0061.0008 - @ nhani78 (Done Wk)

23/1/16
0061.0008 - @ nhani78 (Done Wk)
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    sức cho Tham tán Hoàng Đăng Thận cùng với Lê Đại Cương, Nguyễn Văn Thị và Nguyễn Hoàng Thoả đều rút quân và voi về quân thứ”.


    Vua dụ rằng : “Đã có Chỉ cho Lê Đại Cương ở lại thành Nam Vang thì không nên rút về Gia Định. Trần Văn Đột gặp giặc, bỏ chạy, đem chém để rao cho mọi người biết, là rất phải. Quân pháp có nghiêm minh thì quân đội mới mong tề chỉnh, nghiêm túc. Từ nay trở đi, từ quản vệ, quản cơ trở xuống, nếu gặp giặc mà chùn lui, thì cho phép được đem chém ngay ở trước quân, không được mảy may đoái hoài, thiên vị. Còn tên thú phạm Bạch Xuân Khản tức thì cho áp giải về Kinh để giao bộ Hình nghiêm xét”. Cuối cùng Khản bị khép vào tội chém, vì đã quên sỉ nhục, thờ quân thù.


    Vua sai truyền dụ cho các Tướng quân và Tham tán rằng : “Súng đại xung tiêu và đại chấn địa lôi, đã nhiều lần mang đi một số lớn. Đã có dụ bảo phải bắn các pháo đài trong thành, không biết đã làm chưa mà chưa thấy tấu báo ? Nay xét nghiệm tình hình, thì quân giặc phần nhiều ẩn nấp ở trên các pháo đài trong thành, mà súng đạn, khí giới, thuốc súng và ống phun lửa cũng đều chứa ở pháo đài cả. Vậy từ nay, phải bí mật sai các pháo thủ phải đem thước súng, ước tính độ số rồi bắn đại chấn địa lôi vào phá các đài ấy, cốt sao phải bắn cho thực trúng, thì đài sẽ sụt thành hố hết, giặc sẽ không còn chỗ đứng chân. Hoặc giả bắn trúng vào nơi chứa thuốc súng và ống phun lửa, thì những thứ này sẽ bốc cháy, tan nát không còn gì. Nếu súng xung tiêu quá mạnh, sợ bắn vượt qua pháo đài trong thành thì có thể lùi súng lại vài chục trượng mà bắn, sẽ không sai.


    “Lại nữa, trước đây đã có dụ bảo đem đại bác bắn phá cánh cổng thành, sau thấy tâu rằng vì giặc đã đem gỗ, đá chèn lấy cổng thành, nên chưa thi hành được. Nhưng thử nghĩ : giả sử giặc có chèn lấp, chẳng qua chỉ lấp độ vài lần, sao chịu nổi được sức công phá của đạn đại bác ? Chỉ trừ mặt trước trường lũy hơi cách xa cửa trước, không kể, còn ba mặt tả, hữu và sau, đều có núi đất đắp cao, nên dùng hạng đại bác rất lớn mà phá cửa thành các mặt ấy, nhưng cần liệu tăng thêm thuốc súng, để sức phá được mạnh hơn. Nếu bắn vỡ được cánh cửa, thì gỗ đá chèn ở mặt sau, không còn chỗ dựa, tất phải đổ theo, nếu bắn vỡ cửa tò vò thì lầu trên thành cũng phải nghiêng đổ, khi đó quân ta mới dễ thừa thế phá vỡ thành. Đó là một kế trọng yếu. Tiếp được dụ, nên khéo thể theo làm ngay !”.


    Thự Vệ úy Hữu vệ, dinh Tiền phong là Ngô Tá Đàm đương ở trên núi đất bắn đại bác đánh giặc, bỗng trúng phải đạn trong thành bắn ra, bị thương chết. Việc lên đến vua. Vua thương xót, đặc cách cho thực thụ chức Vệ úy, và chiểu theo phẩm, cấp tiền tử tuất, lại thưởng thêm 20 lạng bạc. Dùng Cai độ Lê Đắc Thực quyền sung chức Phó vệ úy Hữu vệ dinh Tiền phong.


    Tổng thống đạo Cao Bằng là Tạ Quang Cự và Tham tán Vũ Văn Từ tâu nói : “Chi giữa và chi hữu của bọn giặc lại do núi Công Lĩnh và sông Sóc Giang lên xuống, lại có một chi từ Lục Thôn (tiếp giáp đất nhà Thanh) đến xâm lấn Trà Lĩnh. Bọn thần đã chia phái biền binh đi tiễu, giặc đều thua chạy, có bắt và chém được hơn chục tên. Lại được tin quân đạo Thái Nguyên đã đến Lĩnh Mai, chi tả của giặc đã trốn vào Long Dũng (chỗ tiếp giáo với Tuyên Quang và Thái Nguyên). Nay nghĩ : trước hết hãy đến Lục Thôn, Trà Lĩnh và chi giữa, chi hữu của giặc, lần lượt tiễu trừ, chờ khi quân đạo Tuyên Quang kéo tới, sẽ hội tiễu”.


