0061.0006 - @ nhani78 (Done Wk)

22/1/16
0061.0006 - @ nhani78 (Done Wk)
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    lòng, cốt sao một phen mở rộng mưu mô, sớm giết hết bọn giặc cho yên biên giới, không được chậm trễ, loanh quanh trông ngóng như trước đóng lâu là mất nhuệ khí quân ta tất sẽ bị tội !”.


    Tham tán đạo Quang Hóa là Hoàng Đăng Thận và quyền sung Lãnh binh là Lê Đại Cương đóng ở đồn Lâm Phủ tâu rằng : “Trước đây, bọn quan nước Phiên là Trá Tri Long đánh tan giặc Xiêm ở Ba Cầu Nam, đã phái ủy Phó vệ úy dinh Thần cơ là Nguyễn Đình Cát cùng Nguyễn Hoàng Thỏa đem binh dõng cùng nhau đốc thúc đuổi đánh. Sau đó, bọn Ốc Nha Y Trách Xu lại đánh bại giặc ở Kha Lăng ; giặc chạy đến Trà Lăng. Lại phái nguyên Phó lãnh binh Phiên An là Giả Tiến Chiêm đến xứ An Khu, đóng đồn đón chặn. Nay quân giặc lui đóng ở địa phận Sơn Phủ, Ba Lai, thần đã tư cho các tham tán ở quân thứ Nam Vang bàn tính mà làm, đợi tờ tư phúc đáp lại, sẽ tùy cơ hội tiễu ngay”. (Trà Lăng : tên đất ; Ba Lai : tên phủ).


    Vua dụ rằng : “Giặc Xiêm nhiều lần bị quan quân đánh tan, lại bị quan phiên chặn đón đánh giết, chắc đã mất vía, hoảng sợ chạy trốn đến cả những khi nghe tiếng hạc kêu gió thổi. Vậy các ngươi nên mau chóng chia đường đuổi đánh cho sớm được yên. Còn công việc thiện hậu đã có bọn Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân đóng lại ở Nam Vang xếp đặt”. Chuẩn cho Hoàng Đăng Thận đem binh dõng theo đi trước, về quân thứ Gia Định, góp sức đánh thành. Sau đó, bổ Lê Đại Cương làm Bố chính sứ An Giang, cho tạm làm Hộ lý ấn quan phòng tuần phủ, vẫn ở lại thành Nam Vang, hiệp cùng Tổng đốc Trương Minh Giảng bàn làm việc thiện hậu về nước Chân Lạp để nhờ tay quen giúp việc. Cương tâu nói : “Hoàng Đăng Thận tiến đến Chê Lăng, đuổi bắt giặc trốn, thì tiếp tin, do thủy đạo Nam Vang báo lại rằng con đường Phủ Lật còn nhiều trở ngại, hiện đã cùng Vệ úy Nguyễn Văn Thị đem quân và voi do đường Nam Vang khác, thẳng đến Xà Năng tùy cơ hội đánh” (Phủ Lật : tên phủ).


    Vua phê rằng : “Nay đã thăng cho ngươi làm thự Tuần phủ An Giang, ngươi nên tìm hết mưu kế làm cho xứng với nhiệm vụ đã giao”.


    Lãnh binh Nghệ An Nguyễn Văn Tạo chết. Tạo lúc mới bị bệnh lưu lại ở sách Trú Cẩm, đến nay bệnh nặng, chết. Quan tỉnh đem việc tâu lên. Vua lấy làm thương, chuẩn cho cấp thêm tiền tuất gấp đôi.


    Dùng Phó lãnh binh quyền sung Phó lãnh binh Hải Dương là Nguyễn Lương Điển làm Lãnh binh Lạng Sơn.


    Quan tỉnh Cao Bằng tâu nói : “Kho chứa diêm tiêu, lưu hoàng còn ít, đã tư về Hà Nội chuyển giao để đủ dùng. Nhưng Hà Nội lại vin cớ bận việc, điềm nhiên không phái người đem đến cho !”. Vua liền sai bộ Hộ truyền dụ cho Tổng đốc Đoàn Văn Trường, Bố chính Nguyễn Hữu Khuê chiếu theo số đáng phải đưa đến, vát quân và dân vận tải đi, rồi do Bắc Ninh và Lạng Sơn thay lượt nhau mà chuyển giải. Còn trước đấy tạ sự đun đẩy thì truyền Chỉ ban quở.


    Tuần phủ Ninh Bình Lê Nguyên Hy và án sát Nguyễn Bá Thản mật tâu : “Do thám biết được bọn Quách Tất Công lại tụ họp đồ đảng ở Đống Đá làng Chân Lại thuộc Phụng Hóa và miền rừng núi thuộc Gia Viễn và Chương Đức mưu toan gây việc. Bọn thần đã phi tư cho Hà Nội, theo địa hạt mà phòng thủ. Lại đốc thúc Phó lãnh binh Nguyễn Văn Tương, Phó vệ uý Trung vệ dinh Hổ uy là Giáp Văn Tân và Quản phủ phủ Thiên Quan là Vũ Thế Giới đem quân và voi, chia đường đánh dẹp. Lại nữa, lính tỉnh vì phải sai phái đi hết, vậy xin sắc sai Tổng đốc Hà - Ninh gấp điều 500 quân mau đến đóng giữ [Ninh Bình]”. Vua liền sai truyền dụ Tổng đốc Đoàn Văn Trường phái ngay đúng như số quân đã xin.


