0061.0010 - @ nhani78 (Done Wk)

27/1/16
0061.0010 - @ nhani78 (Done Wk)
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    thể xây quan ải ; phía nam con sông có núi đất, xây pháo đài để việc phòng thủ được nghiêm. Như thế, tự thành một nơi hiểm trở có thể ở được. Ngoài ra, các nơi xung yếu như Đại Miện, Tiểu Miện, mỏ son Bách Đích và An Định, đều đắp đồn để ngăn chặn ; những chỗ bị nghẽn lấp, quanh co, chật hẹp thì cho khai đào, sửa phẳng để dễ đi lại. Như vậy thì mặt tây có thể chống giữ Bảo Lạc, Lục Yên, mặt đông có thể trấn áp Đại Man, Vị Xuyên, mặt nam có thể khống chế Hưng Hóa, mặt bắc có thể thông với Thái Nguyên ; thực được cái thế ở chỗ trọng mà trị chỗ khinh, chẳng khác gì thân người sai khiến chân tay vậy. Vận động đã nhanh, tin tức lại nhậy, có thể ngăn chặn được những cái chưa nảy mầm, tiêu trừ được những cái không yên tĩnh. Rồi thay đặt những kẻ đầu trưởng để cai trị vỗ về dân, khiến chúng noi khuôn theo phép, tai thấm, mắt nhuần, thì không quá ba năm, có thể biến đổi thói man thành phong tục người Kinh, lâu dài tuyệt được mối lo biên giới.


    “Có điều là dời đổi tỉnh thành là việc người ta lấy làm ngại, có hai cớ : Một là ở An Biên, lam chướng rất nặng ; hai là đường chuyển vận lương thực khó khăn. Thần đã hai ba lần trù tính : An Biên đối ngạn với Hà Giang, ở đây chợ phố liên tiếp, người Kinh, người Thanh ở lẫn với nhau được phồn thịnh. Vả lại, từ An Biên đến Tuyên Quang cùng ăn một con sông, đã cho cân nghiệm thì nước hai nơi không nặng nhẹ hơn nhau bao nhiêu((1) Nước ta ngày xưa có tục cân nước : Nước nơi nào nặng là nước độc ; nước nơi nào nhẹ là nước lành.1). Nay cho là lam chướng, chẳng qua người ta thích gần, ngại xa đó thôi.


    “Nói về việc nhu phí : Hạt này chất đất màu mỡ ; núi, chỗ nào cũng gieo trồng được. Vừa rồi những chỗ thần đã đi qua thấy thóc lúa để lộ ở trong rừng, trong gò. Hơn 4.000 binh dõng đi trận chuyến ấy, suốt từ tháng mười đến tháng chạp, mà một xã Vân Quang cung cấp, không thiếu thốn, thì đủ biết những nơi khác. Xét ra, ruộng ở đây không có sổ điền và cũng không nộp thuế. Những đất có thể gieo trồng được còn bỏ hoang nhiều. Vậy thì chỉ phải chuyển vận lương thực một lần đủ dùng nửa năm. Sau này, chiêu mộ những dân xiêu ở các xã khai khẩn, rồi chiếu những đất thực đã trồng cấy được, châm chước thu lấy thuế, chứa lại để chi dùng, có thể đầy đủ, không sợ thiếu thốn.


    “Lại nữa, các sở mỏ vàng, mỗi năm nộp thuế từ 1 đến 4 lạng, mỗi lạng tính 80 quan tiền. Những người nhà Thanh làm mỏ, mỗi nơi tụ tập để kiếm ăn đến trên dưới 700, 800 người, đều là những kẻ du đãng trốn tránh. Chúng đào xẻ mạch đất, quấy nhiễu dân địa phương thường thường gây ra xích mích. Ngày nọ, giặc Vân đi đến đâu, chém giết bừa bãi đến đấy, đều do bọn này hùa đảng, giúp nó làm bậy cả. Số thuế vàng thu nhập ấy, có hay không, đều không đáng kể. Nay hãy xin tạm bắt các mỏ vàng đóng cửa. Đuổi hết về nước những bọn người Thanh tụ tập kiếm ăn ở đấy. Sau này, có ai xin trưng, cứ quan địa phương xét thực, sẽ chiểu theo cái lệ “Hộ làm vàng” ở Quảng Nam mà đánh thuế. Rồi thường cho kiểm soát, không để chúng tự giấu bớt như trước. Như vậy, đã dứt được cái lo bất ngờ, mà lại làm dồi dào thêm việc tiêu dùng của Nhà nước.


