0061.0009-@Suongdem-(done-WK)

27/1/16
0061.0009-@Suongdem-(done-WK)
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    dụ dân, để dân vẫn cứ nghi ngờ e sợ, thì quyết không tha tội được. Đạo dụ này, phải đem tuyên bố cho bọn thổ mục, thổ ty đều được biết”.


    Tổng thống Tạ Quang Cự và Tham tán Vũ Văn Từ đạo Cao Bằng tâu nói : “Những biền binh phái đi đánh giặc ở Trà Lĩnh, đã tiến thẳng đến Lục Thôn, phá tan sào huyệt giặc, chém và bắt được quân giặc rất nhiều. Dư đảng giặc trốn vào rừng sâu hoặc chạy sang địa phận nhà Thanh, không biết đường nào mà truy nã. Toán quân chi tả của giặc cũng có đứa bị lùng bắt được. Bọn thần đã sức cho Phó lãnh binh Văn Hữu Xuân vẫn cứ đóng giữ ở địa phận Lân Chỉ, Cao Bằng, cùng với quân đạo Thái Nguyên, cứu ứng lẫn cho nhau. Duy có chi giữa và chi hữu của giặc thì Vệ úy Nguyễn Tiến Lâm hiệp cùng với bọn Phó vệ úy Nguyễn Văn Tập, Phó quản cơ Nguyễn Văn Di và Lê Văn Sĩ, đánh nhau ở mỏ sắt xã Nghi Bố, từ giờ Ngọ đến giờ Thân, giặc phải rút đi. Trong biền binh có kẻ bị thương, bị chết”.


    Vua dụ rằng : “Cứ tờ tâu, các đạo quan quân đi tiễu, đều có bắt và giết được giặc cả, duy có bọn Nguyễn Tiến Lâm không bắt được một tên giặc nào, mà biền binh là có người bị thương, bị chết. Đó thực bởi không biết đốc thúc quân sĩ hăng hái tiến lên mà đến nỗi thế. Vậy Nguyễn Tiến Lâm, Nguyễn Văn Tập, Nguyễn Văn Di, mỗi người bị giáng một cấp. Còn Lê Văn Sĩ, trước vì làm hỏng việc, đã bị phạt giáng bốn cấp, cho đi đới tội lập công, nay lại hèn nhát như vậy, thì không tha thứ được. Vậy phải cách chức ngay, bắt làm lính sung làm tiền khu, nếu vẫn còn quen thói hèn nhát, chùn lại thì cho đem chém đầu để rao ở trước quân”.


    Tuần phủ Lạng – Bình là Lê Đạo Quảng, mang hơn 500 biền binh và thủ hạ đến Cao Bằng, hiệp cùng Tổng thống Cao Bằng là Tạ Quang Cự bàn bạc làm việc tiễu giặc. Đạo Quảng làm sớ tâu lên và xin nhận tội về việc khởi hành hơi chậm.


    Vua dụ : “Ngươi nên cố gắng, hẹn ngày thành công, tất sẽ có trọng thưởng. Ta chẳng chấp trách lỗi nhỏ”.


    Thự Tuần phủ Hưng Hóa là Ngô Huy Tuấn tâu nói : “Cứ lời thám báo của Bạc Cầm Kế là thổ Tri châu Thuận Châu, hiện có ước 4000 quân Xiêm kéo đến đồn châu Ninh Biên. Thần đã phái Suất đội Bùi Văn Hương đem 50 tên lính tỉnh đến đốc suất các thổ ty các châu xung quanh chặn giữ các ngả, và tư xin tỉnh Sơn Tây điều quân và voi đi hội tiễu”.


    Vua xuống dụ rằng : “Giặc Xiêm sau khi tan vỡ, há làm tai họa gì được ? Việc cấp báo ở Ninh Biên, chẳng qua vì nơi này giáp gần Nam Chưởng, nên bọn kia cũng mượn danh là giặc Xiêm để toan doạ nạt dân Man ở biên thùy đó thôi. Vậy bất tất phải cuống quýt điều động quân lính. Số biền binh phái đi, nếu đã đủ làm thanh thế cứu viện thì thôi, đừng lấy quân và voi ở Sơn Tây làm gì nữa. Lại nữa, phải mật sức cho thổ ty sở tại tập hợp thổ dân làm việc tự phòng thủ, chờ khi hai lộ quân Trấn Ninh, Trấn Tĩnh xong việc tiễu trừ giặc Xiêm, thì một dải địa phương này có thể không cần đến quân lính, cũng yên được”.


