0061.0007 @ Nguyễn Liễu-(Done - GD)

19/1/16
0061.0007 @ Nguyễn Liễu-(Done - GD)
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    “Lại 2 huyện Quảng Địa và Thạch Thành, hồi năm ngoái, Nguyễn Đình Bang khởi loạn, chiếm đoạt Hoành Giang và Phố Cát, cướp phá huyện sở Vĩnh Lộc, đó đều do thổ binh 2 huyện làm vây cánh cho nó. Phải đến quan quân tiến đánh, bọn giặc mới tan vỡ. Tổng đốc Nguyễn Văn Trọng và Tham tán Hà Duy Phiên cấp bằng cho người thổ trước là Quách Công Di đem thổ binh 2 huyện đóng giữ đồn Phố Cát. Đó cũng là công việc làm theo quyền nghi. Nay nghe nói thổ phỉ địa phương, ý muốn nổi loạn, nếu để bọn chúng ở đấy, thì thực là dẫn giặc vào trại mà bảo rõ hư, thực. Vậy xin sai quản phủ Thiệu Hóa thả cho chúng về trước, rồi phái Suất đội


    Hà Công Đức đem 300 thổ binh Cẩm Thủy đến thay để canh giữ”.


    Vua dụ rằng : “Ngươi có chức trách giữ đất một địa phương, thì dân sự và biên giới, chính là việc bổn phận ngươi. Vả, phép chia ruộng đã có định lệ, nếu thấy đích xác công điền đã từng cầm hoặc bán, nay giao dân quân cấp, làm mà thỏa đáng và tiện lợi thì nên bàn cùng tuần phủ và bố chính mà thi hành ; không tiện lợi thì thôi. Đến như việc cho quân đóng giữ đồn Phố Cát, trước đây Nguyễn Văn Trọng và Hà Duy Phiên cũng là tạm đặt, há nên câu nệ rằng việc đã thành mà ngại thay đổi ? Sao chẳng bàn cùng tuần phủ và bố chính, liệu sai người khác đến thay để mưu tính phòng bị từ trước, mà lại tâu xin lệnh triều đình cho phải đi lại thêm phiền ? Huống chi việc tỉnh như vậy chẳng ít, nếu nhất nhất cứ đợi Chỉ dụ thì chẳng hóa ra mọi việc đều phải đợi triều đình làm thay cho ngươi hay sao ? Nếu như thế chức vụ ở đâu ? Vậy truyền Chỉ nghiêm quở”.


    Sai thự Thống chế thủy quân là Hoàng Văn Trạm đi Sơn Tây, hiệp cùng bố, án coi giữ tỉnh thành, và quyền giữ ấn quan phòng Tổng đốc Sơn – Hưng – Tuyên. Trước đây Trạm đã ở Sơn Tây, địa thế dân tình đều đã thông thuộc, nhân khi Tổng đốc Lê Văn Đức đi việc công, cho nên sai Trạm làm việc này. Trạm đến trước bệ từ biệt, vua bảo rằng : “Toán giặc nhỏ ở đấy là quân ô hợp, chẳng đáng lo ngại. Cần nên nghiêm cấm lại dịch không được thêm nhiễu, phàm mọi việc phải thân tự kiểm điểm, cốt làm cho dân đều một lòng cảm phục, theo thuận mà không theo nghịch, thì giặc cướp sẽ im hơi, dân hạt đều được yên ổn, chẳng cần chỉ chuyên đánh dẹp làm gì !”.


    Sai thự Chưởng cơ Đoàn Kim quyền lĩnh ấn triện thủy quân.


    Cho nguyên Trấn thủ Cao Bằng, quyền sung Lãnh binh, Vũ Văn Tính, chiếu nguyên chức hàm Chánh tam phẩm theo lệ mà lĩnh lương. Rồi chuẩn cho từ nay, phàm những nhân viên lấy nguyên hàm về hưu, nếu có sai phái đi làm việc bắt giặc, mà chưa khai phục chức hàm thì cũng chiếu theo phẩm hàm trước mà phát lương.


    Đổi cơ An thuận ở Nghệ An làm cơ An tráng.


    Nguyễn Hữu Văn, người Bình Định, đem hiến bộ Hổ trướng khu cơ mà nhà mình đã giữ được. Vua sai ban cho 5 lạng bạc.


    Dùng Phan Văn Cửu, Phó vệ úy dinh Thần sách, làm Phó vệ úy Kiêu kỵ, sau đó thăng Phó vệ úy vệ Hậu nhất doanh Vũ lâm.