    “Hơn nữa, trước giờ, số biền binh thuộc tỉnh được phái đi các tỉnh nã giặc đến gần một nửa, số hiện còn tại ngũ, sợ điều khiển không đủ. Những thổ mục trong tỉnh và những thủ hạ của thần, gặp khi có việc quân, kể cũng đắc lực. Nay xin cho mộ người lập làm hai cơ binh, mỗi cơ 600 người. Kẻ nào mộ được 60 người, thì cho làm suất đội, kẻ nào mộ được 10 đội cho làm quản cơ. Số lính mộ trong đám lậu đinh này không những có thể dùng để sai phái, mà những kẻ không có căn cước ghi sổ sách cũng có sự quản thúc. Như vậy cũng là một cách tăng thêm quân và dẹp yên giặc”.


    Vua dụ rằng : “Tỉnh Tuyên Quang tiếp giáp Thái Nguyên, mà An Biên lại là nơi trung độ, hiểm trở có thể làm căn cứ được. Việc xin dời tỉnh thành Tuyên Quang về An Biên, cho thống trị cả Thái Nguyên và đặt tổng đốc để yên lòng mong mỏi của dân, dường cũng có lý. Nhưng, việc làm dần dần thì có thể dựa nhau mà dễ thành công. Chỗ này, đất nhiều rừng rậm, người, vật còn thưa thớt. Nếu nay dựng tỉnh thành ở đấy thì thực có nhiều điều chưa tiện. Hãy chờ sau này biên giới yên tĩnh, sẽ bàn chưa muộn.


    “Còn việc xin đuổi hết người Thanh làm mỏ về nước, để tiệt cái mầm làm bậy. Xét cái mối lợi nhỏ mọn về mỏ vàng, cố nhiên triều đình cũng chẳng cần. Có điều rằng những người cùng dân ngoại quốc đã nhờ đấy để nuôi bố mẹ, vợ con, nếu chúng dám manh tâm làm bậy, đã có pháp luật, há nên quá phòng xa mà vội đuổi chúng đi ư ?


    “Lại nữa, binh lính quý tinh, chẳng quý nhiều. Nếu khéo dụng binh thì số lính thuộc tỉnh cũng đủ dùng vào việc tiễu trừ giặc cướp, hà tất phải mộ nhiều những kẻ du đãng đi uổng phí lương, tiền làm gì ? Vậy việc xin mộ lính làm hai cơ, không bàn đến nữa”.


    Đoàn Văn Trường, Tổng đốc Hà - Ninh, tâu nói : “Kè đá bờ sông Cái (từ phường Thạch Khối đến gần thôn Hàn, dài hơn 340 trượng) để đỡ dòng nước xói, bảo vệ chân thành đất. Mùa thu năm ngoái, nước lụt làm lở đến hơn 100 trượng, xin lấy biền binh sửa đắp lại”. Vua chuẩn y.


    Lại đặt thêm vệ Phấn dực thuộc thủy quân. (Thủy quân, trước kia, có vệ Phấn dực, sau đã bỏ). Cho mộ những dân ngoại tịch ở các hạt thuộc các tỉnh và trực kỳ sung vào. Mỗi vệ 10 đội, mỗi đội 50 người. Đội, đặt 1 Suất đội, 2 Đội trưởng và 2 Ngoại ủy đội trưởng. Cấp bậc và khẩu phần ruộng lương đều ở dưới cấm binh và nội thủy. Thể lệ khóa công về đội trưởng và ngoại ủy đội trưởng cũng giống như cấm binh.


    Lại dụ bộ Binh : Bất cứ biền binh hay thứ dân, ai gắng sức chiêu mộ được lính này, đều thưởng bằng cấp. Nếu mộ được đủ một đội, liền được thực thu chánh đội trưởng suất đội.


    Ở Quảng Nam có 2 thuyền giặc Thanh lén lút nổi lên ở hải phận Đại Chiêm, đón cướp của cải những người đi buôn, lại lên bờ đốt phá nhà dân. Binh thuyền do tỉnh phái, đi đánh, bắn giết được mấy tên. Giặc liền giong buồm chạy về phía đông. Không bao lâu, chúng lại đến chỗ biển mé ngoài Thái Cần thuộc Quảng Ngãi, cướp bóc rồi đi. Sau đó bộ biền bắt được một chiếc thuyền lạ của người nhà Thanh ở vũng An Vĩnh thuộc Sa Kỳ.


    Được tin, vua hạ lệnh cho quan tỉnh xét hỏi và nhân đó bảo Bộ binh rằng : “Bọn thuyền người nhà Thanh cứ quen thói cũ, thường lảng vảng ở ngoài biển, mua lậu gạo, rồi gặp chỗ vắng người, nhân kẽ sơ hở, đón cướp thuyền buôn, tưởng không phải chỉ riêng một chiếc thuyền này. Vả, gần đây ở hải phận Nam, Ngãi cũng có hai ba chiếc thuyền giặc bị quan quân đuổi đánh, tìm đường lẩn trốn. Hiện nay gió Bắc đương lộng, thế tất chúng còn ẩn nấp quanh các hải đảo, chưa thể đi xa được. Vậy, truyền dụ cho các tỉnh từ Quảng Nam trở vào Nam tới Bình Thuận, phải nghiêm sức các bộ biền tuần dương và các tấn sở thủ sở, phải ngày đêm đi lại tuần tra, thoăn thoắt đưa như thoi, nếu gặp thuyền lạ người Thanh, có vẻ khả nghi, xét không phải là thuyền buôn, thì lập tức bắt giải để xét trị”.