    Lại dụ Nội các rằng : “Ninh Bình là kiêm hạt của Tổng đốc Hà - Ninh, sự này là việc quân khẩn cấp, sao chẳng tư trình chỗ gần mà lại tâu xin triều đình sắc sai phái quân, há chẳng lại thêm bận rộn đi lại ? Hay là Ninh Bình tự cho rằng ở khác hạt, chẳng chịu phục tòng, cho nên mới nói ra như thế ? Hoặc giả, đã có tư báo mà Tổng đốc bỏ mặc ngoài tai, chẳng chịu điều khiển, nên mới có sớ tâu ấy ? Trong ấy sự tình thế nào, nên truyền dụ Lê Nguyên Hy và Nguyễn Bá Thản cứ thực tâu lại, sẽ xuống Chỉ thi hành. Vả, triều đình đặt ra kiêm hạt cốt để tổng đốc và tuần phủ giúp nhau trông nom chung, nên mới giao cho trách nhiệm kiềm chế. Trước đây đã chuẩn y lời đình nghị : phàm có công việc quan trọng thì đốc, phủ cũng đều nên hết lòng bàn tính, sao gần đây còn có những sự chẳng quan tâm đến việc ở kiêm hạt ? Thí dụ như : năm ngoái, quân ác man quấy rối ở Quảng Ngãi, mà Tuần phủ Nam – Ngãi Đỗ Khắc Thư chẳng chịu trù tính điều độ giúp nhau ? Như vậy đặt chức đốc, phủ kiêm hạt làm gì. Vậy, không thể không nghiêm quở lần nữa. Từ nay nếu Tuần phủ Nam – Ngãi kiêm hạt Quảng Ngãi, Tổng đốc Bình – Phú kiêm hạt Phú Yên, Tuần phủ Thuận – Khánh kiêm hạt Khánh Hòa, Tổng đốc Định – Biên kiêm hạt Biên Hòa, Tổng đốc Long – Tường kiêm hạt Định Tường, Tổng đốc An – Hà kiêm hạt Hà Tiên, Tổng đốc An – Tĩnh kiêm hạt Hà Tĩnh, Tổng đốc Hà - Ninh kiêm hạt Ninh Bình, Tổng đốc Định – Yên kiêm hạt Hưng Yên, Tổng đốc Sơn – Hưng – Tuyên kiêm hạt Tuyên Quang, Hưng Hóa, Tổng đốc Ninh – Thái kiêm hạt Thái Nguyên, Tổng đốc Hải – Yên kiêm hạt Quảng Yên, Tuần phủ Lạng Bình kiêm hạt Cao Bằng. Phàm có những sự vụ quan hệ đến quân cơ, việc biên giới cho đến việc bắt cướp đánh giặc, điều quân, tải lương, các đốc, phủ kiêm hạt đều nên coi như một thể, không được kỳ thị tỉnh này tỉnh kia. Nếu tỉnh thuộc hạt có ý coi khinh không chịu tư trình thì chuẩn cho đốc, phủ kiêm hạt hặc tâu. Nếu đã tư trình mà đốc, phủ kiêm hạt không chịu trù tính làm cho thì cũng cho tuần phủ, bố chính hoặc lãnh binh ở các tỉnh thuộc hạt được hặc tâu”.


    Sau đó, Đoàn Văn Trường tâu nói : “Khi mới được tin Ninh Bình có động, liền phái Lãnh binh Hà Nội là Tôn Thất Chung đem quân và voi kíp đến Chi Nê hội tiễu và làm tờ tư cho Ninh Bình biết đến hội. Sau tiếp được Chỉ dụ rõ ràng, thì lại lựa phái thú binh vệ Cường võ đến đóng để phòng thủ”.


    Vua dụ rằng : “Ninh Bình, đã có Chỉ phái 1 vệ kinh binh tiến đến đủ giúp cho việc trấn áp rồi còn biền binh do Hà Nội phái đi thì cho rút về ngay, để giữ tỉnh thành. Lại nữa, Đoàn Văn Trường, khi tiếp được tư báo, liền phân phái người đi hội tiễu, làm thế đã là thỏa đáng rồi. Vậy mà Lê Nguyên Hy trong tập tấu trước, không trình bày rõ, lại xin xuống sắc cho phái quân. Thực là hàm hồ ! Vậy truyền Chỉ nghiêm quở”.