    Án sát Nguyễn Mưu, Phó lãnh binh Nguyễn Văn Ưng ở đạo Thái Nguyên đóng quân ở mỏ thiếc, thám thính được tin tướng giặc là Nông Văn Hoành (em Nông Văn Sỹ, ngụy xưng là Chánh quản lữ, lữ Hậu thắng), Bế Văn Huyền và Bế Văn Cận (đều ngụy xưng là Thống chế), hợp cùng Cai tổng Kim Mã là Lương Quang Phượng và các khoáng trưởng((1) Khoáng trưởng : người đứng đầu một hầm mỏ.1) người nhà Thanh là bọn Trương Xương Xí tập hợp bè đảng đến hơn 1000 người, đóng ở Long Lũng. Bọn Mưu lập tức theo đường núi Thỏ Lĩnh và sông Biền Giang tiến đến mỏ Vụ Nông đóng chặn rất nghiêm mật. Rồi sức cho tên nguyên Cai đội hiệu lực là Đinh Quang Tiến cho người đi chiêu dụ. Lũ Lương Quang Phượng đều đem súng điểu sang, gươm, giáo đến trước quân xin đầu thú và nói : Bọn phản nghịch là Hoành, Huyền và Cận nghe thấy quan quân tiến bức, chúng đã trốn vào Vân Trung. Bọn Mưu bèn bàn nhau, định ngày theo đường mỏ Tống Tinh, đi tắt đến Bằng Thành, Cổ Đạo (cách Long Lũng một ngày đường), chờ tin Cao Bằng trả lời, sẽ tìm đường đến thẳng Vân Trung hội tiễu. Rồi làm sớ tâu lên, và nói : Những phạm nhân trốn lủi ở Thái Nguyên là ngụy chánh phó đốc vận Hà Thiêm Ngân và Lương Hữu Đức, tất cả 6 người, đã ra thú và đã được cho đi tòng quân để gắng sức chuộc tội.


    Vua phê rằng : “Bọn ngươi làm việc rất trúng cơ nghi. Ta rất hài lòng. Đã gắng lại gắng thêm cho chóng thành công, tất có trọng thưởng. Đinh Quang Tiến làm việc chiêu dụ đắc lực, trước hãy truyền Chỉ ban khen, chờ khi lập được công trạng rõ rệt, sẽ có Chỉ sau”.


    Đổi tên đồn Ninh Biên tỉnh Tuyên Quang là đồn An Biên.


    Tổng đốc Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ, đạo Tuyên Quang, tiến đến tỉnh thành Tuyên Quang, được tin báo Lãnh binh Nguyễn Văn Quyền ở đồn An Biên, qua sông Lô, lui về Ba Phố (thuộc xã Bình Sa, châu Vị Xuyên), họp với Lãnh binh Trấn Hữu Án và Vệ úy Tô Huệ Vân, liền trước phái Phó quản cơ Nguyễn Đức Chung, Trần Văn Lục gấp đến tiếp ứng, rồi mang đại quân kế đến sau. Làm sớ tâu lên và nói : “Bọn giặc đã lấn quá Vị Xuyên. Phàm các đường lối qua lại đều bị ngăn chặn. Lương thực, quân nhu rất khó chuyển vận trước được. Đã bắt thổ dân các châu Hàm Yên, Thu Châu, chỉ được có 800 người cho đài tải đi theo quân, nhưng đường sá hiểm trở, mỗi lần chỉ tải được 400 phương, e tiếp tế không đủ, rất lấy làm lo ngại”.


    Vua dụ rằng : “Các ngươi vâng mệnh đi đánh kẻ có tội, quân thì ròng, tướng thì mạnh, mà giặc thì sau khi thua trận, tan tác, có gì là khó khăn ? Gần đây, cứ đạo Cao Bằng tấu báo, việc tiễu trừ luôn được thắng lợi, quân giặc đã gần tan. Đạo Thái Nguyên, quan quân đi đến đâu, các phu mỏ và thổ mục đều kéo nhau ra đón, đầu hàng và hiện đương tiến về Bằng Thành, Cổ Đạo để hẹn ngày hội tiễu. Như vậy thì sự cơ rất thuận lợi và có thể định ngày đi đến thành công. Dư đảng của giặc ở An Biên còn dám hung hăng, chẳng qua chỉ như châu chấu chống xe, tự chóng đi đến chỗ chết. Các ngươi nên mau mau tiến lên, sớm thành công lớn, để yên cõi bờ. Còn như binh lương là việc tối quan trọng. Ngày nay đại binh đã đến, uy phong lừng lẫy, dù đường thủy, đường bộ, quân giặc há có thể ngăn cản được ? Cần phải tìm cách chuyên chở để tiếp tế được chứ đừng mượn cớ xa xôi hiểm trở, mà làm lỡ công việc. Lãnh binh Nguyễn Văn Quyền chuẩn cho cách lưu, được đi tòng quân để gắng sức chuộc tội”.