    Hạ lệnh cho quan chưởng ấn Nội vụ phủ : Từ nay phàm việc xuất nhập, thu chi vàng và bạc, đều phải do chính mình cân lường, kiểm nghiệm, không được nhờ tay các lại viên. Đến khi cất để, cũng phải chính mình kiểm soát việc niêm phong, đóng dấu và đóng khóa ; nếu có chỗ không chu đáo để xảy ra việc tệ hại thì cả chưởng ấn và chủ thủ đều nhất luật bị trị tội nặng.


    Vua bảo thị thần rằng : “Nay có một cái cân, khi không cân gì thì thăng bằng, để vật vào cân thì có nặng nhẹ. Ta cho đổi vật khác cũng như thế mà thử, cũng không thấy thăng bằng. Hai ba lần nhận xét, không biết vì cớ sao. Đó là việc nhỏ trước mắt còn chẳng phân biện được, huống chi mọi việc trong thiên hạ có thể phân biện được hết ư ?”.


    Nguyễn Khoa Minh thưa rằng : “Vật chẳng đều nhau, chẳng phải một việc này. Bộ của thần từng đã lường thử thóc, gạo, thì hai phương thóc được hơn một hộc, mà hai phương gạo thì không được một hộc. Nếu nay lấy cách lường gạo mà lường thóc thì không khỏi sai. Xin phải chế tạo riêng các đồ dùng ấy thì mới bình quân được”.


    Vua bảo : “Việc đó để sẽ bàn sau, chưa muộn”.


    Bọn Tham tán Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân và Tán tương Trương Phúc Đĩnh ở đạo Nam Vang đuổi đánh giặc Xiêm, luôn luôn thắng trận.


    Trước kia, quân ta đến gò Ca, có tin do thám báo rằng tướng Xiêm là Phi Nhã Chất Tri đóng giữ Phủ Lật, bèn chia đường đều tiến : Giảng và Đĩnh đi đường tả, Xuân đi đường hữu ; hẹn cùng hội nhau ở đất Cầm Bông - Cần Thăng. Xuân, dọc đường, gặp hơn nghìn quân giặc có 30 thớt voi, bày trận sẵn ở khu rừng phủ Ca Lăng. Xuân tức thì đốc quân tiến đánh. Giặc thua chạy. Ta chém được 8 thủ cấp, thu được súng lớn, súng nhỏ của giặc. Bọn Giảng, Đĩnh được tin, kéo đến tiếp ứng, thì giặc đã tan vỡ, bèn đóng lại ở đấy. Ngày hôm sau, sai quyền sung Lãnh binh Biên Hòa là Nguyễn Văn Hòa tiến lên trước. Mới đi được độ 1 dặm thì vừa gặp quân giặc 3000 tên cùng 50 thớt voi, từ Phủ Lật kéo tới hoặc chặn phía trước, hoặc vòng phía sau. Giảng và Đĩnh dồn quân sấn tới, giao chiến mấy hợp, thì chém được hơn 10 đầu giặc. Xuân đến tiếp, lại chém được 4 thủ cấp nữa. Cai đội dinh Thần cơ là Nguyễn Văn Khách ở mặt trận, bắn súng luân xa, giết được giặc vô kể. Giặc rút lui vào rừng sâu. Trời gần tối, quân ta lại trở về Ca Lăng, đóng lại. Bọn Giảng cho rằng, trận đánh này, Nguyễn Văn Khách bắn súng rất đắc lực nên hãy thưởng trước cho 2 lạng bạc. Lính đi tuần phía trước bắt được 2 tên giặc Xiêm, cho đem ra chém ở trước quân, rồi báo tin thắng trận về Kinh.


    Vua phê rằng : “Đánh nhau dữ dội luôn mấy ngày, quân ta ai cũng một đương mười, dũng khí càng tăng, luôn được thắng trận. Đủ thấy các ngươi vì nước cố gắng lập lên công lớn này. Ta quyết hậu thưởng không tiếc”.


    Giặc Xiêm đêm trốn. Quân ta đuổi đến hết miền biên giới, trở về.


