùng bắt được vài tên giặc cùng với khí giới và giấy tờ của giặc. Còn đều chạy tan. Khả Bằng bèn làm sớ tâu nói : “Quách Công Quế là người làng Ngọc Lâu, thuộc Lạc Thổ, Ninh Bình, năm trước đã đồng lõa với tên phỉ trốn là Quách Tất Công làm giặc, ngụy xưng là Hiệp chưởng trung quân quận công, cùng với các con là Công Cơ, Công Mật chia đi các huyện Thạch Thành, Quảng Địa, cướp lấy các đồn Hoành Giang và Phố Cát. Từ khi đại quân tiến đánh, chúng lủi vào phần rừng làng Kỳ Lão. Gần đây thỉnh thoảng những vụ cướp bóc xảy ra ở núi Tam Điệp và các huyện Vĩnh Lộc, Quảng Địa, đều do bố con nó làm đầu đảng. Vả, chỗ sào huyệt quần tụ của nó lại là nơi giáp giới Thanh Hoa, Ninh Bình : đánh phía đông thì nó chạy sang phía tây, bắt chỗ này thì nó lẩn sang chỗ khác. Nếu hai tỉnh chẳng đem quân hợp bắt, trước hãy quét sạch hang ổ nó ở làng Kỳ Lão, thì nó vẫn lại lọt lưới, chẳng khỏi để hại cho dân. Thần đã mấy lần tư báo, nhưng Tuần phủ Lê Nguyên Hy chẳng chịu hội tiễu, để đến nỗi cứ phải luôn luôn đuổi đánh, nó lại có đất Ninh Bình để lủi trốn”.

    Vua dụ rằng : “Giặc ấy thường đi lại cướp bóc ở địa giới Thanh Hoa, Ninh Bình, ta đã xuống dụ cho Ninh Bình đem quân hội tiễu, thế mà Lê Nguyên Hy lại còn chia rẽ giới hạn, có ý đun đẩy. Vậy truyền chỉ ban quở. Bây giờ phải nghiêm đốc quan quân hẹn ngày hội tiễu, cốt sao phải chém hoặc bắt được bố con bè đảng Quách Công Quế, nếu còn chút ý kiến kỳ thị kia khác để nó đi lại tự do, xuất hiện ở hạt nào hoặc ẩn núp ở hạt nào thì chỉ hỏi tội ngay quan hạt ấy”.

    “Lại treo giải thưởng : hễ ai bắt hoặc chém được đích tên Quách Công Quế, đem giải quan, thì thưởng cho 200 lạng bạc”.

    Sau đó Lê Nguyên Hy tâu nói : “Trước đây, tiếp được tờ tư của Thanh Hoa đưa đến, nhưng vì lính tỉnh phải phái đi Sơn Âm tuần tiễu, số hiện còn lại có ít, nên thần đã sức biền binh đóng giữ đồn An Lại phải đến tại chỗ, lệ thuộc [dưới sự điều khiển của Thanh Hoa] để vây bắt giặc. Nay Thanh Hoa lại tâu bảo rằng không chịu hội tiễu thì không đúng sự thực”.

    Vua dụ rằng : “Quách Công Quế nguyên là giặc trốn của hạt ngươi, lại chẳng trước kíp đem quân hội tiễu cho hết mầm ác, đến khi bị người khác tâu trình có chỉ ban quở, lại còn liến láu bào chữa cho mình. Nếu bảo số quân có ít thì sao chẳng thân đem quân ở các đồn sở tại hiệp sức cùng bắt ? Trách nhiệm ấy còn đổ cho ai. Thế mà lại bảo người ta tâu trình không đúng sự thực ? Vậy giao bộ Lại bàn xử”. Lê Nguyên Hi cuối cùng bị giáng 1 cấp.

    Hà Tĩnh tâu báo : “Cuối mùa đông, trong hạt xảy 5 vụ cướp, đều là bọn cướp nhỏ. Mấy lần đánh bắt đã được hơn 10 đứa”. Bấy giờ gặp lúc thị vệ Trần Văn Kiếm đi dò xét về, tâu nói : “Nhiều chỗ có cướp, bè lũ có đến hơn 100 tên, mà quan lại bắt ức sự chủ phải khai báo là ít, hoặc giấu không báo, thậm chí bọn cướp dám thiết lập doanh trại ở trong rừng cũng chẳng tâu lên”.

    Vua bảo bộ Hình rằng : “Cứ như tình hình ấy, thì đủ biết quan tỉnh vẫn giấu những việc trộm cướp. Đáng phải giao Bộ nghiêm khắc trị tội, nhưng nghĩ : đã bắt được một số giặc cướp cũng đã tỏ ra hơi biết sợ hãi và cố gắng đấy. Vậy hãy ra ơn cho miễn phân xử. Rồi sức cho phải hết lòng dò bắt để cướp yên, dân vui. Nếu giặc cướp còn rông rỡ thì các ngươi sẽ bị trị tội, không tha”.