    Tuần phủ Lê Quang Hy và án sát Nguyễn Bá Thản, tỉnh Ninh Bình, tâu nói : “Trước đây, vâng mệnh truyền hịch chiêu dụ những tên phạm còn trốn tránh. Hiện đã phái người đi khắp ba huyện An Hóa, Phụng Hóa, Lạc Thổ, dùng mọi cách hiểu dụ khuyên bảo, nhưng chưa thấy chúng quy thuận. Chỉ có Đinh Thế Đội, Đinh Thế Đức ở Thạch Bi đã ủy thác tên tòng phạm là Đinh Công ý, Quách Phúloc Hiển đến tỉnh đầu thú. Thiết nghĩ : Việc chiêu dụ những kẻ nhị tâm, không thể hạn trong mươi lăm ngày mà thu được công hiệu. Huống chi người Man mờ tối, bị che lấp, khó hiểu dụ, nếu bách quá thì nó như con hươu sợ giáo, chạy bừa, chẳng kịp chọn đường, thế tất phải lủi sang hạt khác, thì lại thêm một toán giặc nữa. Cho nên, nay có một vài đứa tòng phạm mới ra đầu thú thì dùng quyền biến thả cho về, để chúng coi đó làm một lối thoát, mới mong tiếp tục quy thuận được”.


    Vua dụ rằng : “Trước giờ, các ngươi thừa hành không nên công trạng gì, đáng lý phải trừng phạt. Nhưng nghĩ : Còn có một vài kẻ ra thú, chưa đến nỗi hoàn toàn không, cho nên còn có thể rộng thêm cho kỳ hạn, chờ xem hiệu quả sau này. Lũ Đinh Thế Đội mới ra thú, đều được khoan tha. Lại gia hạn cho thêm 3 tháng nữa, các ngươi phải cố gắng làm việc phủ dụ, khiến cho dân chúng được nảy nở, biết rõ đức hóa của triều đình mà hồi dần sửa đổi. Nếu quá hạn, không có công hiệu gì, thì cứ các ngươi mà hỏi tội”.


    Không bao lâu, bọn phạm nghịch trốn tránh ra đầu thú được hơn 30 tên. Trong cõi được yên đôi chút. Lê Nguyên Hy trước bị cách lưu, nay được đổi là giáng bốn cấp ; Nguyễn Bá Thản bị giáng hai cấp, nay được khai phục một cấp.


    Điệu bổ : Hữu thị lang bộ Lại là Đặng Chương làm Hữu thị lang bộ Binh ; Hữu tham tri bộ Lại là Trần Danh Bưu về bộ cung chức, vẫn kiêm công việc Thương trường ; Cấp sự trung Công khoa là Vương Hữu Quang làm Đại lý tự Thiếu khanh.


    Cho : Trần Văn Vân làm Vệ úy vệ Hậu nhị dinh Vũ lâm ; Ngô văn Trạch làm Phó vệ úy Tiền vệ Thần cơ ; Tôn Thất Đường làm Phó vệ úy Trung vệ Hộ lăng ; Tôn Thất Đắc làm Phó vệ úy Tiền vệ Hộ Lăng ; Phạm Văn Lợi làm Phó vệ úy Trung võ dinh Thần sách ; Nguyễn Trọng Tính làm Phó vệ úy Trung vệ Long võ, vẫn lĩnh chức thị vệ, kiêm quản các đội túc trực và ty Trấn phủ ; nguyên Phó vệ úy Tiền vệ dinh Hổ uy là Phạm Phúc Quảng vẫn hàm Phó vệ úy, hiệp lĩnh chức Thị vệ, chuyên cai quản các vệ ty, đội : Tài Hoa, Dực Bảo và Lý Thiện.


    Vua dụ Nội các rằng : “Từ năm ngoái đến nay ta lắm khi nghĩ đến các nha, công việc bận rộn, cho nên hễ có ai phạm sai lầm, phần nhiều đều xử khoan hồng. Gần đây, xét ra, chỉ những đường quan còn biết hổ thẹn mà cố gắng, còn những tá lãnh, lại thuộc thì vì hình pháp nhẹ, lại dễ phạm, dần dần sinh ra trễ nải. Nay không thể không có một phen chấn chỉnh lại để giữ nghiêm kỷ luật trong quan trường. Huống chi cái đạo văn võ lúc lỏng, cũng có lúc chặt. Nước nhà lập pháp, nếu chỉ chuyên dùng khoan hồng cả thì lâu ngày sinh trễ nải, sau này lưu tệ biết đâu cho cùng ! Vậy thông dụ cho các nha thuộc các bộ, viện ở Kinh : Phàm đã từng phạm một vài lần sai lầm, đã được răn bảo mà không biết sợ hãi hối cải, lại còn phạm nữa, thì lập tức chiểu theo pháp luật trừng phạt nặng thêm, quyết không tha thứ nữa. Lần này, ta đã đinh ninh dạy bảo, thì phải biết khuyên bảo nhau mãi mãi chăm lo công việc, chớ để vướng mình vào pháp luật mà mắc tội tình. Mọi người đều nên kính cẩn !”.