    Hoãn việc người chín châu thuộc Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị vào ra mắt. Trước đây, 3 châu Ba Lan, Tầm Bồn và Mường Bổng bị giặc Xiêm xâm lấn quấy rối, dân đều sợ hãi tan tác. Các châu Mường Vanh nhân đó, cũng có việc đánh dẹp, bị bận rộn về việc trưng mộ điều bát. Đến nay, biên cảnh mới yên, gần đến kỳ vào chiêm bái, quan tỉnh tâu xin hoãn đến sang năm. Vua chuẩn y lời tấu.


    Chuẩn định : Các nhân viên vệ Giám thành từ nay có ai can án, bị xử cách, phải truất, thì đều cho cách chức lui làm vệ binh, gắng sức để chuộc tội, không phải bắt về hồi dân. Việc này được ghi làm lệnh (vì cớ vệ Giám thành có nghề chuyên môn).


    Nên thưởng những thọ dân 100 tuổi ở các địa phương (Bình Định 2 người ; Quảng Trị, Hà Tĩnh, Nam Định mỗi tỉnh 1 người).









    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển cxx



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Giáp Ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15 [1834], mùa xuân, tháng hai. Tham tán ở quân thứ Nam Vang là Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân đem hơn 20 chiếc binh thuyền theo thượng du đường sông, tiến đến bến Bông Linh (thuộc phủ Bông Xui) hội với Tán tương Trương Phước Đĩnh trù biện việc biên giới.


    Trước đó, Phước Đĩnh ở Xà Năng, nghe quân Xiêm rút lui về Ba Lai, rồi qua Bông Xui kéo đi, bèn tiến đóng Bông Linh, chia phái người đi tuần tiễu thám thính. Lúc đó vừa gặp Tham tán Hồ Văn Khuê từ Kha Lăng về lưu đóng ở Nam Vang. Bọn Trương Minh Giảng liền đến họp ngay với Trương Phước Đĩnh và làm sớ dâng lên.


    Vua dụ rằng : “Đã nhiều lần tiếp được sớ tâu, giặc Xiêm đã bị đánh tan, chạy trốn, đất Chân Lạp đã được yên. Vậy các ngươi, Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân, mỗi người đem 1000 binh dõng đóng lại thành Nam Vang để trấn áp và trù tính việc thiện hậu. Còn bao nhiêu binh dõng, cho Hồ Văn Khuê, Hoàng Đăng Thận và Trương Phước Đĩnh đều mang cả về quân thứ Gia Định, hiệp sức cùng các tướng quân, tham tán ra lệnh đánh nhau để cho xong việc”. Sau đó, bọn Trương Minh Giảng tâu nói : “Hai phủ Bông Xui, Phủ Lật giáp liền đất Xiêm (Bông Xui ở bờ bên hữu Biển Hồ, Phủ Lật ở bờ bên tả Biển Hồ). Nay quân giặc đã do lối Bông Xui trốn đi, mà nơi ấy địa thế xa vắng, rừng rậm lắm ngả, quân ta chưa tiện khinh tiến. Bọn thần đã sức cho quan Phiên là Trà Tri Long mang quân đuổi bắt rồi. Duy Phủ Lật tiếp giáp với Bắc Tầm Bôn ; vả nghe nói bọn nghịch Giun, nghịch Yêm và nghịch Cố còn tập hợp quân giặc, đóng đồn lại ; vậy cần phải hợp sức tiến tiễu, khiến rợ mọi mãi mãi khiếp sợ binh uy ; cho nên bọn thần đã đem đại đội binh thuyền từ đường sông Xà Năng đi ngược ra tả ngạn Biển Hồ, tiến đến Phủ Lật, thẳng vào sào huyệt giặc, tới địa phận Bắc Tầm Bôn, khiến cho đất Chân Lạp được yên lặng, liền chia đặt tấn sở để phòng thủ rồi kéo quân về. Lại còn 1 đạo Hà Tiên trước đây, đã nhiều lần phái binh thuyền đến tiễu, duy chưa được một viên quan to để điều khiển. Nay ở Nam Vang đã vô sự, bọn thần đã tư báo cho Hồ Văn Khuê mang 1.000 binh dõng chia nhau đi thuyền thẳng đến Hà Tiên xếp đặt mọi việc”.