    Trước đây, tướng Xiêm là Phi Nhã Chất Tri được tin quân nó bị thua ở Ca Lăng, bèn đưa hết quân đến, định dồn sức đánh một trận để quyết được thua. Quân bọn Trương Minh Giảng đóng ở Ca Lăng sắp xuất phát, thì giặc đến khiêu chiến. Bọn Giảng đóng yên không động. Giặc bèn đem 4000, 5000 quân và 100 thớt voi đến khu rừng trước mặt bày trận. Bọn Giảng cho 500 quân người Chân Lạp ra đánh thử. Quân Chân Lạp gặp giặc tan chạy. Giặc thừa thắng, phần nhiều dùng những đoạn tre ken liền với nhau làm cái mông xung để che thân, dần dần tiến bức đến đồn ta, dùng súng lớn súng nhỏ bốn mặt tiến đánh. Hồi lâu, bọn Giảng chờ giặc đã đến gần, bèn tung quân đánh trống, reo hò, xông ra chém giết rất hăng. Quân giặc phần nhiều bị tử, thương, bỏ hết mông xung mà chạy. Quân bọn Giảng đuổi chém được một đại tướng, đoạt được thanh gươm vàng (quan Phiên đều nói : Tướng giặc Xiêm cầm gươm vàng như thế là chức quan cửu phẩm của Xiêm) mà tướng ấy cầm, rồi liên tiếp giết quân giặc và thu được rất nhiều súng lớn, súng nhỏ. Đêm hôm ấy, giặc đốt trại, ngầm trốn đi. Quân ta tiến thẳng đến Phủ Lật (cách Bắc Tầm Bôn hơn một ngày đường) để đuổi theo, thì giặc đã ra khỏi cõi. Quan Phiên lùng bắt được bảy con voi của giặc Xiêm ở Cầm Điền, đem nộp. Bọn giặc liền xem xét địa thế vùng này, thấy ở phía nam một con sông nhánh, có cái đồn cũ của Chân Lạp, trông khá cao ráo, bèn sai sửa chữa lại (tức đồn Tịch Biên) và chọn ủy cho bọn quan phiên là ốc Nha Ma Ha Thi Na Kê đem 1.000 lính Phiên đóng giữ. Rồi định ngày kéo quân về làm tập tấu phi tấu lên, và nói : “Lần nào quan quân chỉ có hơn 1.500 người, giặc thì gấp mấy lần. Những quan quân Phiên tòng chinh thì chỉ có thể để ở phía sau làm tiếng tiếp ứng ở xa mà thôi. Bọn thần đã cùng với các tướng sĩ giao ước : ai đốc thúc binh dõng đánh lui được giặc thì đều cấp cho “thưởng công ngân bài”. Trận đánh hôm ấy, bọn thần đã theo dùng lời giao ước, thưởng cho 46 người quản vệ, suất cơ và suất đội mỗi người một ngân bài. Cai đội dinh Vũ lâm là Đỗ Đức Tấn và quyền sai Đội trưởng Nguyễn Văn Huy cùng chém được tướng giặc thì thưởng 20 lạng bạc. Lại nữa những người đi tòng quân trổ sức chuộc tội cũng đều cố gắng, hăng hái, cũng kê cả vào đây, đợi Chỉ”.


    Vua phê : “Xem tờ tâu, thấy quân ta lấy ít đánh nhiều, luôn luôn thắng trận, làm uy vũ nhà vua được lừng lẫy ra xa, khiến quân cường địch phải khiếp sợ, trốn chạy ra ngoài bờ cõi, không dám manh tâm nhòm ngó nữa. Đó là công lao của các ngươi rất đáng khen, mà lòng ta cũng rất được vui mừng, an ủi”.


    Rồi xuống dụ rằng : “Giặc Xiêm kéo theo cả nước sang xâm lấn, luôn luôn bị quan quân đánh bại, phải nhân ban đêm, lẩn trốn. Vậy mà còn tập hợp dư đảng tan tác ở cuối biên giới Chân Lạp toan chống cự lại. Kịp khi quan quân tới, lại dám cậy nhiều quân, tiến đến khiêu chiến, chống cự trước ra mặt, thật rất đáng ghét ! Quân ta chỉ có hơn 1.500 người mà hăng hái tiến lên, liền ngày đánh dữ, giết được một đại tướng, chém được hơn 50 thủ cấp, thu được súng ống, khí giới và voi trận rất nhiều. Giặc phải đốt trại, trốn xa. Thực đáng khen thưởng rất hậu để yên ủi lòng các tướng sĩ.