    Bãi việc trồng đay từ Quảng Bình trở vào Nam. Trước đây có chỉ sai các địa phương phải chọn đất trồng đay, sau nghe nói có nhiều sự làm khổ cho dân, nên đã cho đình chỉ từ Hà Tĩnh ra Bắc. Đến đây, bãi bỏ hết.

    Vua dụ bộ Hộ rằng : “Trước đã chuẩn y lời bàn của Bộ về việc các địa phương cày ruộng tịch điền và nuôi tằm. Đó là thực muốn bắt chước chính sự các đế vương xưa, chăm sóc cày cấy và tằm tang chẳng những để cung việc tế tự, mà lại để khuyên dân chuyên cần nghề nông, để có thể đủ ăn, chăm việc chăn tằm tơ để có thể đủ mặc. Dân đều được no ấm. Nhà nước chẳng thiếu gì của, há thêm tranh lợi với dân ? Vậy, nên truyền dụ cho các quan tỉnh nên thể theo ý này, tuyên bảo nhân dân đều biết : những thóc lúa ở ruộng tịch điền, và tơ sống ở nhà tằm chỉ cốt mẩy chắc, tốt đẹp là quý. Không cần so đọ ít hay nhiều. Tuy Bộ đã bàn có châm chước quy định cũng là ước lược thành số để tỏ cái ý khuyến khích nêu gương, chứ không cần đốc trách theo hạn định, đến nỗi có khi vì không đủ, phải mua bù thêm trở thành mối hại cho dân ! Vậy đối với những nông phu và người trồng dâu nuôi tằm, cũng nên thuê mướn bằng giá thoả thuận để họ vui vẻ làm công, chứ không được cưỡng ép quấy nhiễu. Các ngươi đều có trách nhiệm thân dân, đã nghe lời dụ đinh ninh này thì nên thể theo làm khéo, ngõ hầu không phụ cái bản ý lập pháp của triều đình.

    Sửa đền thờ thần ở núi Ngọc Trản. Sai bộ Lễ làm thêm các đồ thờ để sung vào việc tế tự.

    Bọn Tham tán quân thứ An Giang Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân lại đánh bại giặc Xiêm ở sông Cổ Hỗ. Lúc ấy, giặc ở thượng lưu sông, thuỷ bộ cùng chống cự với quân ta, đương đêm thừa lúc nước triều xuống, chúng ở hai bên ven sông đốt lửa đánh bè, ngăn cả chu sư của ta, rồi đem quân sấn đến đồn tả ngạn, xông đánh. Tướng quân Tống Phước Lương bị bệnh, không ra trận được. Bọn Giảng sai Quản vệ Phạm Hữu Tâm thúc quân ở trên đồn : hoặc đâm đánh, hoặc bắn súng, giết được nhiều giặc. Lại ở trên các thuyền Cự Hải lấy đại bác, mặt trước, bắn vào thuyền giặc, bên cạnh, bắn vào bộ binh của giặc ở bờ bên tả : từ giờ Dần đến giờ Tỵ, giặc chết ngổn ngang, thây chồng lên nhau. Chúng liền rút lui. Quân ta cũng đóng lại. Trận đánh dữ dội với giặc này, Ban trực Tả vệ rất được việc. Bọn Giảng trước lấy 30 lạng bạc kho và 30 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn thưởng cho Phạm Hữu Tâm và vệ binh để khuyến khích. Rồi làm trạng tâu lên và nói : Tán tương Trương Phúc Đĩnh đã đến quân thứ, Tống Phước Lương liền đem bộ hạ quay về quân thứ Gia Định.

    Vua dụ rằng : “Giặc Xiêm bỏ tình giao hiếu, gây mối cừu thù, xâm phạm biên giới ta, lại thừa lúc nước triều xuống, đốt lửa đem quân đánh nhau với ta. Quan quân hăng hái tiến lên, ra sức đánh giết, chém được hơn 60 đầu, lấy được nhiều súng ống và khí giới. Thực đáng khen thưởng lắm. Trong đó những người đắc lực nhất là Vệ úy Ban trực Tả vệ Phạm Hữu Tâm, thưởng cho làm Chưởng cơ ; Phó vệ úy Nguyễn Đức Huấn thưởng cho gia hàm Vệ úy. Các Cai đội là bọn Lê Văn Ngôn 6 người thưởng cho gia hàm Phó quản cơ ; Chánh đội trưởng Vũ Đức Trung thưởng thụ Cai đội ; Cai đội Lê Ngọc Thiêm trước vì can án, phải giáng 2 cấp đổi đi, nay chuẩn cho khai phục. Các biền binh đi trận ấy thưởng chung cho 1.000 quan tiền. Những người chém được đầu giặc, đều thưởng 3 lạng bạc.

    “Vả, nay giặc Xiêm nhiều trận thua to, chắc đã run sợ ; mà tinh thần quân ta lại mạnh gấp trăm lần. Thêm vào đó, đại đội binh thuyền do Kinh phái đi, lại lục tục kéo đến, thanh thế sẽ càng thêm lên. Các Tướng quân và Tham tán nên tuân theo chỉ dụ mấy lần trước, chọn chỗ hiểm yếu, vây đánh, ruổi dài, thẳng tiến, lấy lại An Giang, Hà Tiên, bình định Nam Vang, sớm đem cờ đỏ báo tin thắng trận, mau tấu công to”.