    Sai hai viên suất đội thủy quân mang binh thuyền đốc suất hộ tống đoàn thuyền chở lương miền Bắc, đi Nam Định, Hà Nội, hiệp cùng phái viên của các tỉnh ấy, chở các của công về Kinh dâng nộp. Từ nay, cứ theo lệ này mà thi hành (lệ trước, phái một viên quản vệ đốc vận).


    Định rõ lệ cấp lương đi đường của binh lính.


    Từ nay, những biền binh ở các tỉnh ngoài, khi đi thú hạt khác hoặc đi áp giải tù phạm, nếu đường đi từ bốn ngày trở lên, thì bất cứ số lính nhiều hay ít, những khi đi và về đều được cấp phát lương thực khẩu phần theo từng ngày đường.



    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN CXXI

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ




    Giáp Ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15 [1834], mùa xuân, tháng 3, duyệt đinh, tuyển lính ở các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Bình và 6 huyện Hà Nội (Kim Bảng, Duy Tiên, Thượng Phước, Phú Xuyên, Sơn Minh, Hoài An).


    Sai Hữu thị lang bộ Hộ là Vũ Đức Khuê, Vệ úy vệ Cẩm y là Bùi Công Huyên, Tổng đốc Bình – Phú là Vũ Xuân Cẩn, Án sát Quảng Ngãi là Nguyễn Đức Hội, Tả thị lang bộ Hình là Nguyễn Công Hoan, thự án sát Quảng Bình là Ngô Dưỡng Hạo, Hữu tham tri bộ Công là Hoàng Văn Diễn, Vệ úy dinh Vũ lâm kiêm lãnh đề đốc kinh thành là Hoàng Văn ẩn, Lang trung bộ Lễ là Vũ Xuân Diệu, chia nhau đi làm việc. Khi danh sách tổng số dâng lên, cũng có tỉnh nhiều người mới đăng bạ, trội hơn số đinh năm trước (Thừa Thiên : hơn 4600 người, Quảng Nam : hơn 7500 người, Quảng Ngãi : hơn 4100 người, Quảng Bình : hơn 2600 người, Hà Nội : hơn 3300 người).


    Vua dụ bộ Hộ rằng : “Nước nhà ta được hưởng thái bình lâu ngày, thấm nhuần giáo hóa, an nhàn đã nhiều năm, cho nên dân ta sinh nở ngày càng tăng, dần dần đến chỗ giàu có, đông đúc. Vả chăng có thân thì phải có thuế dung, thành lệ đã có sẵn rồi. Nhưng nghĩ bọn chúng đã đăng vào sổ tuyển lính, khi còn ở dân thì cung ứng diêu dịch, nộp thuế khóa ; khi làm lính thì theo đội ngũ làm việc binh ; đó là phận sự suốt đời, há chỉ ngày nay ? Vậy gia ân cho những dân tráng mới đăng bạ đều được miễn thuế thân năm nay”.


    Ở Kinh kỳ có mưa. Vua bảo thị thần rằng : “Hôm vừa rồi, bọn Kinh doãn Trần Tú Đĩnh thấy lâu không mưa, xin đảo vũ. Ta bảo : Trong 3 ngày nữa thế nào cũng mưa. Nay quả mưa thực. Đó cũng là phỏng đoán, may mà trúng thôi. Nếu bảo biết trước trời mà trời không làm trái lại, thì chỉ có bậc thánh nhân xưa mới được như vậy, ta đâu dám tự nhận điều đó. Ta chỉ mong : sau trời mà vâng theo thời tiết của trời thôi !”.


    Vua bảo Phan Bá Đạt rằng : “Bọn khoa đạo, hằng ngày chầu hầu bên ta, những khi lui, tới dường có vẻ khả quan, nhưng trong đó hiền hay không, chưa biết rõ được. Muốn thử thách bằng lời nói, thì kẻ có khẩu tài, thường nói quá sự thực ; kẻ thành thực chất phác, thường lại nói kém. Nếu căn cứ vào đó mà dùng hay bỏ thì chẳng lầm sao ? Ngươi nên xét xem ai là người đáng dùng thì cất nhắc lên”.