    Vua dụ rằng : “Lũ giặc ấy sau khi thua liểng xiểng, nay còn dám chia ra từng chi để chống cự, quan quân tuy chưa làm được một phen chém giết thật lớn, chưa hả lòng người, nhưng luôn mấy ngày, tiến đến đâu, thắng đến đó, cũng đáng khen thưởng. Vậy các quan chức văn võ, các thổ ty và binh dõng đi trận này, mỗi người đều được thưởng tiền và lương nửa tháng. Nay đảng giặc đang lúc tan vỡ, các ngươi nên đốc sức quân đội trước hết tiễu trừ các toán giặc ở Lục Thôn, Trà Lĩnh và chi giữa, chi hữu của giặc, rồi lên đường thẳng tiến đến Ngọc Mạo, Vân Trung, hiệp cùng quan quân hai đạo Tuyên Quang, Thái Nguyên tùy cơ vây đánh quân giặc”.


    Bọn giặc ở Bảo Lạc thuộc Tuyên Quang lại tràn xuống Vị Xuyên quấy nhiễu. Viên quyền Lãnh binh Nguyễn Văn Quyền đóng giữ đồn Ninh Biên báo về tỉnh xin quân tiếp ứng. Bố chính Trần Ngọc Lâm và án sát Hồ Sĩ Lâm liền phi sức cho Lĩnh Binh Trần Hữu Yến đem số biền binh đã phái đi trước, do châu Đại Man tìm đường đến họp với Vệ úy Tô Huệ Vân ở Hữu vệ Tuyển phong dinh Thần sách và Phó quản cơ Nguyễn Văn Thọ ở cơ Tuyên Quang, do tỉnh phái đi, cùng nhau hợp sức hội tiễu. Lại tư khẩn cấp cho Tổng đốc Lê Văn Dực liệu tính làm sớ tâu lên.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Bọn giặc ấy đã từng thất bại tan tành, còn dám manh tâm sinh sự, đó là chúng tự đi đến chỗ chết. Vậy, nên truyền dụ cho Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ phải tức tốc tiến quân. Trước hãy tiễu trừ lần lượt cho hết lũ giặc mới lan xuống Vị Xuyên, rồi lại kéo thẳng tới Vân Trung, Ngọc Mạo, hội với hai đạo quân Cao Bằng, Thái Nguyên, chém hoặc bắt lũ phạm nghịch là Nông Văn Vân và tên Huyền, tên Cận để trị tội, không được để chúng thoát khỏi. Nếu tự mình để chậm trễ, thì gương trước không xa”.


    Đúc tiền ở cục Bảo hóa.


    Sắc sai bộ Hộ tư lấy thợ đúc ở cục đúc tiền Hà Nội, cho lệ thuộc làm việc ở công sở và hậu cấp cho tiền và gạo. (Người đầu lò mỗi tháng 6 quan, người phó lò mỗi tháng 5 quan, người phụ lò mỗi tháng 4 quan và mỗi người mỗi tháng được 1 phương gạo). Lại cho các thợ học tập đúc tiền.


    Chuẩn định : Từ nay, phàm có Chỉ thưởng cấp quần áo cho ai, thì trong phiếu chỉ lược nói thưởng cấp thôi, không cần phải chỉ định tên hiệu. Điều này được ghi làm lệ.


    Khơi dòng sông ở Hưng Yên và san bỏ đê điều ở hạ lưu.