    “Nguyễn Văn Xuân xông pha tên đạn, trước lập công đầu, chuẩn cho tấn phong tước Tân Khánh bá, lại thăng thụ Đô thống, vẫn lĩnh Tổng đốc Long – Tường ;


    “Trương Minh Giảng, công đứng thứ hai, chuẩn cho tấn phong tước Bình Thành tử, lại thăng thụ Hiệp biện đại học sĩ, vẫn lĩnh Tổng đốc An – Hà ;


    “Hai viên này đều được thưởng :


    “Một chi nhân sâm Quan Đông, loại rất tốt, của nhà vua vẫn dùng ; hai chi sâm Cao Ly của nhà vua vẫn dùng, ba đồng kim tiền nhỏ chạm hai rồng ; một chiếc đồng hồ tây ; một chiếc nhẫn vàng mặt kim cương to bằng hột đậu trắng ;


    “Tán tương Trương Phước Đĩnh được thăng thụ Tham tri bộ Binh và được thưởng một đồng kim tiền Phi long nhỏ, lại một con trai được ấm thụ Cẩm y hiệu úy ;


    “Những người dự có công trạng là : các quản vệ Lê Hữu Du, Nguyễn Văn Tình, Phan Văn Điện, Nguyễn Văn Hòa, đều được thưởng gia quân công một cấp và mỗi người lại được một đồng kim tiền Phi long nhỏ ;


    “Các cai đội quyền sai, Phó quản vệ là Nguyễn Lương Nhàn, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Việt Thị và Trần Hưng Biểu đều được thưởng thụ tinh binh Phó vệ úy, trật Chánh tứ phẩm, vẫn quản suất các vệ như cũ ;


    “Kỵ đô úy Trương Phước Bá cũng được thưởng thụ tinh binh Phó vệ úy ;


    “Cai đội Nguyễn Văn Khách được thưởng thụ Phó quản cơ ;


    “Ngoài ra, thưởng thụ chánh phó quản cơ, cai đội, đội trưởng 40 người ;


    “Đỗ Đức Tấn và Nguyễn Văn Huy chém được tướng Xiêm, nay thưởng thêm 80 lạng bạc nữa cho đủ 100 lạng. Đỗ Đức Tấn lại được thưởng thụ Quản cơ ; Nguyễn Văn Huy lại được thưởng thụ Đội trưởng. Mỗi người lại được cấp 1 chiếc “thưởng công ngân bài” ;


    “Những suất đội đi trận này mỗi người được thưởng 3 đồng ngân tiền Phi long lớn ;


    “Người đi tòng quân : Tư vụ Trương Quốc Dụng được thưởng thụ Chủ sự ; những người theo đi làm việc chuộc tội : Tô Trân, Nguyễn Văn Bình đều được thưởng thụ Tư vụ ; các đội thủy quân là Đoàn Khắc được thưởng thụ thủy quân Phó vệ úy. Tất cả đều cho theo Nguyễn Xuân, Trương Minh Giảng sai phái, chờ khi bình định xong, khuyết đâu sẽ bổ. Binh dõng được thưởng chung 5000 quan tiền.


    “Các trận vong tướng sĩ : Phó vệ úy Tiền vệ dinh Tiền phong là Tằng Viết Thanh được truy tặng Vệ úy, trật Chánh tam phẩm, và một con trai được thụ ấm làm Cẩm y vệ thiên hộ, lại được thưởng thêm 30 lạng bạc ;


    “Ngoại ủy suất cơ cơ Trung dũng là Nguyễn Văn Trinh được truy thu Cai đội, trật Chánh ngũ phẩm ; Phó suất cơ Nguyễn Văn Đạo được truy thu Cai đội, trật Tòng ngũ phẩm ; cả hai đều được thưởng mỗi người 10 lạng bạc”.


    Lại dụ sai triều thần đem việc đánh đuổi giặc Xiêm thông sức cho trong Kinh và các tỉnh ngoài đều được biết.


    Sau đó, vì Trương Phúc Đĩnh chưa có con trai, nên ấm thụ cho em là Trương Phúc Hào làm Cẩm y hiệu úy.


    Sai Nội các truyền dụ bọn Nguyễn Xuân, Trương Minh Giảng, Lê Đại Cương và Trương Phúc Đĩnh xét trong tướng sĩ cùng các quan phiên đi trận, ai là người thực có công trạng và tài năng xuất sắc, thì lấy số sa, trừu, gấm, đoạn, lần trước đem đi mà trao thưởng ngay trước mặt hoặc may thành áo mà cho họ, không nên tiếc. Lại chọn lấy một hộ vệ, thị vệ, hoặc Vũ lâm cấm binh suất đội, đã đi tòng chinh ở Phủ Lật, biết tường tận tình hình việc đánh dẹp mà lại nói năng được minh bạch thì cho đi ngựa trạm, về Kinh để nhà vua hỏi chuyện.