    Lại nói : “Ta từ nhỏ rất ghét người nói dối. Biết được ai nói dối, thì không hề tha thứ bao giờ. Hôm vừa rồi, xem thấy sử chép vua Thái Tổ nhà Minh có cho dựng một tấm bia ở trong cung, khắc mấy chữ “Nói càn bậy thì chém”. Lúc mới ta cũng cho là phải, nay nhân nghĩ : Phàm người nói dối, xét về tình và lý, cũng có nặng nhẹ khác nhau, há nên nhất thiết trị tội cả ? Ta ở trong cung, nghe ở bên cạnh có tiếng ho, hỏi, họ chối là không. Như vậy là họ sợ ta mà phải nói dối, thì có tội gì ! Xưa, vua Thuấn hay hỏi và hay xét đoán. Thực nên noi theo. Có điều là những bậc vua chúa, có người xét đoán sáng suốt, có người xét đoán hà khắc ; hay, dở do đấy lại có khác nhau”.


    Lê Văn Phẩm, đầu đảng giặc ở Nghệ An, đồng lõa với lũ phạm trốn là Hoàng Trọng Kiều ở Thanh Hoa và Nguyễn Trọng Liên, Phạm Văn Ninh ở Hà Tĩnh, gọi nhau tập hợp ở núi Xẻ((1) Hán văn chép là Cứ Sơn.1) (chỗ giáp giới hai tỉnh Thanh - Nghệ), ngụy xưng quan chức (đều ngụy xưng là đại tướng quân), quấy nhiễu cưỡng bóc dân địa phương. Tỉnh phái quyền sung Phó vệ úy vệ Phấn võ là Nguyễn Đình Phú hợp cùng với Phó vệ úy phòng thủ thành Diễn Châu là Nguyễn Công Cẩn, đem quân hội tiễu. Cẩn tiến trước, gặp phục binh của giặc ở Chi Khê (thuộc vùng Thượng Đạo, huyện Quỳnh Lưu) ; Phú ở sau, cứu ứng không kịp, nên bị giặc đánh thua. Biền binh có người bị thương vong. Quan tỉnh là bọn Nguyễn Đình Tân và Vũ Đĩnh liền phái thêm quyền Phó vệ úy vệ Diệu võ là Tăng Tháp đem quân và voi đi ngay để hiệp sức tiễu trừ.


    Việc tâu lên. Vua dụ rằng : “Chúng nó chẳng qua một đám giặc cỏ nhỏ mọn, số không được nhiều lắm. Thế mà bộ biền khinh tiến, gặp phải quân phục, đã chẳng giết được giặc mà biền binh lại đến nỗi thương vong ! Nay Nguyễn Đình Phú phải cách lưu, Nguyễn Công Cẩn bị giáng bốn cấp. Còn lính chết trận được cấp tiền tuất gấp đôi”.


    Trong tập thỉnh an của Tổng đốc Sơn – Hưng – Tuyên là Lê Văn Đức có nói : “Những tên thủ phạm thổ mán ở Ninh Bình, Hưng Hóa cho đến Tuyên Quang, Cao Bằng, chưa một tên nào bị xử án. Giặc cướp ở Sơn Tây, Bắc Ninh cũng còn nhiều đứa lọt lưới, lúc ẩn, lúc hiện không thường. Nếu nay các nơi đua nhau nổi lên, làm chia sẻ binh lực của ta, e có cái lo ngó chỗ này hỏng chỗ khác. Từng thấy mùa đông năm ngoái, có chiếu ra ơn cho các tên phạm trốn tránh ở vùng từ Hà Tĩnh trở ra Bắc, được phép ra thú, do địa phương tâu lên để châm chước khoan giảm. Đến nay đã gần bốn tháng mà ít thấy có kẻ ra thú. Chắc chúng còn sợ sau khi đã thú, chưa được tha hẳn để mà hối cải, cho nên chúng còn nghe ngóng. Vậy nghĩ : ngoài pháp luật, nên dùng quyền biến, may đỡ công việc. Nếu được đặc biệt xuống dụ ra ơn là chỉ trừ những tên đầu sỏ đại gian, đại ác như nghịch Vân, nghịch Cận, không thể xá tội, còn ngoài ra, bất luận những đầu đảng, hay đồng lõa, đều cho đầu thú, khoan thứ, và gia thêm kỳ hạn. Có một phen đại xá như vậy, ngõ hầu chúng biết rõ con đường sống mới dám ló đầu, ra mặt. Những tên đầu sỏ ra thú nhiều, thì những kẻ tòng đảng tự nhiên giải tán. Rồi nhân đó lại sai chúng gắng sức đi bắt những tên phạm khác. Tưởng đó cũng là một mánh khóe để dẹp giặc”.