    Trước đây, đê Hưng Yên vỡ, vì nhân dân muốn đình chỉ không đắp lại, nên Tổng đốc Đặng Văn Thiêm và Tuần phủ Trịnh Quang Khanh đã tuân theo lời dụ, hội đồng đến khám tận nơi, trù tính việc khơi đào, mở lối thông thủy rồi làm sớ tâu nói : “Chỗ đê Sài Thị vỡ, hiện đã thành đầm sâu (chu vi hơn 3 mẫu, sâu 29 thước), thông vào cả ngòi lạch trong đồng điền, lại tràn ruộng dân đến một con ngòi nhỏ, rồi chảy qua các huyện Đông An, Kim Động, Tiên Lữ, Thiên Tri, Phù Dung, đến cửa sông Biện Tân, rồi đổ vào sông Thanh Miện thuộc Hải Dương. Nay nghĩ cứ nhân theo hình thế, chỗ nào úng tắc thì khơi sâu cho thoát, chỗ nào cần mở qua ruộng dân cũng phải hợp sức khơi đào, cần sao mở rộng được 3 trượng, sâu được 4 thước. Lại nữa, con đê hạ lưu huyện Phù Dung, từ Yên Cầu đến Biện Tân hơn 1130 trượng, đều không còn thành đê nữa. Nay cũng nên liệu san bỏ bớt đi, để đến mùa thu, khi nước mới lên, thì thuận lối theo khe ngòi ; khi nước dẫy to đột ngột, thì có thể tràn qua đê bị bạt ấy mà đổ thẳng ra sông. Bọn thần đã sức các phủ huyện sở tại điều bát dân phu và đã tư cho tỉnh Hải Dương cứ theo phần sông của từng hạt, khởi công khai đào”. Vua chuẩn y.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Trước đây, đã chuẩn y lời bàn của Bộ về các phủ thành và huyện đều đặt súng hồng y quá sơn để việc phòng bị được nghiêm cẩn. Nay nghĩ nếu đã đặt súng thì cần phải có người phòng ngự và điều khiển súng mới hữu dụng. Vậy dụ sai các tổng đốc, tuần phủ, bố chính, án sát các tỉnh Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương, Sơn Tây và Bắc Ninh phải xét các thành của phủ, huyện trong tỉnh hạt mình, thành nào xung yếu nhất cần đặt súng trước thì liệu phái biền binh : mỗi phủ độ 150 hoặc 100 người, mỗi huyện độ 100 hoặc 50 người để phòng ngự. Lại sức cho các viên phủ huyện, gọi lấy những dân lân cận, phủ độ 60, 70 tên, huyện độ 40, 50 tên, đặt làm hương dõng, được miễn tạp dịch, để lúc lâm sự, có người sai phái. Lại mộ những người ngoại tịch từ Quảng Ninh trở về phía nam, am hiểu về súng lớn, cho làm pháo thủ. Nếu mộ không đủ thì báo ngay về Bộ để phái lính dinh Thần cơ, phủ 3 người, huyện 2 người, đến nơi hướng dẫn cho các biền binh, phân phòng độ nửa năm, hoặc một năm. Khi đã hơi thạo về súng lớn rồi, bấy giờ sẽ rút lính Thần cơ trở về hàng ngũ ở Kinh. Việc này phải nên tận tâm làm cho thỏa đáng, rồi tâu rõ để lần lượt thi hành, khiến cho khi chiến, khi thủ, có sẵn sàng ứng dụng, để làm kế lâu dài về sau”.


    Sai các viên tử là bọn Lê Trương, Lê Thướng (con Chưởng Hậu quân Lê Chất) 7 người, theo đi quân thứ Tạ Quang Cự và Lê Văn Đức để sai phái. Nếu xét ra thực có tài lược, võ nghệ, thì chuẩn cho cứ thực tâu lên để liệu bổ dùng.


    Vua dụ bộ Hộ rằng : “Năm ngoái ở Nam Kỳ có việc điều hương dõng ở các tỉnh từ Bình Định trở vào Nam theo đi đánh dẹp, đã có Chỉ miễn cho thuế thân năm ấy. Vẫn nghĩ bọn giặc tiểu yêu ấy có thể định ngày bắt hết, thì thả ngay hương dõng cho về yên nghiệp làm ăn, không ngờ lại vì biên cương có động nên chưa xong việc. Đành rằng trong khi chinh chiến, bất đắc dĩ mới phải giữ lại, nhưng họ lìa xa quê quán, tòng chinh gian khổ lâu ngày, kể rất đáng thương ! Vậy lại gia ơn cho họ được miễn số thuế thân năm nay”. Rồi chuẩn cho các Tướng quân và Tham tán, ở quân thứ Gia Định và An Giang nên hiểu thị tận trước mặt cho họ : “Triều đình tưởng nhớ đến người tòng chinh, chỉ có hơn, chứ không thôi. Nay đã thành công được tám, chín phần mười, càng phải bội phần cố gắng, vì nước không quản nhọc nhằn, khi bình định xong, sẽ thả cho về quê quán làm ăn, và lại được rộng ban ơn huệ. Nếu trốn tránh, thì không những quân pháp không thể tha thứ, mà cái công đắp núi chỉ còn thiếu một sọt đất cũng là một sự đáng tiếc, để cho họ được yên tâm ở nơi hàng ngũ mà đánh giặc cho chóng thành công”.


    Lại cho rằng binh dõng các tỉnh đào ngũ, nếu chiếu lệ, bắt địa phương phải thế người khác thay vào, cũng là một sự phiền phức. Vậy truyền dụ cho các tổng đốc, tuần phủ, bố chính, án sát : Nếu có bắt được kẻ đào ngũ hay tự họ ra thú, thì đều nên gia ân khoan thứ, đưa đến quân thứ để theo vệ đội cũ, cố sức làm việc chuộc tội.


    Bọn giặc ở Tuyên Quang hơn 3.000 tên vây đánh đồn Ninh Biên. Quyền Lãnh binh Nguyễn Văn Quyền tự liệu sức khó chống nổi, bèn trước sai thổ Tri huyện, hàm thổ Tri phủ ở Hàm Yên là Nguyễn Văn Biểu, do đường thủy về tỉnh, rồi mình tự đem binh dõng tìm đường bộ, rút lui để chờ đại binh. Bọn Bố chính Trần Ngọc Lâm và án sát Hồ Sĩ Lâm liền phi sức cho mấy quan võ phái đi lớp trước là Lãnh binh Trần Hữu Yến và Vệ úy Tô Huệ Vân cùng tiến đi tiễu trừ. Lại phi tư cho Tổng đốc Lê Văn Đức khẩn cấp đốc thúc biền binh gấp đường đến mau. Rồi làm sớ tâu lên.