    Thảo nghịch tướng quân Tống Phước Lương từ An Giang về đến quân thứ Gia Định. Bình khấu tướng quân Trần Văn Năng liền thân đem các hạng biền binh dưới cờ hơn 470 người, chia đi 10 chiếc thuyền ô, thuyền lê tiến đến An Giang để làm việc quân. Sớ tâu lên, vua phê bảo rằng : “Bình khấu tướng quân Trần Văn Năng đi lần này chính hợp ý ta, hẳn có thể đánh lùi giặc Xiêm, để phù hợp với cái tên “Bình khấu” tốt đẹp. Hãy cố gắng lên !”. Lại dụ rằng : “Ta vốn biết ngươi dũng cảm, có tài đánh giặc, song cái đạo làm tướng phải nên có mưu. Binh thuyền do Kinh và các tỉnh nhiều lần phái đi, lục tục tiến đến quân thứ kể có hàng vạn thuyền bè, súng ống, khí giới, thuốc đạn và hỏa khí đều dư dụ, lấy đâu có đó. Quân giặc cầm cự với ta đã lâu, vì thế chia rõ chủ khách, phần thắng ta đã nắm được. Ngươi cùng các Tham tán nên nghĩ mưu cơ thế nào, ra quân kỳ, liệu thế biến ; hoặc nhân chiều gió và nước triều mà tiến đánh, hoặc dùng hỏa khí để giành phần thắng, hoặc công phá những sách (kè) bằng gỗ, khiến cho thuyền giặc mất chỗ nương cậy, mà tự tan vỡ, hoặc đánh úp thuyền giặc, khiến cho các sách gỗ không đánh cũng tan, hoặc đem kỳ binh, theo đường tắt đi Hậu Giang, đi vòng đến sau lưng giặc, đầu đuôi đánh khép lại, khiến quân giặc, thế bị chia, sức bị yếu, tất phải tan chạy, hoặc ngầm đem gỗ, đá lấp kín Thuận Cảng để chặn đường về, thì khi giặc rút chạy, hẳn bị khốn đốn mà chết ở cửa cảng. Rút lại, nên tùy cơ mà làm, sao cho đúng khớp, cốt cho một trận thành công, ta sẽ ưu hậu ban thêm tước thưởng”.

    Vua bảo Thượng thư bộ Binh là Trương Đăng Quế, rằng : “Nay quân Xiêm hiện ở An Giang chống cự với quan quân tất bỏ đất Hà Tiên, không rỗi phòng bị. Nếu ta đem vài nghìn quân thủy thẳng theo đường biển lén đến lấy lại [Hà Tiên], thì giặc tất sẽ mất hết tinh thần, nhân đó ta đánh phá chúng, chẳng khó gì đâu”. Liền xuống dụ cho các Tướng quân, Tham tán ở quân thứ An Giang phái người giả làm thuyền buôn, do đường sông Long Xuyên, Kiến Giang hoặc đường biển Phú Quốc, Kim Dữ, đi dò thám cho biết rõ tình hình. Lại sai Tuần phủ Gia Định Hà Duy Phiên chọn lấy suất đội hoặc thị vệ tòng quân, đã quen thuộc đường biển, phái đi Hạ Châu((1) Tức Xingapo.1) dò hỏi tin tức gần đây của thành Vọng Các((2) Tức Băng Cốc.2) và mọi nước Hạ Châu.

    Tướng quân và Tham tán quân thứ Gia Định tâu nói : “Có nhiều lần giặc ở trong thành ra thú đều nói tên nghịch tặc Lê Văn Khôi, đêm hôm 11 tháng trước, đã chết vì bệnh phù thũng. Bọn giặc đều suy tôn con nó là Lê Văn Cù làm Nguyên suý, mới lên 8 tuổi. Nguyễn Văn Chắm tự xưng là ngụy Điều khiển. Bọn thần đã tư cho quân thứ An Giang biết và viết thư bắn vào thành, bảo rõ họa phúc khiến giặc sớm ra đầu hàng”.

    Vua dụ Nội các rằng : “Tướng giặc Nguyễn Văn Chắm nguyên là tên tù phát phối làm lính, lại dám cùng tên đầu sỏ phản nghịch là Lê Văn Khôi cùng mưu làm loạn. Nay Khôi đã trước bị trời giết, những kẻ bị hiếp tòng đã lục tục ra thú, thế mà tên Chắm còn liều chết cố giữ kháng cự, thực là đứa ngoan cố kiệt hiệt nhất trong lũ giặc ấy. Hiện nay quan quân vây đánh sát thành, nó như con cá bơi dưới đáy hũ, sớm muộn sẽ mổ thôi ! Nhưng bà con thân thích nó, trước đây, quan địa phương đã tâu báo bắt giam, đã giao đình thần lập tức theo luật nghiêm xử rồi tâu. Khi án dâng lên, thì
  • Chia sẻ trang này