    Vua phê : “Nói cũng có lý để thong thả bàn lại sẽ cho làm”. Rồi xuống dụ rằng : “Việc gia ơn cho những kẻ phạm trốn tránh được ra đầu thú, hiện đã có tờ chiếu rồi. Ngươi là quan to một địa phương, nếu biết thể hiện được lòng tin như quẻ “Trung phu” kinh Dịch đã nói thì dù đến loài lợn hay cá cũng cảm hóa được, huống chi là người ? Nay trải hàng tuần hàng tháng mà những kẻ trốn tránh vẫn chưa ra thú, nếu chẳng phải lỗi vì các ngươi không biết tuyên dương uy đức của triều đình để cho người ta tin tưởng, thì lỗi tại ai ?


    “Nay Lê Văn Đức hiện được phái đi dẹp giặc, vậy chuẩn cho những viên hộ lý ấn triện phải tìm mọi cách mà hiểu thị. Kẻ nào biết thật lòng sửa đổi thì kê thành danh sách để chờ chỉ cho khoan giảm, nếu còn cam lòng bướng ngạnh thì đã có hình pháp của Nhà nước, quyết không có lý gì do dự khoan thứ được. Như vậy để cho chúng đều biết mệnh lệnh của triều đình là rất đúng, ai nấy nên nghĩ lại, ăn năn hối lỗi sớm quay đầu trở lại”.


    Tổng đốc Ninh – Thái là Nguyễn Đình Phổ, trong tập thỉnh an có nói : “Từ khi đảng giặc Tuyên Quang quấy nhiễu, những kẻ bậy bạ cũng thừa cơ nổi dậy. Biền binh thuộc tỉnh chia đi tuần trong hạt, thế cũng khó chu ! Tuy rằng phủ có lính của phủ, huyện có lệ của huyện, nhưng cũng không được bao nhiêu. Một khi có giặc bất thần lén lút nổi lên, tất phải chờ báo tỉnh phái quân về nã bắt, thì giặc đã trốn xa mất rồi ; cho nên tuy muốn bắt giặc cướp để yên dân, nhưng thực khó mà làm được. Nay xin : Phàm những phủ huyện xung yếu đều nên đặt 100 lính do mộ dân ngoại tịch sung vào. Cấp cho khí giới lương tiền cho lệ thuộc vào phủ huyện sai phái, để khi gặp việc thình lình, dễ bề ứng phó. Những người được tuyển mộ ấy không cần dân xã cam kết. Nếu có tên nào trốn tránh, thì lại mộ người khác điền vào. Như vậy thì người cùng thiếu có sự giúp đỡ, kẻ du đãng có sự bó buộc, mà phủ huyện cũng không còn lấy cớ là không có quân mà trốn trách nhiệm được. Thiết tưởng như thế cũng là một cách bắt giặc để yên dân”.


    Vua phê : “Việc này ta cũng đã nghĩ tới, nhưng e rằng chưa thấy cái lợi mà đã thấy ngay cái bất tiện. Hãy để thong thả sẽ bàn xem”. Lại dụ rằng : “Quân lính quý ở thực dụng mà không chỉ cốt có nhiều. Nếu mộ bừa trong đám ngoại tịch, không cần dân xã cam kết, thì những đứa du côn, du đãng tham lương, tiền, tranh nhau ra ứng mộ. Lúc thường nhật có sai phái, không khỏi nhiễu dân, lúc biên giới hữu sự, tất lại trốn tránh nhiều. Như vậy, chẳng những tốn phí về việc nuôi lính, rút cục không dùng được việc mà tệ hại không xiết kể. Thực là có nhiều chỗ bất tiện.


    “Vậy nay chuẩn cho ngươi chỉ nên năng sức phủ huyện lưu tâm về việc tuần phòng. Hạt nào số binh ít, lúc lâm sự, có thể tạm mộ hương dõng cho đủ dùng ; khi xong việc, lại cho về. Như thế đã không có cái phiền phải mộ lính, mà vẫn có cái hiệu quả về việc dẹp yên giặc cướp, bất tất cứ phải phô trương con số không thiết thực ấy làm gì”.


    Trong tập thỉnh an của án sát Lạng Sơn là Trần Huy Phác có nói : “Dân trong hạt, trước đây, bị thổ phỉ quấy nhiễu, có nhiều người bị giặc cưỡng ép dụ dỗ theo chúng. Nay dư đảng giặc lẩn trốn vào rừng sâu, đứa thì bị bộ biền bắt sống, đứa thì bị thôn làng bắt giết. Những kẻ theo giặc cố nhiên theo pháp luật không thể tha thứ, nhưng nếu cho chúng được sửa lỗi, đổi mới thì cũng là cái đức hiếu sinh”.