    Bắt đầu đặt hai vệ Uy dũng và Tráng dũng. Lấy ở Dực uy, Dực tín, Dực thắng, Dực thành mỗi đằng 2 đội, và Dực chấn, Dực thịnh mỗi đằng 1 đội, tất cả 10 đội, đặt tên là vệ Uy dũng, dùng Suất đội Nguyễn Văn Thanh quyền sung Phó vệ úy, đi đóng giữ Ninh Bình. Lấy ở Trấn phủ 1 đội, ở sáu Kiên mỗi kiên 1 đội, ở Dực vĩnh, Dực cường, Dực định, mỗi đằng 1 đội, tất cả 10 đội, đặt tên là vệ Tráng dũng, dùng Suất đội Vũ Văn Bằng quyền sung Phó vệ úy, đi đóng giữ Sơn Tây. Lại trích lấy toàn đội thứ 5 Trung sai, đội Nhị, đội Tam Hữu sai, đội thứ 3 Dực dũng, đội thứ 1 Dực hùng, đội thứ 2 Dực tráng, đội Tam, đội Tứ Tân sai, đội Nhất, đội Nhì, đội Tứ Hùng sai, đội thứ 3 ứng sai, mỗi đội một nửa, dồn làm 4 đội, phái đi Thanh Hoa, lệ thuộc vào vệ Thắng võ mới đặt, theo quản vệ sai phái canh phòng.


    Sai quyền lĩnh Tổng đốc An – Tĩnh là Nguyễn Văn Xuân sung làm Kinh lược đại sứ, thự Thống chế Thần sách Tiền dinh là Phạm Văn Điển sung Kinh lược phó sứ, cấp cho ấn quan phòng Kinh lược, coi quản các vệ Kinh binh phái trước và biền binh do Hà Tĩnh phái đi, nhằm giờ lành ngày 12, lên ngựa tiến đến Trấn Ninh, đánh giặc.


    Vua dụ rằng : “Bọn phản nghịch là Kiệu Huống và Khâm Khuyết quên ơn, cắn trả, tự đặt ra ngoài vòng sinh thành, buộc phải đánh dẹp để tỏ oai trời và răn kẻ ngu muội ngoan ngạnh. Nay các ngươi vâng mệnh đi đánh, chuẩn cho một mặt truyền hịch dụ bảo thổ tri huyện và huyện thừa 8 huyện trong phủ : ai hay tìm cách chém hoặc bắt được hai tên phạm ấy giải nộp sẽ được hậu thưởng và lấy quan chức của hai tên ấy trao cho, khiến biết ăn năn, đổi mới, đều nghĩ quy thuận ; một mặt đốc thúc quân và voi tiến mau đánh mạnh, bắt hoặc chém sạch hai tên phản nghịch và đồ đảng của chúng để dẹp yên biên giới. Còn mọi việc thiện hậu cũng cần phải sắp xếp sẵn. Hai tên phạm kia đem lòng phản bội, noi theo thói cũ của tên Chiêu Nội trước, tự đi đến chỗ tội diệt vong. Đó tuy bởi con người bất lương, mà cũng vì cớ ở chỗ đất xấu. Nếu đã giết được tên phản tặc ấy rồi thì nên tìm địa thế khác, dời phủ lỵ ra cách chỗ cũ vài dặm, hay hơn mươi dặm, kén trong đám thổ ty lấy người đã tòng chinh đắc lực, chia đặt quan chức, để cho chiêu tập vỗ về dân lương thiện được yên nghiệp làm ăn. Rồi tâu ngay để đợi Chỉ, kéo quân khải hoàn”.


    Lại dụ Nguyễn Văn Xuân rằng : “Ngươi tuy cao tuổi nhưng đánh trận đã nhiều; một dải Trấn Ninh, ngươi trước đã từng thân đến, đường sá vốn đã thông thuộc. Vậy, nên vì triều đình, ra sức một phen. Chỗ ấy, nguyên không có thành quách đủ cậy, mà dân lại chẳng tập quen chiến trận, thì cơ nghi đánh dẹp, cũng dễ thành công. Ngươi nên đôn đốc, khuyến khích quân sĩ mau chóng tiến lên, cốt mong một trận thành công được. Bộ lạc người Man nên biết ra thú, quy thuận, thì cũng châm chước, liệu thưởng cho. Nếu tên nào còn dám ra mặt chống cự ta, thì quyết đánh giết kịch liệt, chém đầu, mổ bụng, bêu lên rừng núi để cho biết sợ, chứ không được nhù nhờ dung túng kẻ gian để lỗi cái đạo làm tướng. Vả, quân đi trèo lội, chẳng khỏi nhọc nhằn. Chuẩn cho vát nhiều thầy thuốc dự bị thuốc thang hoàn tán, cho đi tòng quân để điều trị”.


    Lại sai thự Lang trung bộ Hộ là Phùng Đắc Ninh, Biên tu Nội các là Nguyễn Văn Quỳnh theo đi làm từ hàn trong quân.


    Nguyễn Văn Xuân lại tâu nói : “500 biền binh vệ Uy võ do Hà Tĩnh phái đi, đã trích lấy 300 theo quân thứ Lê Thuận Tĩnh, còn 200 đi tuần để bắt thổ phỉ ở Quỳnh Lưu. Lại căn cứ theo số quân do Kinh phái đi là vệ Trung nhất, vệ Trung nhị dinh Vũ lâm, viện Thượng tứ, vệ Kinh tượng và số quân lưu lại là các vệ thuộc dinh Tiền phong hậu, được hơn 1.600 biền binh và 10 thớt voi chiến, hiệp cùng Phạm Văn Điển đem đi tiến đánh. Lại nữa, địa hạt Trấn Định đã báo yên lặng, quân đạo ấy xin rút về ngay. Khi về đến tỉnh, giao cho Lãnh binh Vũ Văn Thuyên cai quản đi làm việc quân”. Vua y theo.