    Vua lại dụ rằng : “Giặc Xiêm ở Phủ Lật và Bông Xui chẳng qua có một vài bọn lẻ tẻ. Chúng tưởng những chỗ đó xa xôi, quan quân chẳng bõ đuổi đánh đến cùng, nên còn lưu lại mưu đồ cướp bóc dân Phiên đó thôi. Vậy chuẩn cho tức tốc tiến lên với một uy thế rất rầm rộ, cốt sao tiễu trừ cho hết giặc đó, không để sót một tên nào. Các ngươi, Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân, rút quân về ngay thành Nam Vang để trù biện công việc ; Trương Phước Đĩnh cứ tuân theo dụ trước, trở về Gia Định. Còn một đạo Hà Tiên thì chuẩn cho Hồ Văn Khuê nhanh chóng làm cho thanh thỏa rồi cùng lập tức tuân dụ, mang số binh thuyền về quân thứ Gia Định”.


    Bọn án sát đạo Thái Nguyên là Nguyễn Mưu và Phó lãnh binh Nguyễn Văn ưng đem quân và voi đến phố Nà Miêu thuộc Cảm Hóa, tư trước cho Tổng thống đạo Cao Bằng Tạ Quang Cự và Tham tán Vũ Văn Từ, hẹn ngày hội tiễu. Khi đến phố Bằng Quân thì lương đã gần cạn, bèn tạm lấy số tô thuế mà dân sở tại còn thiếu từ năm trước để làm quân lương. Được tin thám tử báo : bọn giặc ước hơn 2.000 tên, từ động Long Lũng lấn vào địa phận Vụ Nông, Hoành Mô (đều là tên xã thuộc tổng Kim Mã) và Lân Chỉ, Lương Trà (đều là tên xã thuộc tỉnh Cao Bằng), thì lập tức do núi Bắc á tiến về mỏ Nhân Sơn (giáp đầu địa giới tổng Kim Mã) tạm đóng lại, thì vừa tiếp được đạo Cao Bằng tư xin tìm đường đi ngay Linh Quang, Linh Mai (đều tên xã, cũng thuộc tổng Kim Mã), phối hợp để đánh giặc. Bọn Nguyễn Mưu liền chỉnh bị quân lính, chờ ngày tiến quân. Lại cho rằng Nà Miêu ở mặt sau, có 2 đường : một đường thông đến Bắc Thành, Cổ Đạo, một đường thông về xã Vụ Nông tổng Kim Mã là nơi cổ họng của Thái Nguyên, bèn báo cho Bố chính Nguyễn Đôn Tố và Lãnh binh Tống Văn Trị phái 200 quân ra đó phòng ngự. Rồi đem tình hình tâu lên.


    Vua dụ rằng : “Bọn giặc ấy sau khi đã thua lụn bại, còn dám nương nơi rừng rậm, tập họp đồ đảng, thực đáng ghét ! Nay các ngươi mang quân đến đó, đã thông tin tức được với đại quân Cao Bằng, thì chuẩn cho tư báo ngay : trước hết sớm tiễu trừ những bọn giặc ở gần đó, rồi thừa thắng, hẹn ngày kéo thẳng tới Ngọc Mạo, Vân Trung, giết sạch kẻ đầu đảng, sẽ có trọng thưởng. Lại nữa, việc hành quân thì lương thực là tối quan trọng. Nguyễn Đôn Tố từ trước đến nay làm những việc gì mà để binh lương thiếu thốn như vậy, há chẳng làm lỡ công việc ? Vậy nay cách chức lưu dùng, vẫn để cho làm việc trù liệu chuyển vận lương thực, nếu để thiếu thốn không chu, sẽ trị theo quân luật”.


    Sau đó bọn giặc nghe thấy 2 đạo quân đều tiến, thì chúng lui về Long Lũng. Bọn Nguyễn Mưu liền do núi Giảng, núi Cùng gấp đường đuổi theo. Đuổi đến mỏ thiếc Vụ Nông, giặc đã trước rút lui rồi, bèn đóng quân lại Linh Quang, chờ hai đạo quân Tuyên Quang, Cao Bằng đến hội tiễu, rồi đem việc tâu lên.


    Vua lại dụ rằng : “Quan quân đến đâu, giặc dã trông bóng lẩn trốn trước ; tin rằng sự cơ đã thuận lợi. Vậy nên hẹn ngày tiến quân, sớm dẹp tan đảng nghịch cho được thành công”.


