0061.0012

26/1/16
0061.0012
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    họp đã đông, đại bác và các hỏa khí đều đầy đủ. Lại cứ theo tờ tâu thì đồ dùng đánh thành cũng đã chuẩn bị rồi, thì việc thừa thế, lấy lại thành, là ở chỗ chuyến này. Vậy cho phép lập tức nhân cơ hội, hạ lệnh ấn định ngày hợp công, lại phải nghiêm cẩn tuân theo những phương lược nói trong tờ đạo dụ trước, khéo thể theo mà làm, cần sao hiệu lệnh được thống nhất, hành động đúng cơ nghi, một trận thành công để cho xong việc.


    “Khi hạ thành xong, một mặt cho đem cờ đỏ báo tin thắng trận, một mặt hãy thưởng trước cho :


    “Tả tướng quân Tống Phước Lương 100 quan tiền ;


    “Hữu tướng quân Nguyễn Văn Trọng 80 quan ;


    “Tham tán, mỗi người 60 quan ;


    “Tán tương, Chưởng cơ mỗi người 30 quan ;


    “Chánh , phó quản vệ mỗi người 20 quan ;


    “Chánh, phó quản cơ, quyền sung quản vệ, mỗi người 10 quan ;


    “Suất đội và Ngoại ủy quản cơ mỗi người 5 quan ;


    “Chánh đội trưởng suất đội và Ngoại ủy suất đội, mỗi người 2 quan ;


    “Lính và hương dõng mỗi người 1 quan ;


    “Tấn sở nào, hoặc vệ nào, cơ nào vào thành trước thì thưởng trước 1.000 quan ;


    “Lại xét công trạng của những người tòng chinh, làm thành danh sách tiếp tục đệ lên để đợi khen thưởng ưu hậu ;


    “Những lương, tiền, đồ vật công ở kho tàng trong thành, khi hạ thành xong, phải lập tức hội nhau niêm phong đóng dấu lại, đừng để quan lại, binh dõng xẻo xén mảy may. Rồi giao cho Tổng đốc Gia Định kiểm nhận, tra rõ số mục, kê thành sổ sách đệ tâu”.


    Lại truyền dụ Tham tán Nguyễn Xuân, Hồ Văn Khuê mau về quân thứ Gia Định, để hội nhau trù tính mọi công việc đánh thành.


    Các tướng quân, tham tán lại tâu nói : “Phía ngoài lũy tuần tiễu ở tấn sở mặt trước, có quân giặc giòng dây xuống thành, lẻn đến nhổ trộm chông gỗ, bị quân đi tuần bắn chết 2 tên, chém đầu đem nộp. ở tấn phận mặt hữu có khẩu súng “Phá địch trung tướng quân”, bắn một phát trúng pháo đài góc tả phía trước thành, nơi chứa thuốc súng của giặc, khói bốc nghi ngút, giặc bị thương, bị chết cũng nhiều. Lại nữa, viên tú tài Nguyễn Hữu Nghiêm do Kinh phái đến, chế hỏa pháo, hỏa yên((1) Hỏa mù.1), hỏa tiễn ((2) Tên lửa thô sơ.2) và hỏa khí hiện đã làm xong, đương cho diễn tập cách dùng, chờ đến ngày đánh thành thì dùng giết giặc.


    Vua lại dụ rằng : “Thế giặc ngày một cùng quẫn, quan quân kéo đến như mây họp lại, những đồ dùng đánh thành cũng đã lần lượt chuẩn bị đủ, thế mà chẳng thừa cơ đánh giết giặc, còn đợi đến ngày nào ? Vậy phải tuân theo dụ trước, tức thì hạ lệnh đánh thành, không nên để lâu làm gì nữa.


    “Tên biền binh chém được 2 đầu giặc giòng dây ra thành đã chiếu lệ thưởng bạc lạng. Lại chuẩn cho xét rõ những suất đội ở tấn sở, thưởng cho mỗi suất đội 3 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn ; quản vệ, quản cơ mỗi người kỷ lục một thứ. Rồi truyền dụ cho quan quân ở tấn sở ai nấy phải lưu tâm phòng ngừa, nếu giặc lén ra, mà đón chặn chém giết ngay được, thì cũng cứ chiếu theo lệ này, phát thưởng. Nếu chém được những tên trong đội Bắc thuận, Hồi lương mà xét có dấu thích chữ ở mặt thì thưởng cứ mỗi thủ cấp là 5 lạng bạc tốt. Nếu ai chém được từ 30 thủ cấp trở lên, thì chuẩn cho các tướng quân và tham tán ở các tấn sở cũng tâu rõ để khen thưởng ưu hậu. Nếu phòng bị trễ tràng sơ hở để giặc ngầm trốn ra được, hoặc để hương dõng ngầm thông đi lại với giặc, thì tất phải phân biệt trị tội nặng. Còn người nào bắn trúng chỗ chứa thuốc súng của giặc, thì thưởng cho 10 lạng bạc”.