    Bắt đầu ban cấp cáo sắc cho các quan văn võ.


    Vua cho rằng : “Hội điển đã làm xong, chuẩn cho bộ Lại bàn định : Phàm những nhân viên mới được thăng thụ hoặc thực thụ đáng được cáo sắc, đều chiếu theo mẫu văn nghĩ sẵn, dùng hoạt bản, xếp chữ, in ra, cấp cho. Còn những người đáng được truy cấp thì cứ theo lời nghị trước, do các nha trích ra từ trong sổ sách sắp xếp theo từng loại. Những người đã được thực thụ, thăng thự, gia hàm, thì cứ nhằm ngày bản sách ấy được Chỉ phê chuẩn, theo nguyên phẩm mà cấp. Nếu người nào còn bị giáng lưu thì đợi khi được khai phục sẽ làm. Những nhân viên tập ấm hoặc ấm thụ, chiểu theo phẩm, đáng được cấp cáo sắc, thì nghĩ thể thức văn khác cấp cho”.


    Hải phận Vĩnh Long có thương thuyền của người nhà Thanh buôn bán ở nước Xiêm, nhân gặp nạn bão, hơn 100 người bị giạt vào. Vua nghe tin, bảo bộ Hộ rằng : “Nước Xiêm bỏ tình giao hiếu sinh việc thù hằn, vô cớ gây hấn. Những người trong thuyền ấy ở nước Xiêm đã lâu, cũng như người Xiêm vậy. Huống chi người nhà Thanh quen làm trinh thám cho giặc Xiêm, đáng nên trị tội. Nhưng nghĩ đối với lũ tiểu nhân ấy, chẳng thèm nghiêm trách. Vậy sai áp giải đến Nam Vang, do đường bộ, lùa ra ngoài cõi”.


    Cửa ải và bến đò ở hai tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, trước đây, vì có giặc, việc buôn bán không được thông đồng, thuế khóa thiếu nhiều. Quan tỉnh tâu lên. Vua đặc cách gia ơn lượng cho giảm thuế (Thái Nguyên : giảm 5 phần 10, Sơn Tây : giảm 2 phần 10).


    Ác Man ở Quảng Ngãi lén xuống cướp đồn biên giới. Thí sai Suất đội cơ Tĩnh man thứ tư là Đào Văn Phủ tiến đến chặn đánh, trúng tên độc bị chết. Việc lên đến vua. Vua sai truy tặng Cai đội, trật Chánh lục phẩm.


    Hải Dương, gạo kém. Dân khó kiếm ăn. Dụ cho quan tỉnh mở kho cho dân vay. Những tô còn thiếu từ vụ đông và năm trước đều cho hoãn. Dân trong hạt có người tình nguyện bỏ tiền và thóc ra quyên (6 người nhà giàu quyên tiền 1050 quan, thóc 1000 hộc). Ra lệnh đem số quyên đó phát chẩn ngay cho những người nghèo túng. Mùa thu năm ngoái, Sơn Tây cũng có người quyên tiền (3 người nhà giàu quyên tiền 2500 quan) thì bấy giờ gặp lúa vụ mùa chín, có Chỉ trả lại. Đến đây, cũng sai quan tỉnh chia phát cho dân nghèo. Rồi chuẩn cho bộ Hộ bàn theo số quyên nhiều hay ít, đều thưởng cho mũ áo, miễn thuế thân và việc đi phu, đi lính, có từng bậc khác nhau.


    Dùng Trần Nguyên Tưởng, Lang trung bộ Binh, làm án sát Hà Tiên.


    Thuyền buôn của người Anh Cát Lợi đến đỗ ở tấn sở Đà Nẵng thuộc Quảng Nam, bắn 9 phát súng chào. Phó vệ úy án thủ 2 pháo đài An Hải và Điện Hải là Nguyễn Văn Lượng, Phó vệ úy trú phòng là Cao Văn Điện, vì thấy sắp đến ngày lễ Đại tự, không dám bắn súng để đáp lễ. Việc tâu lên. Vua dụ quở rằng : “Thuyền nước ngoài đến, theo lệ, có bắn súng đáp lễ. Huống chi, bắn súng cũng là việc thường, có hại quan hệ gì đến điển lễ cúng tế ? Bọn ngươi sao mà chẳng thông nghĩa lý đến thế !”. Mỗi người đều bị phạt 6 tháng lương. Sắc sai bộ Binh tư hội, và truyền cho 2 pháo đài mỗi đài bắn ngay 3 phát súng để đáp lễ, rồi đến nói với chủ thuyền Anh Cát Lợi rằng : vừa đây, viên giữ tấn sở vì thấy quý quốc mới đến, nên chưa dám tự tiện bắn súng đáp lễ ; nay được quan Thương bạc truyền sức, mới theo lệ làm. Sau đó sai bọn sung biện Các vụ là Nguyễn Tri Phương và Biện lý bộ Hộ là Phạm Thế Hiển xuống thuyền đổi mua võ khí và dặn : nên giữ một mực công bình chính trực, khiến sau nó không nói lại gì được mình, để giữ quốc thể. Còn thuế cảng thì đánh theo lệ thuyền Tây dương.