    Tổng thống đạo Cao Bằng là Tạ Quang Cự, Tham tán Vũ Văn Từ lại tiến quân đến đóng các nơi đồn cũ, và phân phái ngăn chặn. Ban đêm, sai Cai đội cơ Cao Hùng là Đàm Vũ Kiên, Chánh đội trưởng suất đội là Nguyễn Hữu Đĩnh mang thổ hào là lũ Ma Ngọc Lý, Trình Văn Châu đem quân thổ dõng đánh úp giặc ở núi Công Lĩnh, giặc chạy trốn theo lối sau núi. Quan quân chém được 3 thủ cấp, bắt được 4 tên phạm và đốt được trại sách hơn 20 nơi. Rồi đem sự trạng tâu nói : Bọn giặc ở núi Công Lĩnh đã lui, duy còn có những bọn ở Gia Bằng và Lương Trà thì đã tư sang đạo Thái Nguyên hẹn ngày hội tiễu. Lại, trận đánh này, Ma Ngọc Lý xuất sắc nhất, thứ đến Trình Văn Châu, nên đã thưởng cho bạc lạng và thẻ bạc để khuyến khích.


    Vua dụ rằng : “Bọn giặc đương hung hăng, mà thổ ty, thổ dõng đương đêm trổ sức đánh úp, thắng trận như thế, đủ làm nức lòng người ta đôi chút ! Vậy thưởng thụ Ma Ngọc Lý làm Cai đội thuộc tỉnh, Trình Văn Châu làm Chánh đội trưởng ; lại ban cho mỗi người một chiếc áo trận và một chiếc quần màu. Những lính dõng đi trận ấy, thưởng cho mỗi người một quan tiền. Thưởng cho Đàm Vũ Kiên gia hàm Quản cơ và Nguyễn Hữu Đĩnh thưởng thụ Cai đội


    “Vả nay đạo quân Thái Nguyên chắc đã hội lại đông đủ, đạo quân Tuyên Quang cũng sắp tiến lên, mà chuyến này bọn giặc lại bị thua trận. Các ngươi nên khích lệ binh dõng, trước hết tiễu trừ cho hết đảng nghịch ở Gia Bằng, Lương Trà, rồi thừa thắng xông thẳng đến sào huyệt bọn giặc ở Ngọc Mạo, Vân Trung, bắt chém tên đầu sỏ và đồ đảng của nó, để lĩnh phần thưởng to nhất. Nếu lần chần trông ngóng, để sự thành công lọt vào tay một văn quan đạo khác thì ngươi Tạ Quang Cự, thân làm Tổng thống đại thần, còn mặt mũi nào trông thấy người ta ?”.


    Tổng đốc Sơn – Hưng – Tuyên là Lê Văn Đức tâu nói : “Năm ngoái, quan quân tiến đánh sào huyệt giặc ở Ngọc Mạo, có ngoại ủy Cai đội Đinh Công Trọng, Quách Công Nhị và Đội trưởng Đinh Công Tĩnh đều là những người đắc lực. Nay lại vâng mệnh đi Tuyên Quang đánh dẹp thần đã phi sức cho mấy tên ấy vát lính thổ dõng đi tòng chinh. Vậy xin đặc cách thưởng thụ chức hàm cho chúng, để chúng phấn khởi”.


    Vua bèn chuẩn cho Đinh Công Trọng và Quách Công Nhị làm Cai đội thuộc tỉnh, Đinh Công Tĩnh làm Chánh đội trưởng.


    Đảng giặc ở trong thành Phiên An cũ có hơn trăm tên, nhân ban đêm, lẻn ra ngoài tiễu lũy ở phía trước thành, đánh nhau với quân lính đi tuần. Tham tán Lê Đăng Doanh được tin, thân đốc biền binh ở Trường Lũy sấn lại đánh giáp lá cà. Tướng quân Tống Phước Lương cũng tiếp đến cứu ứng. Giặc lui vào thành. Các súng đại bác trên thành đồng thời cùng bắn. Biền binh bị đạn chết hơn 40 người. Các Tướng quân và Tham tán tức thì chỉ đích danh, nghiêm hặc tấn phận sở tại


    và quản vệ các vệ tiếp ứng. Tống Phước Lương và Lê Đăng Doanh cũng đều tự nhận lỗi.