    Vua bảo bộ Binh rằng : “Cứ tờ tâu nói Nguyễn Văn Quyền do đường bộ rút lui, chưa được rõ ràng ; nhưng một đạo cô quân, tất khó làm trò gì được ! Vậy truyền dụ cho bọn Tổng đốc Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ lập tức thống lĩnh đạo quân đến tiếp viện, tiễu trừ. Chuyến đi này cần phải trù tính mưu lược, vang dậy oai quân. Đi tới đâu cũng phải tuân theo dụ trước, đem uy đức triều đình hiểu dụ cho mọi người được rõ. Phàm những kẻ trót đã lầm lạc theo giặc, nay biết quay đầu hướng thuận, đều nên rộng cho chúng được đổi mới. Nếu kẻ nào tình nguyện đi tòng chinh, liệu cho tưởng lục. Kẻ nào còn ngang ngạnh không sớm quay đầu quy thuận thì tất phải một phen tiễu trừ kịch liệt. Những đứa đầu mục của giặc, cần phải chặt đầu, mổ ruột, chia ra treo lên cây cối trong rừng. Những đứa đồng lõa còn dám chống lại, thì cũng phải bêu đầu, khiến những kẻ làm bậy, trông thấy khiếp vía, phải thuyết phục lâu dài. Nếu bắt hay chém được lũ đầu đảng là Nông Văn Vân và tên Huyền, tên Cận mà chúng đã bị giết chết rồi, thì cắt lấy đầu đóng hòm đưa về nộp ở cửa cung khuyết ; nếu bắt sống được thì phải nhốt vào cũi sắt, cho giải ngay về Kinh, để dùng hết phép mà trừng trị.


    “Vả, nay các ngươi chỉnh đốn quân ngũ, lại đến nơi đó, dẹp giặc, yên dân ở cả một chuyến này. Vậy, cần khuyến khích quân sĩ hăng hái tinh thần, mạnh mẽ tiến lên, cốt sao giết hết những kẻ đầu sỏ của giặc vỗ yên biên cảnh, thì không những chuộc được lỗi trước, mà còn được ghi thưởng công sau nữa”.


    Cấp cho Nam Định – Sơn Tây, mỗi tỉnh 2 thớt voi trận và Hải Dương, Bắc Ninh, mỗi tỉnh 3 thớt, để sung bổ cho đủ ngạch voi.


    Tổng đốc đạo Tuyên Quang Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ, mang hơn 4000 binh dõng xuất phát từ tỉnh thành Sơn Tây, làm sớ tâu rằng : “Vừa rồi, tiếp được tờ phi tư của Tuyên Quang báo đồn Ninh Biên có giặc, bọn thần đã phái ngay biền binh đến cứu sống trước. Lại ở huyện Đan Phượng và Phù Ninh cũng báo có giặc ẩn hiện. Bọn thần cũng đã phái quân đến đóng giữ. Nhưng sợ khi đại binh kéo đi rồi, ở Sơn Tây chỉ còn có hơn 100 lính, lỡ lúc cần cấp, thì không đủ quân để điều khiển”.


    Vua phê rằng : “Các ngươi cứ yên tâm tiến quân, lập công lớn để chuộc lỗi trước. Còn tỉnh Sơn Tây, ta đã tiếp phái quân đi rồi”. Lại bảo bộ Binh rằng : “Cứ theo tin báo thì ở vùng Sơn Tây có một vài toán giặc, thường nhân sơ hở, lén lút ẩn hiện ở hai hạt Đan Phượng, Phù Ninh, mà Tổng đốc Lê Văn Đức thì hiện đi công cán vắng. Vậy, phải truyền dụ cho Tổng đốc Hà - Ninh là Đoàn Văn Trường, bất tất phân biệt địa giới, hễ có giặc ló ra thì bất luận ở hạt mình hay hạt Sơn Tây, cũng được phép phái Phó lãnh binh Vũ Đình Quang đi hội tiễu”. Lại truyền dụ cho Vũ Đình Quang : “Trước kia, đánh thắng giặc ở mạn rừng Chương Đức, đã có Chỉ khen thưởng ưu hậu ; từ nay càng phải hăng hái, cố gắng, để được thành công trọn vẹn. Trong đám quan quân, ai là người hơi xuất sắc, thì chuẩn cho trình rõ lên quan tỉnh, để cứ thực tâu lên, đợi Chỉ cất nhắc”.


    Bố chính Nguyễn Đình Tân và án sát Vũ Đĩnh, tỉnh Nghệ An tâu nói : “Cứ theo Đề đốc Lê Thuận Tĩnh báo tin dò thám thì có độ 5000 quân giặc Xiêm đóng ở hai phủ Trấn Tĩnh, Lạc Biên, tất cả hơn 20 nơi, mà số quân do Tĩnh quản lĩnh chỉ có hơn 1.200, xin phái thêm cho đủ 2000 quân mới mong thắng được giặc ; vì thế còn phải đóng quân để đợi”.