    Lãnh Tuần phủ Thanh Hoa là Nguyễn Khả Bằng tâu nói : “Gầy đây, tiếp được tin Nghệ An tư báo Trấn Ninh có giặc, xin phái quân đóng giữ địa đầu. Lại nữa thổ phỉ Ninh Bình thông đồng với bọn giặc trốn ở Quảng Địa thuộc tỉnh hạt mưu toan gây việc. Thần đã vát 600 lính thổ Thọ Xuân đến Tàm Châu, Lang Chánh để canh phòng và 1000 lính thổ Thiệu Hóa chia đi bắt giặc”. Vua dụ rằng : “Trấn Ninh có động chẳng qua do bọn thổ ty bị người Xiêm phỉnh phờ dụ dỗ, nên mới manh tâm càn bậy làm phản. Vả, giặc Xiêm trước chia năm đạo quân đến lấn, đạo ở Nam Vang – Hà Tiên rất là hung hăng, nhiều lần đã bị quan quân đánh giết, dạ chột hồn xiêu đang đêm phải trốn ! Đối với hai đạo Quảng Trị – Trấn Tĩnh, quan quân ta, mới đây, lại kế tiếp báo tin thắng trận. Duy có bọn giặc Huống, giặc Khuyết ở Trấn Ninh, ngu tối không biết bị người mê hoặc ; nếu biết tin các đạo quân giặc Xiêm đều thua đã rút về, thì thế tất sẽ tan rã như ngói sụt. Nay đã phái Kinh binh ra, và lấy quân lính Hà Tĩnh, theo các đại viên Kinh lược Nguyễn Văn Xuân và Phạm Văn Điển, đủ giúp vào việc đánh dẹp. Hiện nay, chắc có thể làm nên việc rồi. Hạt ngươi không cần phải lấy thổ binh chia đi canh giữ để thêm kinh động. Nên liệu thả ngay số người đã bị đầu độc ấy về, không nên phái đi Tàm Châu, Lang Chánh, chỉ thêm lặn lội vất vả luống công ! Nếu bọn họ đều nghĩ tình nguyện hăng hái lập công, thì nên sức cho quản phủ 2 phủ đem họ chia đến Quảng Địa và vùng núi Ninh Bình để hội tiễu, là được việc hơn”.


    Bọn Tướng quân và Tham tán quân thứ Gia Định tâu báo tình hình trong quân, nói rằng : “Đảng giặc cố chết giữ thành. Thần đã lựa kỹ được 200 binh dõng hăng hái chiến đấu rồi chọn lấy những cán viên cho đứng cai quản, đêm đến, chia đi ẩn nấp rình dò ở nơi tấn sở bên trường lũy của bốn mặt thành để dứt đường quân giặc lẩn ra tìm kiếm rau dưa. Lại sức những quân bắn súng ở trên các núi đất : nếu thấy quân giặc tụ họp ở trong thành, thì lấy ngay chấn địa lôi ra bắn để giặc ngày càng mỏi mệt hao mòn, sẽ lựa cơ đánh dẹp”. Vua dụ kín rằng : “Quân giặc ngày càng khốn đốn, có thể thừa cơ được đấy, đã dụ sai sớm liệu hạ lệnh đánh thành, để làm xong việc. Vả, chấn địa lôi là thứ lợi khí giết giặc, nên truyền lệnh kín cho bọn pháo thủ dùng cái thước ở súng mà ước lược tính độ số, thường nhằm vào pháo đài trong thành của giặc mà bắn, cốt bắn sao thật trúng, đợi ngày ra lệnh đánh thành, rồi cứ theo như trước bắn nhiều vào thành đài, cốt đạn bắn không chệch, để quân giặc trên thành kinh sợ, đôi khi quân đánh thành đã trèo lên thành rồi mới hãy thôi bắn. Nếu giặc dám lên mặt thành chống cự thì tất trúng phải chấn địa lôi, lập tức sẽ tan như cám ! Nếu giặc sợ chấn địa lôi, xa xa ẩn tránh, chẳng dám lên đài thì quan quân bám vào như kiến, sát cánh nhau mà trèo lên, chắc cũng dễ thôi. Đó là mưu chước phá thành rất hay, nên khéo thể theo ý ấy, ngầm sai pháo thủ luyện tập cho tinh thục, rất không nên để cho người ngoài nghe biết tin hơi. Đến kỳ, mật truyền tướng lệnh, theo kế trước mà làm, chắc là một trận thành công”.


    Lại truyền dụ Tham tán quân thứ Nam Vang là Trương Minh Giảng : trích lấy 1, 2 tên tù binh Xiêm, sai đưa đến quân thứ Gia Định, điệu lên trên lũy, rao cho chúng biết rằng quan quân đã đánh tan giặc Xiêm, bắt sống được những đích danh phạm tội rồi chém đầu đem bêu để trong thành hết mong cứu viện.


    Tướng quân và Tham tán quân thứ Gia Định tâu nói : “Tấn sở mặt sau trường lũy đã bắn 1 phát chấn địa lôi, trúng vào chỗ chứa thuốc súng và ống phun lửa của giặc ở trong thành : khói lửa bốc lên ngùn ngụt, quân giặc sợ hãi”. Sai thưởng 10 lạng bạc cho người bắn.