    Vua dụ rằng : “Bọn giặc còn sót lại ở Phiên An, khốn đốn bám lấy cô thành, còn có lực lượng gì mà dám đêm ra quấy nhiễu ! Đó thực bởi các tướng quân : kỷ luật không nghiêm, tấn sở tỏ ra có chút trễ tràng sơ sót, cho nên quân giặc mới nhắm được vào kẽ hở. Lúc lâm sự, ứng biến, lại không nhanh, đã chẳng bắt giết được tên giặc nào, mà biền binh lại bị thương vong ! Xem tờ tấu, bao xiết căm giận, tức bực ! Trước đây, đã từng dụ bảo : chia quân ra đóng bốn góc, nếu giặc ra quấy nhiễu phía trước, thì hai góc tả, hữu tức tốc đi vòng ra phía sau, đánh úp giặc. Đó là một mưu mẹo cốt yếu nhất để giết giặc. Sao không làm theo cách ấy, mà lại để phải thất bại như vậy ! Hai Quản vệ ở tấn sở là Nguyễn Văn Thượng và Tôn Thất Hy đều phải cách chức làm lính ; hai tiếp ứng quản vệ là Ngô Tất Khoa và Tôn Thất Tư đều phải cách lưu, cho gắng sức làm việc để chuộc tội ; Lê Đăng Doanh phải giáng hai cấp, Tống Phước Lương phải giáng một cấp. Tất cả đều không cho chống cãi.


    “Vả lại bọn phản nghịch thế đã cùng quẫn, còn dám lẻn ra chiến đấu như thế, là vì cớ chúng nhòm biết việc phòng ngự mặt ấy phần nhiều là hương dõng, không am hiểu quân luật. Nay số biền binh do Kinh phái đi đều đã đến quân thứ, vậy chuẩn cho lấy ngay thêm quân sung vào tấn sở mặt đó để phòng bị được nghiêm”.


    Vua cho rằng việc tiễu giặc Xiêm ở đạo Nam Vang đã gần xong, bèn sai Binh bộ truyền dụ cho Tham tán Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân xét trong đám hương dõng thuộc hạ Thái Công Triều, ai tình nguyện đi tòng chinh thì sức cho mang về Gia Định để theo các Tướng quân và Tham tán sai phái. Còn bao nhiêu thì thả ra ngay. Những hương dõng Gia Định và Biên Hòa, được phân phái đi các đồn để tòng chinh, và những hương dõng Bình Thuận đóng giữ tỉnh thành, cũng ra lệnh thả cho về hết.


    Thự Tổng đốc Hải – Yên sung Tham tán đạo Tuyên Quang là Nguyễn Công Trứ, chỉnh đốn các tướng sĩ thuộc quyền, nhằm ngày 12 khởi hành đi Sơn Tây,


    hội cùng Tổng đốc Lê Văn Đức để bàn định việc dẹp giặc. Nhân đó, Trứ tâu


    xin phát tiền và lương cho những thú đinh và thủ hạ mang theo để họ chi dùng. Vua chuẩn y cho.


    Binh thuyền của bọn Phó vệ úy vệ Tiền nhất dinh Vũ Lâm, quyền sung Thống chế là Lê Văn Quý, Tả thị lang bộ Binh, Tán tương cơ vụ là Trần Chấn, Vệ úy vệ Cẩm y là Đoàn Dũ do Kinh phái đi, đã đến đảo Phú Quốc thuộc Hà Tiên. Trước đó, binh thuyền ấy bị bão, giạt vào hải phận nước Xiêm, củi, nước sắp hết, mọi người đều lo sợ. Bọn Lê Văn Quý khấu đầu, khấn thần, thì một chốc gió thuận, đoàn thuyền lại quay về. Dọc đường, gặp đoàn thuyền của giặc Xiêm hơn trăm chiếc, chúng đều lánh đi, không hỏi gì cả. Vì thế, bọn Quý được toàn quân trở về. Khi đến Hà Tiên, làm sớ tâu rõ mọi việc, do quan tỉnh ấy chuyển đệ đi.


    Lại cứ tỉnh ấy báo cáo rằng tỉnh thành vừa mới thu phục, binh khí còn thiếu thốn nhiều, xin tạm cấp cho một số súng ống khí giới đạn dược. (Súng phách sơn và súng quá sơn mỗi thứ 10 cỗ, súng luân xa 2 cỗ, ống phun lửa 200 chiếc, trường thương 200 cây, đạn chì 2000 viên, đạn gang 2200 viên, súng thăng thiên 50 cây, thuốc súng 1500 cân, thuốc bắc bình vị một đơn, thuốc viên 5000 viên). Sau đó, bọn Lê Văn Quý, ruổi thuyền đi ngay quân thứ Gia Định. Khi sớ đến nơi, vua lấy làm lạ, bảo thị thần rằng : “Cuộc hành quân này nếu không có thần giúp thì sao được như thế”. Nhân đó sắc sai bộ Lễ sửa lễ Thái lao đến đền Thiên Hậu lễ tạ.


    Vời Tuần phủ Hà Duy Phiên về Kinh.