    Tham tán Hồ Văn Khuê đến Hà Tiên, tâu bày về công việc sửa sang xếp đặt trong tỉnh, nói : “Pháo đài Hà Tiên đã bị giặc Xiêm tàn phá, nên cho tu sửa lại để việc biên phòng được mạnh. Vậy xin ở phía trước, chân pháo đài, bên bờ tấn sở, cho xây trước một dải lũy đá dài 111 trượng 5 thước, cao 3 thước, chân dày 5 thước, mặt rộng 3 thước, cứ cách một trượng lại đặt một cỗ súng to. Lại chọn những chỗ đất cao ráo rộng rãi, dựng một cái đồn có bao thành xung quanh, mỗi mặt đều 20 trượng, để làm nơi tỉnh lỵ. Phía sau, lại xây 2 cái đồn nữa để đóng chặn đường bộ. Trên những ngọn cheo leo ở các núi từ Cần Bột tới Giang Thành, đều cho đặt đài đốt lửa báo hiệu và dựng đồn canh, tạm làm sự phòng bị. Còn việc xây dựng tỉnh thành là một công trình to lớn, nên chờ sau này, khi nhân dân hồi sức lại, vật liệu dồi dào sẽ do quan tỉnh trù tính làm sau”.


    Vua dụ : “Tỉnh Hà Tiên mới thu phục, công việc còn bận rộn. Những công trình xây dựng chưa thể nhất nhất đều làm một lúc. Phàm việc gì nên làm trước, có thể hãy tạm sửa chữa, cốt cho chóng xong, rồi liệu để lại một quản vệ và 500 binh dõng để cùng với tỉnh đóng giữ. Còn những công trình to lớn, tạm chờ khi bình định xong, sẽ bàn. Khi tiếp được dụ, phải tức thì mang binh dõng hiện đem theo, quay về quân thứ Gia Định. Việc xây dựng đồn, thành Hà Tiên giao cho quan tỉnh và lính đồn trú đứng làm”.


    Kinh lược Đại sứ Nguyễn Văn Xuân và Phó sứ Phạm Văn Điển đạo Trấn Ninh thuộc Nghệ An, tiến đến đồn Mường Then thuộc Kỳ Sơn. Có thổ dân ở huyện Mộc, huyện Quảng thuộc phủ Trấn Ninh, dắt già cõng trẻ, hơn 300 người, đến trú ngụ, bèn sai sở tại chọn nơi cho họ ở yên, chờ sau sẽ khu xử. Rồi chọn 20 người khỏe mạnh cùng với hơn một trăm thổ dõng ở Kỳ Sơn, cho tùy tòng trong quân để sai phái. Vì đường hiểm khó đi, cho rút hết các voi trận trở về tỉnh. Và đem việc tâu lên.


    Vua dụ rằng : “Gần đây cứ tỉnh Nghệ An tâu báo, lũ nghịch phạm Kiệu Huống đã bị giặc Xiêm bắt đi thì toàn cõi Trấn Ninh không còn giặc giã nữa. Vậy các ngươi phải tuân theo tờ dụ trước, làm cho xong xuôi, rồi sớm mang quân về Trấn Tĩnh hội tiễu”.


    Vì thấy số ống phun lửa hiện trữ ở Nghệ An còn ít, vua lại xuống dụ cho Quảng Bình, Thanh Hoa vận tải ống đồng đến Nghệ An (Quảng Bình : 200 ống ; Thanh Hoa : 300 ống).


    Sai bộ Binh lấy 400 tấm “thưởng công ngân bài” ở kho, phái thị vệ đem giao các đạo quân Nguyễn Văn Xuân, Lê Văn Đức, Nguyễn Mưu và Lê Văn Thụy, mỗi đạo 100 tấm. Và Nghệ An lấy ra ngân tiền Phi long lớn và nhỏ, mỗi thứ 100 đồng, để giao quân thứ Nguyễn Văn Xuân.


    Lại dụ lũ Lê Văn Thụy xét trong trận chiến thắng lần trước, những ai đã đương trường bắt được một tướng và chém được 17 thủ cấp giặc, thì cấp cho mỗi người một “thưởng công ngân bài”.


    Ra lệnh cho các địa phương : Phàm những hương dõng đi tòng chinh, gián hoặc có người nào vì bị bệnh, phải về làng điều dưỡng rồi chết, thì cứ chiếu lệ binh lính, cấp tiền tuất cho mỗi người 3 quan. Việc này được ghi làm lệnh.