    Vua dụ rằng : “Không trị tội những kẻ bị ép theo giặc, là lòng chí nhân của bậc vương giả. Trước đây, thấy trong hạt ngươi thổ phỉ lan tràn, nhiều người bị chúng ép theo, cho nên đã từng xuống dụ : những người bị giặc ép theo đều cho được đổi mới, không cần tầm nã, báo bắt. Vậy thì kẻ nào đã bị biền binh hay thôn xã bắt giải rồi, nếu xét thực quả là đồng lõa thì cứ theo dụ mà làm, có gì là không nên ? Tại sao lại còn phải có lời thỉnh cầu này, rất là câu nệ !”


    “Vậy nay cho phép xét những tên phạm hiện đương bị giam, trừ những tên chính yếu phạm và thứ yếu phạm, tội không thể tha, còn những tên bị ép theo giặc đều tha ngay hết”.


    Thự Tuần phủ Hưng Hóa là Ngô Huy Tuấn, trong tập thỉnh an, cũng có xin tha cho những phạm nhân đã theo giặc mà tự đầu thú. Vua ra lệnh cho chiểu dụ này mà nhất luật thi hành.


    Bố chính tỉnh Thanh Hoa là Nguyễn Đăng Giai có nói trong tập thỉnh an rằng : “Địa thế trong tỉnh có hai dải sông Lương, sông Mã. Các huyện, các châu thuộc phủ Thọ Xuân là Quan Da, Tàm Châu, Thọ Xuân, Lang Chánh thì ở thượng du sông Lương ; các huyện Cẩm Thủy, Quảng Địa thuộc phủ Thiệu Hóa thì ở thượng du sông Mã. Trước giờ phủ lỵ Thọ Xuân thì đặt ở Lôi Dương là miền trên phía nam sông Mã ; phủ lỵ Thiệu Hóa thì đặt ở Thụy Nguyên, là miền dưới phía bắc sông Lương. Mà suốt một dải sông Mã không có gì để khống chế phòng ngự. Huống chi phủ Thiệu Hóa thống trị bảy huyện : Đông Sơn, Thụy Nguyên, An Định, Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Quảng Địa và Cẩm Thủy. Nếu phủ lỵ đóng ở Thụy Nguyên, tiếp giáp với huyện hạt Đông Sơn, thì phía trên tới huyện Cẩm Thủy cách đến bốn, năm ngày đường. Đường sá không được trung độ, đã không tiện cho nhân dân đi lại khi có việc công, mà các huyện ở thượng du sông Mã, một khi có nguy cấp, thì việc cầm phòng lại không được nhanh chóng. Vậy xin đưa phủ lỵ Thiệu Hóa về An Định, chỗ giáp sông Mã, chọn đất xây phủ thành. Các viên quản phủ, tri phủ đều đóng ở đấy, kiêm lý cả huyện An Định. Rồi phái độ 200, 300 tên lính tỉnh về đóng, cho lệ thuộc vào phủ để tùy tòng đi bắt giặc. Khi yên ổn rồi thì thôi. Còn huyện Thụy Nguyên thì đặt riêng một tri huyện, vẫn cho đóng ở phủ lỵ cũ. Lại nữa, các châu và huyện thổ trước đều cho phủ kiêm lý vẫn chưa đặt chức đầu mục. Nay xin nên đặt mỗi huyện một huyện úy, mỗi châu một châu úy, lựa chọn những người thổ trước khỏe mạnh giỏi giang sung bổ để trông nom các việc kiện tụng, thuế khóa, tuần phòng trong châu, trong huyện và thuộc quyền điều khiển của các viên tri phủ, quản phủ kiêm lý ấy.


    “Về hai huyện Thạch Thành và Quảng Địa, nay xin hợp lại làm một, đặt tên là huyện Quảng Bình và lập một cái đồn huyện, lấy lính thổ thuộc huyện ấy đóng.