    Trước đây, Phiên đến tỉnh, thân lĩnh binh dõng, phối hợp với các Tướng quân và Tham tán chia nhau đóng giữ tấn sở Trường Lũy. Có kẻ nói với Tống Phước Lương : ở ngoài đồn rằng Hà Duy Phiên cùng quê với giặc Khôi, ngày đêm Khôi chưa chết, nó thường đưa tôm, cá, hải vật đến biếu Phiên ; quan quân có động tĩnh gì, Khôi cũng ngầm đưa thư để báo cho biết. Lương đem việc đó nói cho Phiên biết. Phiên trong lòng không yên, bèn dâng sớ trình bày, đại lược nói : “Thần quê ở Thanh Hoa, giặc Khôi thì quê ở Cao Bằng ; đã không cùng châu, lại không quen biết nhau. Nay bọn Khôi nổi loạn, tội ác đầy dẫy, thần và người đều căm giận. Chúng liều chết cố thủ cô thành, như hồn cá vật vờ nơi đáy chõ ; dẫu đàn bà, trẻ con cũng đều biết rằng, một ngày không xa, chúng sẽ chụm đầu nhau mà chịu tội chết. Thần là người chưa mất lương tâm, há lại đi giao kết với giặc, để mang cái vạ chết cả họ ư ? Từ khi thần nghe thấy tin này, đêm ngày lo sợ, quên ngủ, quên ăn, tuy vẫn gắng gượng làm việc, nhưng đối với nha lại, quân lính, thần cũng tự thấy bẽ mặt ! Một nỗi đau khổ trong lòng không biết bày tỏ cùng ai. Vậy xin nhà vua sắc sai điều tra việc này cho được minh bạch. Nếu xét ra thần có mảy lòng bất trung, bất chính, thì xin đem giết cả họ thần để tỏ phép nước, nếu thần chưa phải là kẻ táng tận lương tâm đến thế, thì cũng nhờ sự minh xét đó mà rửa được tiếng nhơ”.


    Vua phê rằng : “Việc này chẳng qua vì việc tham hặc Đoàn Cảnh Thạc mà sinh ra đó thôi”. (Vệ úy Bảo thanh Đoàn Cảnh Thạc, trước đây nhân lúc Phiên An lắm việc, nó thông đồng với tên giữ kho tỉnh, ăn cắp của công. Hà Duy Phiên tâu hặc việc đó. Thạc bị bắt, giải kinh, giao bộ Hình xét xử. Thạc cuối cùng phải phát vãng đi làm lính). Vua bèn dụ Nội các rằng : “Giặc Lê Văn Khôi tội ác đầy trời, dẫu kẻ chí ngu cũng biết là tất phải thất bại. Phàm những người có huyết khí không ai không muốn ăn thịt, nằm da nó để tỏ lòng căm hờn. Lẽ nào một người có tước lộc, lại vô cớ đi tìm cái họa phải tuyệt diệt cả họ, cam lòng lén lút tư thông với lũ giặc mà khắp gầm trời đều căm hờn ? Việc này, xét cả về tình, về lý, đều nhất quyết là không có. Đó chẳng qua chỉ là một lời đồn đại vô căn cứ, thực không cần phải biện bạch mà cũng biết được. Có điều là nay đã có lời khao đồn như thế, thì Hà Duy Phiên chắc cũng chẳng yên tâm làm việc ở quân thứ được. Vậy cho đi ngựa trạm, về Kinh để lựa dụng. Số binh dõng do Phiên cai quản trước, nay giao cho Tổng đốc Nguyễn Văn Trọng quản lĩnh. Các công việc về tiền, lương, quân nhu mà Phiên đang làm thì giao cho Bố chính, án sát Hoàng Văn Đản và Hoàng Văn Minh trông coi. Lại nữa, thành Gia Định, trước đây, đã bàn không đặt chức tuần phủ, năm ngoái vì tỉnh ấy nhiều việc, nên tạm đặt để giúp đỡ mọi người bàn bạc và làm. Nay bất tất phải đặt nữa”.


    Chuyển vận một vạn phương gạo kho Định Tường đến Biên Hòa.


    Bộ biền Hà Nội đánh tan được tụi giặc tỉnh Ninh Bình ở huyện Chương Đức.