    Vua phê rằng : “Lê Thuận Tĩnh vốn là người thân tín, nay sai phái một việc mà còn nhút nhát như vậy, huống chi người khác ? Ta thực xấu hổ vì hắn !”. Rồi xuống dụ rằng : “Người Xiêm đem toàn quân sang lấn, bị quan quân ta nhiều lần đánh bại, đủ biết chúng chẳng có tài năng gì ! Bọn đóng ở đấy chẳng qua tập hợp người Man, phô trương thanh thế hão thôi ! Chỉ Nguyễn Đức Long hèn kém vô tài, nên bọn chúng mới quen thói hung hăng ! Trước kia, Lê Văn Thụy chỉ có 1000 binh dõng còn phá được hơn 4000, 5000 quân Xiêm, huống chi nay số quân Lê Thuận Tĩnh đem đi đều là những quân tinh nhuệ ! Thế mà động có việc là xin thêm quân, tại sao vậy ? Vậy truyền Chỉ nghiêm quở. Nay đã sai bọn Lê Văn Thụy đem số quân thắng trận tiến đến hiệp lực dẹp giặc. Lê Thuận Tĩnh, ngươi phải cố tiến lên giết giặc, đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi, cho sớm được thành công. Nếu còn chậm trễ quanh co không chịu cố gắng, thì cái gương Đức Long chẳng xa đâu !”.


    Binh thuyền của bọn Tham tán Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân và Tán tương Trương Phúc Đĩnh đạo Nam Vang, do Biển Hồ tiến đến bến Bông Long, để lại đó 1000 biền binh, ủy cho Phó vệ úy dinh Vũ lâm là Tôn Thất Tường và Vệ úy chư quân là Thái Công Triều, đóng lại ở đấy điểu khiển việc nã bắt giặc ở Bông Xui. Rồi đem hơn 2000 biền binh theo đường bộ, tiến đến phủ Ca Gò. Quân tuần tiễu phía trước bắt được một tù binh Xiêm, tra hỏi biết rằng tướng Xiêm là Phi Nhã Chất Tri, sau khi bị thua ở Châu Đốc lui về Phủ Lật, có chừng 3000 quân và 60 thớt voi, chia làm 3 đồn ở hai bên bờ sông Tiểu Đà đóng giữ. Bọn Giảng liền đem việc này tâu lên. Rồi lại tư cho bộ Binh nói : “Phủ Lật giáp với Bắc Tầm Bôn bên Xiêm, Bông Xui giáp với Lò Gò Vật nước ấy. Nay nghĩ nên chọn đất ở hai phủ ấy mà đặt đồn canh giữ, thì đủ bảo vệ cho toàn hạt Chân Lạp”.


    Bộ Binh đem việc ấy tâu bày luôn thể. Vua dụ : “Giặc Xiêm đã từng thua đau, chạy trốn, còn dám đặt doanh trại trong địa giới Chân Lạp để chống cự lại, chẳng qua ý muốn bề ngoài làm ra vẻ mạnh để tự bảo vệ đó thôi. Nhưng cái tinh thần “nghe gió thổi hạc kêu cũng sợ”((1) Quân Bồ Kiên đánh nhau với Tạ Huyền nhà Tấn, bị thua bỏ giáp mà chạy. Nghe thấy tiếng gió thổi, hạc kêu cũng tưởng là quân nhà Tấn.1), thế tất chẳng thể đứng vững được nào. Nay chính là lúc nên thừa thắng đuổi đánh cho khỏi lỡ cơ hội. Vả, trước đây đã xuống dụ phải dựng một đồn lớn ở Bắc Tầm Bôn nước Chân Lạp và đã chuẩn y lời nghị của đình thần là cho đặt một tấn sở canh phòng ở chỗ cuối địa giới Ba Nộn, nay lại tâu nói hai phủ Phủ Lật, Bông Xui tiếp giáp đất Xiêm, nên đặt thủ sở ở hai nơi ấy thì đủ bảo vệ toàn hạt Chân Lạp. Vậy chuẩn cho : Khi tiếp được dụ này, nếu giặc đã trốn ra khỏi bờ cõi thì đem quân về ngay ; nếu chúng còn ở trong địa giới Phủ Lật, thì nên tùy theo tình hình, châm chước mà làm. Số binh dõng đi trận ấy nếu đủ dùng để đánh dẹp thì thôi ; nếu xét cần phải tập hợp binh lực cho hùng hậu thì điều một nửa biền binh đóng ở bến Bông Long và lấy thêm quan quân Phiên nữa, để hợp lực tiễu trừ, đuổi hết quân giặc ra khỏi bờ cõi. Rồi, ở hai phủ Phủ Lật, Bông Xui, lựa chọn địa thế, dựng đồn lớn, lưu lại mỗi nơi 300 quan quân Phiên để canh giữ”.


    Ngày Nhâm Tuất, tiết Thanh minh. Vua thân đến bái yết lăng Thiên Thụ.


    Trước nhật kỳ, vua đi đường thủy, đến sông Lợi Nông, thăm lúa, nhân lên núi săn bắn. Bầy tôi không quản nắng đi theo vua, không ai chậm lại chút nào. Vua thưởng ngân tiền Phi long cho họ, có từng bậc khác nhau.