    “Lại nữa, trong tỉnh hạt, năm ngoái mất mùa, nhiều lần được miễn, hoãn thuế khóa, bán rẻ thóc và cho vay, cũng thư được sự cấp bách trước mắt. Nhưng nghĩ : Những nạn hạn, lụt, là lẽ thường của số trời. Nay đem cái số thóc có hạn mà hằng năm thi hành chính sách cứu đói, thì tài chính có thể đảm bảo thường đủ được không ? Vậy xin phỏng theo cái phép xã thương của Chu Tử đời Tống, châm chước mà làm. Nếu vụ chiêm lúa tốt thì ra lệnh cho các viên phủ, huyện triệu dân các xã thôn, tùy theo số ruộng nhiều ít, bất cứ ruộng công, ruộng tư, ngoài số thuế Nhà nước ra, cứ mỗi mẫu nộp 10 thưng((1) Mười thưng là một đấu.1) thóc, dựng kho để chứa, rồi chọn những người vật lực trong làng trông coi, cho vay lãi. Đến mùa đông, thu lại, cứ tính lãi ba phần mười. Rồi lại thu số thóc vụ mùa này mỗi mẫu 5 thưng, hợp với số thóc vụ chiêm, chứa vào kho, rồi lại cho vay như lệ cũ. Năm sau và những năm sau nữa cũng cứ thế. Đủ 5 năm rồi, các viên phủ, huyện tính số thóc chứa ở các thôn, xã, nếu có thể đủ cung cấp cho dân nghèo trong một năm đói kém thì thôi không cho vay lãi nữa. Nhưng hằng năm, cứ đến các tháng hai, ba, tám, chín là lúc giáp hạt, phát ra cho dân xã vay. Đến lúc trả vào kho thì cứ 10 thưng phải nộp 1 thưng thóc hao. Năm nào cũng làm như thế, thì dù có gặp năm mất mùa, về phần Nhà nước, đã đỡ được thu phí về việc điều hòa cứu tế ; mà về phần dân, cũng tránh được cái lo đói kém”.


    Vua bảo : “Việc xin xây phủ thành Thiệu Hóa ra chỗ khác và biệt lập huyện lỵ Thụy Nguyên, vì địa hạt phủ ấy xa rộng, nên châm chước và làm như thế, thực làm vững bền cho nơi phiên trấn. Vậy, chuẩn cho phái viên giám thành đến hội với Tuần phủ Nguyễn Khả Bằng, đi xem xét địa thế, vẽ thành bản đồ, làm tập tấu dâng lên để đợi Chỉ. Còn như việc đặt người thổ làm huyện úy, châu úy và việc hợp hai huyện Thạch Thành, Quảng Địa làm một và dùng lính thổ đóng, thì xét ra rằng những châu huyện này lâu nay vẫn do phủ kiêm lý, cũng đã yên ổn, thành nếp rồi, nếu nay lại đặt thêm viên chức, chỉ chăm vào việc thay đổi rối bời, há chẳng lại thêm phiền nhiễu ? Còn việc lập xã thương thì thời đại mỗi lúc một khác, phong tục mỗi nơi một khác, há nên cứng nhắc làm theo ? Huống chi ngoài khoản thuế chính cung, mỗi mẫu lại thu 10 thưng, chưa chắc dân đã vui lòng đóng góp. Hơn nữa, trong khi thu vào, phát ra, giữ sao được khỏi sinh tệ. Hai việc ấy đều không thể làm được”.


    Sau đó, chuẩn cho dời làm phủ thành Thiệu Hóa ở xã Phù Hưng (thuộc huyện An Định, địa thế bằng phẳng, các phía đông, tây, nam đều có làng mạc, phía bắc giáp sông Mã).


    Thự Tổng đốc Hải – Yên là Nguyễn Công Trứ có nói trong tập thỉnh an rằng : “Tỉnh lỵ Tuyên Quang tiếp giáp với huyện Hùng Quan thuộc phủ Đoan Hùng, tỉnh Sơn Tây. Từ tỉnh lỵ đến đồn An Biên hết 8 ngày đường ; từ đồn An Biên do đường An Định, Bắc Nhự đến Vân Trung, hết 5 ngày ; nếu do đường Đại Miện, Tiểu Miện đi Vân Trung thì hết 8 ngày. Tính suốt ra, từ tỉnh thành [Tuyên Quang] đến châu Bảo Lạc, đi được yên lành cũng đã hơn nửa tháng. Núi sông hiểm trở, đều thuộc đất của thổ ty, khi có việc xảy ra, chờ được tin báo phần nhiều quá chậm không kịp việc. Phương chi những việc quan trọng đều do tỉnh Sơn Tây điều khiển, sự đi lại và điều động phải hàng tuần hàng tháng mới xong. Công việc có khi bị trở ngại và lầm lỡ cũng vì hình thế cách trở xui nên thế. Vả lại, hai tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên tiếp giáp với nhau, nên hợp làm một đạo, dời tỉnh thành đến An Biên, thống trị cả Thái Nguyên, và đặt tổng đốc để yên lòng mong mỏi của dân chúng. Hạt này việc thuế khóa ít, chính sự đơn giản, cho tổng đốc kiêm luôn cả công việc bố chính.


    “Hơn nữa, An Biên là nơi trung độ nhất của Tuyên Quang, mặt trước có dòng sông ngăn chặn, ba mặt có núi đá ôm quanh, quãng giữa rộng rãi, chứa được vài vạn người, có thể lập tỉnh thành. Tòng Tạo ở bên hữu và Lạp Lĩnh ở bên tả đều có
  • Chia sẻ trang này