    Đạo quân Cao Bằng đánh nhau với giặc ở Đinh Lĩnh, không lợi. Tổng thống Tạ Quang Cự và Tham tán Vũ Văn Từ đều bị cách tước phong. Trước đây, quân ta đã về Hiên Lĩnh, Cự đóng ở Nhượng Bạn, Từ đóng ở xã Bà Đông, chia phái biền binh chặn giữ. Quân giặc trung chi, do Công Lĩnh xuống, hữu chi do Sóc Giang xuống, quân ta bắn chết cũng nhiều, chúng dần dần kéo lui. Bỗng tả chi của giặc tự Kim Mã, Thái Nguyên kéo đến ước hơn 2000 người, xông đến đồn Gia Bang. Phó quản cơ Lê Văn Sĩ và Trần Văn Vân đóng giữ Đinh Lĩnh, đánh nhau suốt ngày, sức quân đã mệt. Tối đến, giặc 3 mặt ập đến, quân ta không thể đánh được, bị thương vong nhiều. Lê Văn Sĩ cũng bị thương, lui vào làng Lân Chỉ. Báo đến quân thứ, Vũ Văn Từ lùi đóng ở Nhượng Bạn, Tạ Quang Cự thì đóng ở châu sở Thạch Lâm. Rồi đem tình hình tâu nói : “Quân giặc nay đã lan tràn thêm rộng. Dân Cao Bằng theo giặc không những một tổng Thông Nông. Mà số 3000 quân đi trận bấy nay trèo đèo lặn suối, nhọc mệt đã lâu, so với trước nay đã dần kém hăng hái sắc bén ! Huống chi vùng này từ Bà Đông trở lên, 3 mặt rừng núi bao la, đường lối nhiều ngả. Quân giặc vụt đến, vụt đi chẳng khỏi giữ chỗ này, mất chỗ khác. Lại cũng chẳng tiện mạo hiểm vào sâu, thành thử mới phải tạm dời quân về, đóng lại để dưỡng sức, và đến gần để giữ kho tàng tỉnh thành. Vậy xin phát thêm biền binh sinh lực và sắc sai 2 đạo quân Tuyên Quang, Thái Nguyên cùng tiến, hợp đánh”.


    Vua dụ rằng : “Cứ theo lời tâu thắng trận, chỉ nói bắn chết được nhiều quân giặc nhưng không nói chém được 1 đầu giặc, bắt được 1 tên nào, thế mà quan quân bị thương vong nhiều, súng ống gián hoặc cũng có mất mát, thì chỗ được không đủ bù lại chỗ mất ! Lại, trước kia, tâu trình rằng giả vờ rút lui để nhử giặc vào mai phục, nay chẳng những không giết được giặc mà giặc lại thêm hung hăng. Đó đều là bởi bọn ngươi có lòng sợ sệt điều khiển không hợp nghi. Phép nước rất nghiêm, khó tha thứ được. Vậy Tạ Quang Cự bị cách tước bá, còn lại tước tử. Vũ Văn Từ cũng bị cách tước nam, và truyền Chỉ nghiêm quở. Phó quản cơ Lê Văn Sĩ và Trần Văn Vân đều bị giáng 4 cấp cho đi đới tội lập công. Nay 2 đạo Tuyên Quang, Thái Nguyên đều có phái quân hiệp tiễu. Lại có Chỉ sai Lê Đạo Quảng đến hiệp sức cùng làm việc quân cơ. Chuẩn cho bọn ngươi nghỉ ngơi mươi ngày, rồi lập tức hăng hái tiến lên, sớm bắt hoặc chém cho hết sạch bọn giặc ấy. Nếu cuối cùng vẫn không thành công thì thử nghĩ xem có đương nổi cái lỗi nặng ấy không ?”.


    Điều thú binh vệ Nghĩa võ Lạng Sơn gấp đến Cao Bằng, theo Tạ Quang Cự đánh giặc.


    Sai biền binh thủy quân đi 2 cái thuyền Hải Đạo, chở súng điểu sang máy đá lửa và súng điểu sang máy Trung Quốc mỗi thứ 500 khẩu đến Hà Nội để chuyển đến 2 đạo quân thứ Cao Bằng, Tuyên Quang (mỗi đạo 250 khẩu súng điểu sang, mỗi khẩu 150 viên đạn). Lại sai Nam Định và Hà Nội trích lấy súng điểu sang máy đá lửa đưa đến Bắc Ninh và Tuyên Quang. Nếu 2 đạo quân Cao Bằng – Tuyên Quang có thiếu dùng thì tải đến cấp cho.


    Bọn Vệ úy đạo Cam Lộ Lê Văn Thụy, án sát Hồ Hữu Thẩm, thự Phó vệ úy Phạm Phi tâu nói : “Quân ta đánh được giặc ở Công Nhạc, đuổi đến La Ha Cục (tên đất, cách sông Khung độ 1 ngày đường), giặc bỏ đồn, trốn trước. Vì bấy giờ đại hạn, nước cạn, cỏ khô, quân và voi không tiện ở lâu, bèn quay về sông Tấm Lục đóng đồn.