    Vua nhân bảo thự Lại bộ Thượng thư Nguyễn Kim Bảng và Tả phó đô ngự sử Phan Bá Đạt rằng : “Đó tuy là việc nhỏ, nhưng cũng đủ rõ tấm lòng của kẻ tôi con khi gặp việc biết cố gắng, nên đặc cách ban thưởng để yên ủi đó thôi ! Nhưng, các ngươi là địa vị bậc đại thần, cần phải hết lòng hết sức, tỏ bày mưu lược hay để giúp ích cho chính sự, há chỉ chuyên trách vào việc theo hầu tầm thường mà thôi ư ?”.


    Chuẩn định : Từ nay, phàm các cử nhân, giám sinh được đi hậu bổ thì từ Khánh Hòa trở vào Nam và từ Ninh Bình trở ra Bắc, đều cho đi ngựa trạm, vì là việc công.


    Trong tập tấu thỉnh an của án sát Khánh Hòa là Lê Hựu có nói : “Số tù phạm phát phối đi đồn Bình Nguyên, có đến 48 tên. Như thế hơi nhiều, nay để cả ở một nơi, thực khó cho việc trông coi”.


    Vua dụ rằng : “Chỉ những tên phạm nào can trọng tội, thì để lại sung phối ; còn thì chia về các trạm nơi nguyên hạt để quản thúc”.


    Quân Xiêm lại xâm lấn châu Ba Lan thuộc Cam Lộ. Thự Tuần phủ Quảng Trị là Nguyễn Tú liền phái ủy Lãnh binh Nguyễn Cửu Đức hiệp cùng Phó quản cơ Nguyễn Trong, Phan Văn Túc, Đặng Văn Bôi và Nguyễn Văn Vân mang 300 biền binh và 2 voi trận tức tốc đi đánh dẹp.


    Việc lên đến vua. Vua bảo bộ Binh rằng : “Trước đây, cứ như lũ Lê Văn Thụy, Hồ Hữu Thẩm và Phạm Phi đã tâu báo thì quân Xiêm man nhiều lần bị quan quân đánh bại, đã theo bờ phía nam sông Khung trốn chạy, nên đã có Chỉ sai dời quân về Nghệ An, hiệp theo Lê Thuận Tĩnh đi nã giặc. Nay bọn giặc kia lại đến Ba Lan quấy nhiễu, như vậy thì công việc của lũ Lê Văn Thụy vẫn chưa xong. Vậy dụ sai bọn họ lập tức rút quân về Quảng Trị, tìm đường thẳng tới Ba Lan, tiễu trừ thực mạnh, để giặc khiếp sợ lâu dài, cho xong công việc. Nếu để giặc còn dám chợt đi, lại chợt lại, thì họ sẽ có lỗi nặng. Những quan phạm và tù phạm ở Cam Lộ, Ai Lao, hiện đương bị giam, cho phép tháo xiềng xích, cấp khí giới, lương thực cho chúng, giao ngay Nguyễn Cửu Đức đem đi tòng quân để chúng được gắng lực làm việc chuộc tội.


    Vua lại ra lệnh cho Thị lang quyền tạm công việc bộ Binh là Dương Văn Phong, Hộ lý ấn quan phòng Tuần phủ Quảng Trị. Khi đến tỉnh thì thự Tuần phủ Nguyễn Túc phải lập tức đến quân thứ Ba Lan, đốc sức những binh và voi đã phái đến từ trước, liệu cơ đánh giữ, chờ khi quân bọn Lê Văn Thụy đến, thì hợp lực vây đánh. Lại phái cho 10 thớt voi để theo đi việc quân.


    Đề đốc đạo Trấn Tĩnh, tỉnh Nghệ An là Lê Thuận Tĩnh, đánh nhau với giặc Xiêm ở động Giang Màn, bị thua.


    Khi Tĩnh mới tới Giang Màn, được tin giặc ở phía trước khá đông, bèn đóng quân lại, lập 5 đồn đóng giữ. Bỗng quân giặc đến đánh đồn phía trước. Viên quyền Phó vệ úy Trang võ là Phan Văn Sỹ chết tại trận Giặc do bốn mặt kéo đến, quân ta nhiều người bị thương, chết. Tĩnh vừa đánh vừa lui đến Ngã ba sách Trú Cẩm, dựa chỗ hiểm để phòng ngự rồi phi tư về Nghệ An, nhờ tâu xin Kinh đi phái cho 3000 quân và 10 thớt voi trận đến gấp để hội tiễu. Bố chính Nguyễn Đình Tân và án sát Vũ Đĩnh, tức thì lựa phái thự Phó vệ úy vệ Định võ là Hoàng Văn Quý mang 100 quân đến tấn sở Quy Hợp, đóng giữ quân lương làm thanh thế cứu viện ở xa. Rồi bọn Tân đem tình hình bại trận tấu lên.