    Vua lại cho rằng những tướng sĩ ở nơi quân thứ khá đông, cho triệu bọn quyền sung Thống chế Lê Văn Quý, Chưởng cơ Phạm Hữu Tâm, Vệ úy Nguyễn Văn Thị, Nguyễn Văn Tình và Phó vệ úy Bùi Văn Thi về Kinh, để lựa dùng vào việc khác.


    Lại sai trích lấy hơn 10 chiếc các loại thuyền Hải đạo, thuyền Ô, thuyền Lê do Kinh phái đến, do thủy quân Phó vệ úy Đoàn Khác, Đỗ Chiêm Phác theo thuyền cai quản, nay chở về nộp.


    Bọn Tham tán Nguyễn Xuân, Trương Minh Giảng và Tán tương Trương Phước Đĩnh ở đạo Nam Vang, từ Phủ Lật về, đến bến sông Xà Năng, được tin Bố chính Vĩnh Long là Đoàn Khiêm Quang đã hộ tống vua Phiên về nước. Nguyễn Xuân và Trương Phước Đĩnh bèn lưu lại Xà Năng, kinh lý bờ cõi Bông Xui. Trương Minh Giảng tức thì mang theo Thái Công Triều về thành Nam Vang làm tập tấu nói : “Thành Nam Vang trước đây bị giặc Xiêm phá hủy, vua Phiên chưa có chỗ ở nhất định. Hiện nay thần đương cùng Thái Công Triều bàn định, chọn chỗ đất trọng yếu, tiện cho việc chống giữ, lập một thành trì cho vua Phiên ở và làm chỗ cho quân ta lưu lại phòng thủ”.


    Vua dụ rằng : “Nam Vang nay mới thu phục, công việc kinh lý và xếp đặt còn phải có nhiều kế hoạch trọng yếu. Thành trì ấy đã bị phá hủy, chỉ nên tu sửa qua lại để làm chỗ ở và đóng giữ thôi, bất tất phải chỉ chăm vào sự mỹ quan. Thành trì Nam Vang và đồn Tịch Biên ở thượng du, cho phép ngươi bàn với vua Phiên, vát lính Phiên, dân Phiên ra làm. Còn đồn An Man ngoài thành Nam Vang thì lấy biền binh xây đắp và phân phái quân đóng giữ. Rồi châm chước đặt quân phòng giữ những nơi hiểm yếu, chỉnh đốn sửa sang bờ cõi, khiến cho chốn biên giới chóng được yên lặng, thế là được”.


    Kinh lược đại sứ Nguyễn Văn Xuân và Phó sứ Phạm Văn Điển, đạo Trấn Ninh thuộc Nghệ An, tiến đến phủ lỵ Trấn Ninh, quân Xiêm man nghe thấy bóng gió, đã chạy trốn trước, làng mạc dân cư xa gần đều bị đốt cháy gần hết, bèn sai kiểm điểm hài cốt những biền binh chết trận, thu nhặt đem chôn. Lại sức thổ mục, thổ dõng chia nhau đi 8 huyện trong hạt chiêu dụ thổ dân cho họ đem nhau quy thuận, đi báo và chỉ rõ tung tích lũ phản nghịch là Huống, Khuyết và giặc Xiêm man, tìm cách nã bắt, rồi làm sớ tâu lên.


    Vua dụ rằng : “Tên Huống, tên Khuyết manh tâm phản nghịch, dẫn dắt bọn Xiêm man vào gây việc biến, tội chúng cố nhiên đáng giết. Còn như thổ mục, nhân dân thuộc hạt được triều đình vun đắp từ lâu, tưởng chẳng có lòng nào khác. Nay nên một mặt tuyên truyền lòng nhân đức của triều đình muốn dụ dân về yên cư, để họ bảo nhau trở về làng cũ ; một mặt tức thì tuân theo dụ trước, rút quân về. Khi về tới tỉnh, Nguyễn Văn Xuân nay đã già yếu, cho ở lại tỉnh làm việc, giao biền binh cho Phạm Văn Điển cai quản, mang trở về Trấn Tĩnh, điều khiển quan quân các đạo trước sau để đánh dẹp. Còn công việc chỉnh đốn xếp đặt ở Trấn Ninh nên để quan tỉnh thong thả làm sau. Rồi xét trong đám thổ ty, cử lấy một người biết làm việc, và được mọi người tin phục, tâu xin cấp bằng cho tạm quyền làm công việc phủ, để cho có sự thống thuộc”.