    Trước đây, Tổng đốc Đoàn Văn Trường được tin báo tên giặc trốn tránh là bọn Quách Tất Công tập hợp hơn 600 tên, ngấm ngầm tụ họp ở những khu rừng thuộc Chương Đức, Gia Viễn và Mỹ Lương. Trường lập tức sai Phó lãnh binh Vũ Đình Quang đem lính và voi, cùng với Quản phủ Nguyễn Đăng Khánh đi tiễu. Bọn này gặp giặc ở Miếu Môn (tên đất), đánh và bắt sống được Thống lãnh Tiền quân của giặc là Nguyễn Văn Lưỡng, chém và bắt làm tù binh được nhiều đồng đảng nó. Lại cho quân đi lùng bắt được Tham tán giặc là Nguyễn Bá Năng và Phó cơ giặc là


    Bùi Văn Mạch.


    Việc lên đến vua. Vua khen việc bắt giặc ấy xuất sắc. Thưởng cho Vũ Đình Quang, Nguyễn Đăng Khánh, mỗi người được gia nhập quân công một cấp. Lại thưởng thụ cho Nguyễn Đăng Khánh chức Vệ úy, trật Tòng tam phẩm, vẫn lĩnh chức Quản phủ. Những người đi trận ấy, cai đội Nguyễn Văn Tài, Dương Văn Khải đều được thưởng thụ Phó quản cơ. Người bắt sống được thống lãnh giặc ngay tại trận, được thưởng 30 lạng bạc. Và người tiếp tục bắt được hai phạm nhân là tham tán và phó quản cơ, đều được thưởng 10 lạng bạc. Ngoài ra, đều theo lệ thưởng cấp ; còn binh dõng đều thưởng cho tiền và lương một tháng. Đoàn Văn Trường, biết dùng người được việc, thưởng gia một cấp. Lại, Cai tổng Quách Công Ba vì thám báo trước để phá mưu gian của giặc, truyền Chỉ ban khen, và thưởng 20 lạng bạc.


    Bố chính, án sát Thanh Hoa là Nguyễn Đăng Giai và Lê Đức Ngạn tâu nói : “Ninh Bình báo có toán giặc vài trăm tên ngầm lẻn về khu rừng Bình Đô thuộc huyện Phụng Hóa, chỗ gần tỉnh hạt, mưu toan sinh sự. Tuần phủ Nguyễn Khả Bằng tức thì mang binh và voi tiến đến Tống Sơn để tùy cơ hội tiễu. Lại, ở địa hạt các huyện Quảng Địa, Vĩnh Lộc cũng có giặc lén lút ló ra. Hiện đương phái biền binh đi đuổi bắt. Lại vừa được tin rằng Quốc trưởng Nam Chưởng sai con là Chiêu Kiển mang hơn một vạn quân và hơn 90 thớt voi tiến đến đóng ở Ninh Biên thuộc Hưng Hóa, sai người đến dụ 3 huyện Trình Cố, Sầm Nưa và Mán Xuy thuộc phủ Trấn Man thần phục như cũ, nếu không nghe thì nhất định sẽ giết sạch. Xét ra 3 huyện này trước thuộc về nước Vạn Tượng, không liên quan gì đến Nam Chưởng, nay lại mang quân đến sách nhiễu, thực đáng quái lạ. Hiện đã cho đi thám thính lại cho được đích xác”.


    Vua phê rằng : “Chuyên nghề dọa nạt dụ dỗ, là thói quen của bọn Man, Lạo, chẳng lấy gì làm lạ. Nay dụ sai truyền bảo các thổ mục các huyện ấy nên tự chuẩn bị trước, đừng đem lòng sợ hãi”. Bọn Giai lại tâu xin truyền hịch sức bảo Quản phủ phủ Thọ Xuân là Lê Phi Ba mang 600 lính thổ đến đóng chặn ở những nơi giáp giới với địa đầu 3 huyện ấy, xa xa làm thanh thế tiếp viện để chờ xem sự nó gây hấn”.


    Vua dụ rằng : “Người Xiêm đã bị thua rồi, nước Nam Chưởng nhỏ xíu kia há có thể tự quấy rối được ư ? Nhưng việc cốt phải đề phòng trước, không nên coi thường. Vậy chuẩn y lời tâu”.


    Tỉnh Lạng Sơn lùng bắt được ngụy Thống lãnh là Nguyễn Khắc Thước, giết đi.