    Vua phê rằng : “Thực đáng giận vô cùng ! Không ngờ Lê Thuận Tĩnh lại bất tài như vậy, rất phụ lòng ta ủy thác !”. Rồi xuống dụ rằng : “Người Xiêm quấy rối ở Trấn Tĩnh, chẳng qua tập họp những quân Man, Lạo, việc tiễu trừ không phải là khó. Thế mà Lê Thuận Tĩnh chẳng có một mưu kế gì, đã chẳng lập được công lại còn làm lỡ việc ! Đáng lý phải chiếu quân pháp, trừng trị nặng, nhưng nghĩ việc chọn dùng người đương thiếu, nên hãy cách lưu, để chờ xem sự cố gắng sau này. Vậy Tĩnh phải làm thế nào, kiểm điểm lại quân đội, chọn chỗ hiểm yếu, đóng quân chặn giữ, chờ khi quan quân kéo đến đông đủ, sẽ hợp sức hội tiễu, bắt giết cho sạch quân Xiêm. Thua keo này, bày keo khác, ngõ hầu chuộc được đôi phần tội trước. Nếu vẫn cứ như cũ, không lập được công trạng gì, thì tất sẽ bị xử theo quân pháp, không tha. Còn Phan Văn Sỹ đương trường liều mạng, chuẩn cho thực thụ ngay, và chiếu theo phẩm trật, cấp tiền tử tuất, lại thưởng 20 lạng bạc. Những binh sĩ chết trận mỗi người được thưởng 2 lạng bạc, bị thương mỗi người 2 quan tiền”.


    Dùng Phó vệ úy vệ Cẩm y là Lê Văn Phú làm Vệ úy Tiền vệ, dinh Hổ uy, quản lãnh vệ binh và các đội Giáo dưỡng gấp đến Nghệ An, đóng giữ. Lại điều vệ Uy dũng đóng ở Ninh Bình vệ Thanh Hoa, và Thanh Hoa lại phái ngay vệ Nhất, dinh Thần sách đến Nghệ An, theo quân thứ Trấn Tĩnh, dẹp giặc. Lại cho chuyển vận 5 vạn viên đạn súng điểu sang ở kho trong Kinh đi Nghệ An.


    Bố chính Nguyễn Đình Tân và án sát Vũ Đĩnh tỉnh Nghệ An tâu nói : “Có tên lính ở vệ Nhất thuộc Hữu bảo là Thái Văn Tường từ Trấn Ninh về nói rằng : Trước đây, Trấn Ninh thua trận, y bị giặc bắt dẫn đến một nơi trại quân, thấy đều là lính man cư trú ; đều quấn đầu bằng khăn trắng. Ngồi ở giữa là một chủ tướng, hói tóc, trên trán để một chòm tóc tròn, mình khoác vải hoa mán, che lọng vàng, các tì tướng đểu phủ phục ở phía trước chỗ ngồi. Một chốc, thấy tên Kiệu Huống cũng gọt đầu như kiểu tướng giặc, đến phục ở trước sân. Sau đó, chúng đem y cùng quan quân bị bắt hơn 30 người giải về nước Xiêm. Dọc đường, y nhân ban đêm, trốn thoát, trở về nơi đóng quân cũ ở Trấn Ninh, vắng lặng không có một người, chỉ thấy thây chết ngổn ngang và nhà cửa dân cư bị đốt cháy gần hết”.


    “Vả lại, nhiều lần biền binh trở về tỉnh, đã đến hơn 120 người. Người thì nói việc khởi biến là người Trấn Ninh, kẻ khác lại nói cũng có cả người Nam Chưởng. Nay cứ như tên Thái Văn Tường đã nói, thì rõ ràng đích xác là các tên nghịch Huống và nghịch Khuyết ngầm đưa quân Xiêm đến giết hại quan quân”.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Nay Trấn Ninh đã thành đất không. Lũ Kiệu Huống
    lại bị quân Xiêm bắt đi, thực là lũ chúng tự chuốc lấy vạ diệt vong, mua lấy cái đau đớn. Bây giờ quân ta kéo đến chắc cũng dễ dàng làm việc. Duy có một đường ở Trấn Tĩnh, giặc Xiêm còn hung hăng. Đấy là chỗ cần kíp hơn, ta cần phải tiễu trừ trước.


    “Vậy truyền dụ cho bọn Kinh lược Nguyễn Văn Xuân, Phạm Văn Điển, khi tiến quân đến Trấn Ninh, nếu giặc đã tan vỡ, trốn tránh rồi thì cho rút quân về ngay ; nếu còn một vài toán chống cự lại, thì phải lập tức đánh giết thực mạnh cho xứng đáng tội lỗi của chúng. Khi xong việc, cũng phải tức tốc đem quân về ngay, không nên đóng lại. Còn công việc chiêu an, phủ dụ và xếp đặt ở Trấn Ninh sẽ do quan tỉnh phái riêng những viên chức thích đáng đến làm cũng đủ nên việc. Bọn Nguyễn Văn Xuân thì phải mang số biền binh vẫn quản lĩnh từ trước, tìm đường chuyển về Trấn Tĩnh, thống lĩnh luôn cả số biền binh của bọn Lê Thuận Tĩnh, phân phái đi đánh dẹp, để việc quân mau được thành công. Nếu Nguyễn Văn Xuân cần tạm ở lại Trấn Ninh, kinh lý vài ngày, thì cũng phải vát lấy 600, 700 quân, giao cho Phạm Văn Điển về trước, thẳng tới ngay chỗ Lê Thuận Tĩnh đóng quân ở Nga ba (thuộc sách Trú Cẩm) để hội quân đi tiễu cho khỏi chậm trễ lỡ việc”.