    Vua sai truyền dụ rằng : “Bọn ngươi nếu đã theo lời dụ trước, tìm đường tiến lên, cùng Lê Thuận Tĩnh họp quân thì thôi, ví bằng còn ở Tấm Lục thì cho rút ngay về nghỉ ngơi ở phủ Cam Lộ. Còn công trạng trận này, đợi khi rút quân sẽ phân biệt bàn công định thưởng”. Sau đó, bọn Văn Thụy tâu nói : “Dò hỏi đường đất, từ Ba Lan đến Trấn Tĩnh phải trải 7, 8 ngày đường rừng núi, chuyển vận lương thướng rất khó, chưa dám vội vàng khinh suất mà tiến. Vả, quân ta 2 lần đánh bại giặc Xiêm, chúng đã chạy xa rồi. Nhưng Man Lạo bập bỗng thất thường, hoặc giả còn có giặc tàn ẩn núp ở trong rừng rậm, nên còn phải đóng quân ở đầu địa giới Ba Lan, chia nhau do thám tuần tiễu”.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Đạo quan quân ấy đánh dẹp giặc Man ở các xứ Ba Lan, trước đã bắt tướng, chém đầu, thảy đều đã gần yên lặng. Ta đã hạ chỉ dụ từ suất đội trở lên, thưởng gia quân công kỷ lục, và thưởng tiền cho các binh dõng. Nay lại gia ơn cho quan quân cưỡi voi mà đắc lực đều thưởng cho tiền lương 1 tháng, còn các quan văn võ binh dõng đi đánh trận ấy đều cấp cho nửa tháng lương. Vệ úy Lê Văn Thụy, thưởng thụ chưởng cơ, vẫn coi vệ Kinh tượng Nhất. Hồ Hữu Thẩm thưởng thụ bố chính sứ vẫn lĩnh án sát. Thự Phó vệ úy Phạm Phi cho thực thụ ngay. Nay giặc Xiêm đã từng khiếp sợ, một dải sơn phận chín châu hiện đã phẳng lặng, chuẩn cho bọn Lê Văn Thụy, Hồ Hữu Thẩm và Phạm Phi theo ngay lời dụ lần sau, rút về Cam Lộ, đem kinh binh phái trước, và hương dõng mới bổ, do đường đại lộ, tiến đến Nghệ An, theo quân thứ Lê Thuận Tĩnh, hiệp sức cùng đánh dẹp. Lại chuẩn cho Hồ Hữu Thẩm đem theo 50 lính cơ Quảng Trị được dùng làm quân bộ hạ.


    Tổng đốc Sơn – Hưng – Tuyên Lê Văn Đức tâu nói : “Cứ theo tin của 2 tỉnh
    Hà Nội, Ninh Bình mấy lần đã báo, dò thấy thổ phỉ Sơn Âm quần tụ, đồ đảng ẩn hiện ở phần rừng các huyện Gia Viễn, Phụng Hóa thuộc Ninh Bình, Chương Đức, Hoài An thuộc Hà Nội, và Mỹ Lương thuộc Sơn Tây. Thần đã phái Phó lãnh binh Tống Văn Tuyển đem quân gấp đến Mỹ Lương ngăn chặn và tư cho bộ biền 2 tỉnh tùy cơ hợp đánh.


    “Lại có toán giặc lén lút nổi lên ở hạt huyện Phù Ninh. Quản phủ Đoan Hùng Tống Hữu Đường, đem quân đi, gặp nguy hiểm. Cai đội Nguyễn Đăng Tân bị giặc làm hại. Thần cũng đã phái thêm biền binh đến tại chỗ để hội bắt”.


    Vua dụ sai kíp thúc bộ biền sớm dập tắt ngay. Tống Hữu Đường đi tuần tiễu không được việc, trước hãy phạt giáng 1 cấp.


    Ngày Đinh Mùi. Làm lễ tế trời đất ở đàn Nam Giao.


    Trước đó 1 ngày, vua đến trai cung, thân trồng 10 cây thông ở 2 bên tả hữu trai cung. Rồi treo thẻ đồng ở trên cây, thẻ đồng khắc bài minh do vua soạn để truyền lâu dài. Lại sai các hoàng tử mọi tước công mỗi người trồng 1 cây thông cũng có thẻ đồng khắc ghi tước mình (về sau, ở Kinh, từ tứ phẩm ấn quan phòng trở lên và các quan ở địa phương về Kinh dự lễ tế Giao đều được trồng cây, cũng có thẻ đồng khắc tên họ và ngày tháng). Hôm ấy, khi trời ấm áp, lễ nghi chỉnh đốn, nhàn nhã. Đến khi vua về cung, thưởng cho các quan chấp sự kim tiền, ngân tiền có từng bậc (sau đó đặt làm lệ thường). Đêm hôm ấy, trời mưa. Vua rất mừng, dụ Nội các rằng : ở Kinh huyện((1) Kinh huyện : tức ba huyện Hương Trà, Phú Vinh và Quảng Điền thuộc Kinh đô.1) lúa vừa mới đâm bông, được trận mưa xuân này chan chứa nhuần thấm, trăm thứ lúa đều tốt bồng lên, chắc hẳn năm nay được mùa to, càng tỏ cái điềm trời đất phù hộ độ trì, ta càng xiết bao kính cẩn cảm kích ! Vậy sai bộ Lễ truyền dụ hỏi khắp các địa phương : tình trạng mưa móc và ruộng lúa ra sao, rồi tâu lên. Hôm tế Giao ấy, tỉnh Thanh Hoa, theo lệ phải tiến cam đường, do trạm chuyển đệ, lỡ kỳ không kịp dâng tiến. Vua cho rằng tế Giao là lễ quan trọng. Sắc sai từ nay về sau, đến kỳ hái tiến, cho đổi sai cán viên nhận lĩnh chuyển đệ, cốt phải sáng sớm ngày hôm trước đã đến trai đàn ; nếu lại chậm trễ, sẽ trị tội nặng ngay phái viên ấy. Việc này được ghi để làm lệnh.