    Bọn Hộ phủ Lê Dục Đức và án sát Cao Hữu Dực, tỉnh Hà Tĩnh, tâu nói : “Trong ngoài hải phận tỉnh Hà Tĩnh đã do hai tỉnh Quảng Bình, Nghệ An chia nhau tuần phòng rồi, xin đình việc phái binh thuyền tuần dương đến nữa”.


    Vua dụ rằng : “Một dải ven núi hạt các ngươi, gần đây, nghe có giặc cướp lén phát. Phải nên lưu tâm dò bắt, đừng để chúng ẩn nấp trong rừng rú, làm khổ cho dân. Nếu việc tuần phòng mặt biển đã có 2 tỉnh làm rồi, thì ta không coi việc đó là trách nhiệm các ngươi nữa. Vậy cho đình chỉ !”.


    Thự phủ Nguyễn Tú đạo Cam Lộ tiến đến sông Tấm Lục ở Ba Lan ; Chưởng cơ Lê Văn Thụy, Bố chính lĩnh án sát Hồ Hữu Thẩm và Phó vệ úy Phạm Phi cũng mang quân tiếp đến. Được tin giặc Xiêm, một đạo liên kết với các Man ở Sầm Dũng, Khiêm Ma Lạt, đóng ở Mường Bổng ; một đạo liên kết với 28 bản ở Mục Đa Hán, đóng ở Tầm Bồn. Bọn Tú bèn phái người đi dò thám đích xác, để liệu cơ đánh dẹp. Hộ phủ Dương Văn Phong cứ theo tin báo tâu lên.


    Vua sai truyền dụ rằng : “Ngày trước người Xiêm liên kết bè đảng đến hơn 3000, 4000 tên, quấy rối ở vùng Ba Lan, luôn bị quan quân đánh bại, kéo nhau lẩn trốn. Nay lại dám đến nữa, chẳng qua là những dư đảng lẻ tẻ. Nếu ta kíp tiến đánh, tất chúng thua chạy cũng chẳng xong, thì có khó gì mà không dẹp được ! Khi tiếp được dụ này, cho phép lập tức tiến quân hiệp sức quây đánh, bắt giết cho hết giặc Xiêm, để chúng mãi mãi khiếp phục binh uy, thì công các ngươi không nhỏ ! Ta tất không tiếc hậu thưởng. Nếu lần chần trông ngóng, làm lỡ thời cơ, tức là phạm đến quân pháp”.


    Sau đó, bọn Tú tâu nói : “Cứ tin thám tử về báo, thì đảng giặc nghe tin quan quân tiến đánh, đã đốt trại trốn đi. Vả, các Mán ở ven biên giới vốn khinh dân chín châu((1) Chín châu : Mường Vanh, Na Bôn, Thượng Kế, Tá Bang, Xương Thịnh, Tầm Bồn, Ba Lan, Mường Bổng, Làng Thìn.1) nhút nhát, nên đồng lõa với giặc Xiêm, xâm lấn quấy nhiễu dân ngoài biên. Quân ta đến thì chúng trốn, quân ta về thì chúng lại trở lại. Còn 28 bản ở Mục Đa Hán trước đã đến ngụ ở Tầm Bồn. Triều đình rộng lượng cho chúng trú ngụ, thế mà chúng không biết cảm kích nhớ ơn, lại đi theo giặc sinh sự, tội đáng chết, không tha. Vậy xin trước hết hỏi tội 28 bản kia, rồi lên đường thẳng đến Mường Bổng, lần lượt tiễu trừ. Bọn thần hiện đã đem đại đội binh dõng từ quân thứ Ba Lan xuất phát”.


    Vua phê : “Mường, Lạo chỉ biết sợ oai, không biết mến đức, nếu không trừng phạt cho đau một phen, thì sao yên được biên cương mãi mãi ? Các ngươi nên kíp tiến, đừng để lỡ việc. Cần phải đánh mạnh để thuyết phục kẻ có tội, rồi rút quân về ngay, đừng ở lâu, không tiện”.