    Bố chính Trần Ngọc Lâm và án sát Hồ Sĩ Lâm tỉnh Tuyên Quang dâng tập thỉnh an. Ngọc Lâm có nói ở trong tập tấu rằng : Dân châu Bảo Lạc bị giặc Vân sai khiến. Trước đây đã có lời dụ rõ ràng cho chúng đầu thú khỏi tội, thế mà chúng không biết hối cải, lại còn dám tập họp nhau, bách bức quấy nhiễu đồn Ninh Biên. Bướng bỉnh mê muội như thế, tưởng giết sạch đi, cũng không phải là thảm ! Vậy xin sắc sai quan quân bắt giết thực mạnh để trừ tiệt hết mầm rễ những loài cỏ xấu.


    Sĩ Lâm thì nói trong tập tấu rằng : giặc Vân sau khi thua vỡ, sào huyệt đã bị quét sạch, chẳng qua nó thu nhặt dân châu Bảo Lạc, rồi phô trương thanh thế hão đó thôi. Nay đại binh chia đường cùng tiến, hai đạo Cao Bằng, Thái Nguyên định ngày hợp lực tấn công, tất nhiên chúng không còn đường sống, sớm muộn rồi cũng bị bắt. Khi bình định xong, phủ dụ yên ủi cho dân an cư lạc nghiệp. Ơn trạch, tín nghĩa đều được cảm thông phu phỉ, sẽ thấy chan hòa quang cảnh vui vẻ thái bình.


    Vua dụ đình thần rằng : “Bọn Trần Ngọc Lâm là những quan to một địa phương, chẳng biết tuyên dương đức hóa để cảm phục lòng người, đến việc khoan hồng cho những kẻ theo giặc ra thú, đã có dụ nói rõ ràng, lại không biết truyền đạt ý nghĩa ơn đức của triều đình cho người tin, đến nỗi tháng lụn năm qua, đảng giặc không chút thay đổi, thành thử lại phải qua một phen đánh dẹp vất vả, thực đã không xứng đáng với chức vụ ! Nay Hồ Sĩ Lâm lại còn tâu nói : Một khi quan quân kéo tới, giặc Man sẽ bị bắt hết và tức thì thấy cảnh thái bình. Lời nói đó thật có vẻ khinh thường và coi nhẹ ! Thử nghĩ : Trách nhiệm của y ở chỗ biên cương, thì chức vụ của y là những việc gì ? Đã không thi thố được một mưu kế gì để yên biên cảnh, động tý lại làm phiền triều đình, phải sai tướng ra quân, rồi lại bàn tán suông để cho tắc trách, lòng tự hỏi lòng có đáng thẹn không ?


    “Đến như Bố chính Trần Ngọc Lâm thì lại càng quá lắm : Trong tập, y có tâu : Dân châu Bảo Lạc, đem giết sạch đi, cũng không phải là thảm. Lời nói đó rất là điên cuồng bậy bạ ! Thổ ty và thổ dân kia, trước giờ đóng góp thuế khóa, vẫn là con đỏ của triều đình. Trước đây, có nhiều kẻ theo giặc, chẳng qua vì tên Vân dụ dỗ, có phải hết thảy là do bản tâm của chúng đâu ? Là kẻ chăn dân, nếu biết hiểu dụ để cảm hóa lòng dân thì chúng là những người chưa mất lương tâm, tất biết đem nhau quy thuận, cuối cùng vẫn là người lương dân. Lẽ nào lại khuyên triều đình làm việc săn chim, giẫy cỏ một mẻ để được khoái chí ! Như vậy thì chức vụ của mình để đâu? ở trước mặt ta, họ dám khinh suất tâu bày như vậy đáng lý phải trừng trị nặng, nhưng nay hãy tạm phạt nhẹ : Trần Ngọc Lâm giáng xuống hai cấp và Hồ Sĩ Lâm một cấp, không phải tra cứu và không được chống cãi. Lại truyền Chỉ nghiêm quở : Từ nay, phải hết lòng phủ dụ tìm mọi cách hiểu thị cho dân, và phải phân biệt kẻ tốt, người xấu ; kẻ nào cố tâm bướng bỉnh thì Nhà nước có hình pháp, cố nhiên không thể tha thứ được ; nhưng kẻ nào sớm biết tỉnh ngộ, hồi đầu ra thú thì theo ngay dụ trước, khoan hồng tha thứ, để chúng đều được biết rõ đức độ của triều đình, mau mau hồi tỉnh. Nếu các ngươi còn như trước, không chịu để tâm đến việc phủ
  • Chia sẻ trang này