    Vua thấy bọn thổ phỉ lan tràn ở Cao Bằng, lâu không trừ tiệt được, rất lấy làm giận, bèn dụ Nội các : “Từ khi biên thùy nhiều việc, ta thức ngủ không yên, ăn muộn, dậy sớm. Trước kia, vì lũ Hoàng Văn Quyền và Bùi Tăng Huy hèn kém, vô tài, để đến nỗi thổ phỉ ngày thêm quấy nhiễu. Vì nghĩ Tổng đốc Tạ Quang Cự là người lão luyện về trận mạc, lại vừa mới lập chiến công, nên trao quyền Tổng thống và dùng Vũ Văn Từ làm Phó để giúp đỡ và cho chuyên việc đánh dẹp. Ngày tháng 10 năm ngoái xuất quân, khôi phục luôn 2 tỉnh, được ơn đoái thương ngày một nhiều. Không ngờ lượng nhỏ chóng đầy, trước chăm sau biếng, đã chẳng chịu nằm gai nếm mật, vì công quên tư, mà cách xử thân không đứng đắn, quân luật lại không nghiêm. Khi mới khôi phục được Cao Bằng, không tiến quân đi tiễu ngay, chỉ ủy thác cho Vũ Văn Từ đi một mình, đến nỗi lâu ngày không có công hiệu. Lại thêm không biết nghiêm cấm quân sĩ, để mất lòng dân. Cho nên, đống lửa tàn lại bốc cháy, chỉ thêm phiền lụy cho dân. Hơn nữa, quân đóng lâu, phí lương thực, quân sĩ mỏi mệt, từ đông sang xuân đã quá năm tháng nay. Thành thử quân, dân vất vả gian lao, mà giặc cướp không biết đến bao giờ trừ tuyệt được. Đêm khuya suy xét, bực tức vô cùng ! Đáng lý, lập tức đem Tạ Quang Cự và Vũ Văn Từ ra xét hỏi trị tội, nhưng nghĩ : hiện nay các lộ đã hội quân, công việc đã sắp xong, nên hãy tạm tha cho tội trước để lập công sau.


    “Vậy truyền chỉ nghiêm sức cho các viên ấy : từ nay phải biết xấu hổ, cố gắng gấp bội, phải khuyến khích quân sĩ, chỉnh đốn lại hàng ngũ, hạn trong tháng này phải sớm thành công, nếu sai, sẽ có phép nước.


    “Lại được tin quan quân đạo này, gián hoặc có những tên hư hỏng, quấy nhiễu thổ dân, làm mất lòng dân nhiều quá ! Nay cho phép Tạ Quang Cự và Vũ Văn Từ giữ công bằng, tra xét minh bạch : nếu có tình tệ như trước, thì từ chánh phó quản vệ, quản cơ trở lên, cho cứ thực nghiêm hặc ; từ suất đội trở xuống, cho lập tức mang chém để rao với mọi người. Nếu Tạ Quang Cự, Vũ Văn Từ tư vị, không công minh, thì cho phép thự Bố chính Hoàng Văn Tú và án sát Trương Sĩ Quản tâu hặc, không được thông đồng bênh vực nhau. Một khi việc phát giác ra, sẽ khó tránh lỗi nặng.


    “Lại nữa, quyền Lãnh binh Vũ Văn Tình là một viên hưu trí, trước vì tình nguyện ra sức lập công, nên cho đi theo quân đội, nhưng đến gần nay chỉ chuyện nói suông chẳng thấy nảy được một điều sở trường gì cả. Nay cho phái đi trước để giết giặc, nếu có công trạng rõ ràng, thì tâu ngay lên để chờ ban ơn rộng, nếu nhút nhát vô tài, cũng phải lập tức tâu rõ để trừng tội nặng. Nếu y đã già nua yếu đuối, cũng nên tâu trình để cách chức đi, không cho trà trộn vào hàng ngũ uổng phí lương bổng”.


    Sau đó, Tạ Quang Cự tâu nói : “Quan quân đi tiễu phỉ suốt một dải từ Đào Ngạn, Nghi Bố đến núi Công Lĩnh, đốt hết doanh trại ven núi của giặc hơn 30 nơi và chém được mấy tên giặc, còn thì chúng trốn xa, từ đấy không dám trở lại nữa.


    “Nguyên Lãnh binh Bắc Ninh là Trần Văn Duy, năm ngoái bị án về việc thất bại ở chợ Mới, đã xử trảm giam hậu. Người này vốn quen việc chiến trận, còn có thể dùng được. Vậy xin chuẩn cho theo quân thứ để sai phái khiến y được lập công chuộc tội”.


    Vua dụ rằng : “Quân giặc nay đã gần tan, mà 2 đạo Tuyên Quang, Thái Nguyên lên đường, đã gần tới sào huyệt của giặc. Các ngươi nên nhân cái thế thắng lợi này, đốc sức tướng sĩ, định kỳ tiến tiễu, xông vào phá tan ổ giặc, chớ có lần chần, chậm trễ đóng lâu. Còn Trần Văn Duy là một tướng thua trận, pháp luật khó tha thứ, nhưng nghĩ nay đương lúc hữu sự, nên hãy tạm tha, cho đi tòng quân, gắng sức chuộc tội”.


    Cho Cai đội cơ Cao Bằng là Nguyễn Hữu Đĩnh làm Phó quản cơ vẫn theo làm việc ở quân thứ.