    Trước đây, Thước bị quan quân đánh bại, chạy trốn về châu Lộc Bình. Thổ tri châu, gia hàm Tri phủ, là Vi Thế Tuân, đốc thúc bọn bộ dịch Lãnh Quản Đường đò bắt. Thước cùng với hai tên thuộc hạ gọt đầu trốn vào địa hạt châu Tư Lăng bên nhà Thanh. Bọn bộ dịch đuổi theo được. Bỗng thấy châu sở tại sai người đến bắt mang cả về châu. Tuần phủ Lê Đạo Quảng được tin báo, tức thì tư sang phủ Thái Bình yêu cầu sức viên tri châu trao trả để ta xét xử. Việc đến tai vua. Vua hạ lệnh cho biền binh 3 tỉnh Hải Dương, Quảng Yên và Bắc Ninh đi hội tiễu trước đều rút về cả. Khi châu Tư Lăng đưa trả bọn phạm nhân sang đến tỉnh, Đạo Quảng lại làm sớ tâu lên.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Tên nghịch phạm Nguyễn Khắc Thước đã từng được làm quan chức của triều đình, nay đem lòng bội bạc như con cưu, con cách((1) Cưu : chim ăn thịt mẹ. Cách : thú ăn thịt cha.1), thông đồng với giặc, mạo xưng danh hiệu, trở giáo giết nguyên Tuần phủ Hoàng Văn Quyền, lại tụ họp bè đảng đánh tỉnh thành, tội ác rất nặng. Kịp khi quan quân đánh bại, lại còn gọt đầu chạy trốn sang Trung Quốc. Lãnh Quảng Đường là một vị đầu mục hàng tổng, mà biết mang lính dõng và thủ hạ đuổi kỳ cùng, bắt được tên Thước, thực là đắc lực. Nay thưởng thụ cho Đường chức Cai đội thuộc tỉnh, trật Chánh lục phẩm và thưởng thêm 100 lạng bạc. Vi Thế Tuân được thưởng thụ ngay chức thổ Tri phủ, nhưng vẫn làm việc ở châu Lộc Bình và được thưởng thêm một cái áo trận bằng bông. Còn tên nghịch Thước thì nhốt vào cũi sắt cho lần lượt giải về Kinh dùng hết phép để trừng trị”.


    Đồng đảng của Thước là ngụy Trung quân Dương Ba An, ngụy Hậu quân Hoàng ất An, tự khi bị thua ở Yên Châu, chạy về khu rừng châu Tiên Yên thuộc Quảng Yên. Quan võ Hải Dương là Lãnh binh Nguyễn Lương Điển bắt được 3 tên đồng la nó. Vua dụ sai Điển về ngay Lạng Sơn cung chức. Trước kia Điển đi bắt giặc, vì sai hẹn, bị giáng một cấp, nay cho khai phục. Quan võ Quảng Yên là Phó quản cơ Đỗ Văn Giai, cũng lùng bắt được ngụy Tham tán Bình Hải Tả quân sư Lưu Huy Sơn (người châu Liêm nhà Thanh đồng đảng với Thước và An), được thưởng 20 lạng bạc ; trước bị giáng một cấp, nay cũng cho khai phục. Ngụy Thước đã bị giải đến Kinh, giao cho pháp ty xử tội lăng trì.


    Bọn Tướng quân và Tham tán ở quân thứ Gia Định tâu nói : “Những giặc trong thành ra đầu thú có tên Bạch Xuân Khản là con Bạch Xuân Nguyên. Bọn thần đã đem giam lại để tra hỏi. Nó khai rằng : Trước nó theo ngụy thự Tả quân Lê Bá Minh, đóng ở cửa Gia Định. Ngụy bảo hộ Đặng Vĩnh ưng đã chết. Các tướng giặc : Điều khiển Nguyễn Văn Chắm, Hậu quân Vũ Vĩnh Lộc, Trung quân Nguyễn Văn Quế, Thủy quân Phó tướng Lưu Tín, Phó tướng Nguyễn Văn Hàm, Binh bộ Thái khanh Nguyễn Văn Hòa, Binh bộ Thiếu khanh Đỗ Văn Dự chia nhau đóng ở các cửa Cảng Thần, Phục Viễn và Phiên An. Đảng giặc còn ước hơn 2000 tên, ốm và bị thương đến 500. Voi còn 11 thớt, thóc còn hai kho rưỡi.


    “Lại đêm trước đây, ở tấn sở mặt trước thành, có quân giặc lén ra ; lính vệ Võ dũng là Trần Văn Đột bỏ súng chạy. Bọn thần đã đem chém và rao để răn bảo binh dõng đóng ở 4 mặt thành.


    “Còn đạo Quang Hóa thì liệu để Lãnh binh Lê Sách đem binh dõng đến đóng ở các xứ Phủ Lâm và Bắc Phủ để làm thanh thế viện trợ cho các quan phiên. Rồi tư
  • Chia sẻ trang này