    Sai Kinh doãn đắp lại những mồ mả bỏ hoang.


    Vua dụ Nội các rằng : “Xưa, vua Văn vương gia ơn thấm đến xương khô, sử sách cho là một chuyện đẹp đẽ. Bản triều, trước kia, nhân việc đắp đàn Nam Giao, mở nhằm chỗ có mồ mả, đã chọn đất dời mộ đi, hằng năm ban lễ tế để tỏ lòng nhân hậu. Nay nghĩ : ngày tháng đã lâu, chẳng khỏi sụt lở. Vậy sai viên Kinh doãn thuê dân sửa đắp, lại cho một tuần tế. Sau này, cứ 3 năm hay 5 năm, một lần kiểm soát, nếu có chỗ nào bị người và súc vật giày xéo đến nỗi mòn lở thì bồi đắp lại”.


    Tỉnh Biên Hòa làm sổ danh sách tâu trình về công trạng trước sau của các quan văn võ và lại dịch thuộc tỉnh, trong ấy có viên tri huyện Bình An là Hồ Văn Thăng, chiêu tập dân phu, nhiều lần bắt hoặc chém được tướng giặc và đồ đảng giặc hơn 10 tên. Chuẩn cho thăng bổ Đồng tri phủ phủ Thái Bình, gia hàm tri phủ. Tri phủ Phúc Long Đặng Văn Chính, Tri huyện Long Thành Lê Huy Quang đều hay cố gắng hăng hái theo làm việc quân, đều thưởng thêm 1 cấp, hễ gặp có chỗ khuyết, đều nên thăng chức và bổ trước. Bọn thí sai Suất đội Hoàng Văn Chử 4 người đi theo sai phái, bắt được quân giặc, đều cho thực thụ, vẫn ở lại chức cũ. Lại có Giáo thụ Phúc Long là Nguyễn Đức Phương là học trò tên phản nghịch Đinh Phiên. Thự Tuần phủ Vũ Quýnh, ở tập tấu thỉnh an, có nói kèm đến việc này. Vua ghét Đức Phương học thuật bất chính, liền bắt phải về làng, hưu trí ngay. Giám sát ngự sử đạo Nam – Ngãi là Nguyễn Năng Tĩnh và Giáo thụ Vĩnh Tường là Nguyễn Văn Dư cũng đều là môn đồ Đinh Phiên nên đều phải bãi chức.


    Quan tỉnh Quảng Ngãi tâu nói : “Trong tỉnh có 3 huyện, mỗi huyện đều 7 tổng, nhưng trong ấy các xã thôn lệ thuộc nhiều ít không đều, dân cư lại xa cách nhau, có đòi gọi hoặc đốc thúc việc gì, thường thường chậm trễ. Vậy nghĩ : mỗi huyện nên bỏ bớt 1 tổng, rồi tùy địa thế liên lạc nhau mà chia làm 6 tổng. Xin đến kỳ tuyển lính, sẽ đổi lại sổ sách”. Vua y cho.


    Sai thự Thượng thư bộ Lại là Nguyễn Kim Bảng kiêm coi cả Hàn lâm viện.


    Vũ Xuân Cẩn, Tổng đốc Bình – Phú, tâu hặc thự Tuần phủ Phú Yên Nguyễn Công Liêu và án sát Vũ Đức Mẫn mộ hương dõng, chọn bổ không đều.


    Vua bảo bộ Binh rằng : “Bọn Công Liêu là quan to một địa phương, thế mà lại ra tay thêm bớt, làm việc không được công bằng, đến nỗi bị người ta tham hặc, thực phụ lòng ủy thác của ta nhiều lắm”. Việc giao xuống bộ Hình bàn xử, cả hai đều phải tội cách, lưu.


    Thự án sát Thanh Hoa là Lê Đức Ngạn dâng tập tấu thỉnh an, trong có nói : “Những ruộng công điền trong hạt, từ trước đến nay, dân xã hoặc nhân việc công hay vì nợ riêng thay đổi cầm bán, tiếng là chia ruộng, nhưng thực ra là bị lũ cường hào chiếm hữu. Vậy xin : Phàm những công điền trước đã cầm hoặc bán rồi, thì giao cho dân chiểu lệ chia cấp, như vậy người nghèo được hết sức làm ruộng mà có ăn, người giàu cũng không có nạn kiêm tính.
  • Chia sẻ trang này