    Đặt cơ Nghị dũng tỉnh Sơn Tây.


    Trước đó, Tổng đốc Lê Văn Đức có sức cho thuộc hạ mộ được hơn 200 dân ngoại tịch ở tỉnh Quảng Bình. Gặp khi Tuyên Quang có việc, đem đi dẹp giặc, có xin để lúc xong việc, sẽ chia đặt ra cơ đội, rồi tâu lên. Đến nay đã mộ đủ 500 tên, dồn làm một cơ 10 đội, đặt tên là cơ Nghị dũng. Lại mộ thêm 50 người nữa đặt làm đội Pháo thủ Nhị, đội pháo thủ cũ thì đổi làm đội Pháo thủ Nhất. Hai tỉnh Hưng Yên, Hưng Hóa mỗi tỉnh cũng mộ được 50 người, xin đặt làm đội Pháo thủ. Vua cũng đều y cho cả.


    Tuần phủ Thanh Hoa là Nguyễn Khả Bằng đóng quân ở Tống Sơn, được tin bọn giặc lén phát ở hạt Vĩnh Lộc, bèn phái quân đến đuổi bắt, chém được 2 tên, còn đều chạy trốn.


    Được tin, vua bảo bộ Binh rằng : “Nguyễn Khả Bằng thân làm Tuần phủ, một chức quan to, đem quân đi tuần tiễu, thế mà còn có giặc dám công nhiên cướp bóc ngay bên cạnh. Khả Bằng không phái quân đi đón chặn, chém hoặc bắt cả toán để làm cho ra án, mà lại chỉ chém được có 2 tên thì sao hết được trách nhiệm ? Vậy phải truyền Chỉ nghiêm quở”.


    Bố chính Thanh Hoa là Nguyễn Đăng Giai, vì làm quan ở ngoài đã đầy 3 năm, dâng sớ xin về Kinh chầu vua.


    Vua không ưng, dụ rằng : “Hạt ngươi, giặc cướp chưa hết, nhân dân chưa được yên, cái trách nhiệm của một người quan to ở biên cương không phải là nhỏ. Ngươi phải tuyên dương đức hóa của triều đình, khiến cho giặc tĩnh, dân yên, tất có trọng thưởng, chứ chẳng những chỉ vời về Kinh mà thôi ! Nếu nuôi vỗ nhân dân sai hướng, để toàn hạt chưa được yên ổn, tất có lỗi nặng, thì có chầu hầu vào đâu ? Ngươi nên cố gắng !”.


    Đặng Văn Thiêm, Tổng đốc Định – Yên, khám xét việc xây thành Hưng Yên, tâu xin đình việc xây cửa bên tả, để bớt công sức, và xin lựa chọn loại bớt đá ong và nước mật.


    Bộ Công bàn xét trả lời, cho rằng thành trì đặt ra cốt được kiên cố như thành vàng hào nóng, há nên xây lệch lạc. Vậy cửa bên tả, cứ y thức mà xây. Còn như đá ong và nước mật, người ta đã trót mang đến bán cho rồi, nếu nay nhất nhất lựa lọc, loại ra, thì làm khổ cho dân !


    Vua nói : “Lời bàn của Bộ thực là hiểu biết được cái đại thể, còn viên tổng đốc, không khỏi chỉ nhìn thấy cái nhỏ mọn”. Rồi thưởng cho đường quan Đoàn Văn Phú kỷ lục một thứ và các viên tá lĩnh ở bộ thì được thưởng tiền bạc có thứ bậc khác nhau.


    Đoàn Văn Trường, Tổng đốc Hà - Ninh tâu nói : “Ở phía sau Quảng Minh đình ngoài thành tỉnh, có một cái hòm gỗ vuông treo thủ cấp của giặc Tây Sơn, Nguyễn Quang Thùy, hiện đã cho mang về trại lính để chờ Chỉ dụ, sẽ tuân hành. Bộ Hình xin giao cho nhà ngục Hà Nội giam cầm nghiêm ngặt để nên tội ác”. Vua sai đem vứt xuống sông.


    Tuần phủ Hà Tiên, Trịnh Đường, có tội, bị miễn chức. Dùng Tán tương Trần Chấn làm thự Tuần phủ Hà Tiên.


    Trước kia, khi giặc Xiêm tiến sát tỉnh Hà Tiên, Đường lấy giấu 1000 quan tiền công ở kho đem xuống thuyền chạy trốn, có nguyên án sát Đặng Văn Nguyên trông thấy. Đến khi tỉnh lỵ đã thu phục, Đường lại tâu man là tiền ở kho bị giặc lấy mất. Đến đây, Tham tán Hồ Văn Khuê nhân Đặng Văn Nguyên phát giác, mới chỉ đích danh mà hặc.
  • Chia sẻ trang này