    Nguyễn Công Liêu, Thự phủ Phú Yên, bị cách lưu. Trước đây, Liêu làm việc xét nghiệm về tà đạo Gia Tô trong hạt, đã hơn một năm, không đem việc tâu lên. án sát Vũ Đức Mẫn vạch ra, tham hặc. Vua sai cách chức lìa lỵ sở, về Kinh, theo bộ Lại làm việc chuộc tội. Dùng quyền Bố chính Bình Định là Đặng Đức Thiệm làm Bố chính Phú Yên, hội cùng Vũ Đức Mẫn, giữ ấn quan phòng của Tuần phủ. Thăng án sát Bình Định là Phạm Thế Trung lên thự Bố chính ; Phó trưởng sử Trần Xác lên Viên ngoại lang bộ Hình, thự án sát Bình Định.


    Giáng Nguyễn Đôn Tố, thự Bố chính Thái Nguyên, xuống làm Kinh lịch.


    Trước đây, thổ phỉ quấy nhiễu, Tố một mực nhút nhát, chùn lại, đã bị cách lưu; đến bấy giờ đổi giáng xuống chức này, cho theo bọn Phó lãnh binh Nguyễn Văn Ưng đi chuyển vận quân nhu. Sau đó, lại phát giác cái án nhũng lạm, Tố bị cách hẳn.


    Thăng Lang trung sung Vũ khố đốc công là Lê Trường Danh lên thự Bố chính Thái Nguyên. Trường Danh và Trần Xác vào từ biệt vua, vua vời vào bảo rằng : “Các ngươi là chức quan nhỏ, được cất nhắc lên chức ngày nay, cũng là muốn lấy chính trị mà thử, để xem thi thố như thế nào. Kể ra, hai chữ “trung hiếu” các người há lại không rõ ? Phàm người ta có lòng không dối, thì dù trước mặt vua cha hay ở xa muôn dặm, cũng vẫn một lòng ấy. Nếu khi ra khỏi cửa cung, liền cho rằng vua ở xa muôn dặm, mình có thể ám muội làm bậy, lập tâm như vậy thì là con người không đáng kể nữa ! Thần minh ở gần, trời và mặt trời khó dối, các ngươi có thể đem mình để thử pháp luật chăng ? Hãy cố gắng lên !”


    Vua ngoảnh bảo thị thần là Nguyễn Khoa Minh và Trương Đăng Quế rằng : “Ta thường thắc mắc về việc dùng người. Đại để, dùng khoa mục để kén lấy kẻ sĩ, vẫn là đường chính. Nhưng cái sở học của họ lại khác với sở hành. Thí dụ như Trịnh Đường ban đầu làm Tri huyện, do một việc lấy thuyền tre, giả làm voi, đẩy lui được giặc, được ta tri ngộ, nhắc lên chức Tuần phủ. Thế mà lúc nước nhà hữu sự. Đường lấy cắp tiền công. Đó há chẳng phải là người khoa mục đấy ư ? Xưa, Vương An Thạch nhà Tống là chân tiến sĩ cập đệ, đọc hết sách cổ, sách kim, nhưng xét đến thi thố sự việc thì rút cục có bổ ích gì ? Nay các thuộc viên các Bộ, các Viện, người miền Nam không nhiều bằng người miền Bắc. Có lẽ về văn học Nam Kỳ mới chớm nở, đỗ đạt còn ít, từ khi mở khoa thi tiến sĩ đến nay mới có một mình Phan Thanh Giản đỗ. Nếu cứ câu nệ có khoa mục mới dùng thì sau đây mấy chục năm nữa, vẫn đều là người Bắc được bổ dụng, còn người miền Nam, do đâu mà được liệt vào sổ làm quan ? Vậy, từ nay phàm người miền Nam nào là mẫn cán, thì bất cứ có khoa mục hay không, các ngươi nên tùy tài mà đề bạt cất nhắc, để đủ người dùng vào việc nước”.


    Định rõ điều lệ thi Hương.


    Bộ Lễ tâu : “Thể trong phép thi đã được sửa đổi. Năm nay chính là năm đến khoa thi Hương, xin châm chước nghĩ định các điều khoản thể lệ thi, chép thành điển lệ để tuân hành lâu dài :


    (Một – Trường Thừa Thiên, sĩ tử các tỉnh từ Quảng Bình trở vào Nam đến Phú Yên, thi chung ;


    Trường Gia Định, sĩ tử các tỉnh từ Khánh Hòa trở vào Nam, thi chung ;


    Trường Nghệ An, sĩ tử hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, thi chung ;


    Đều lấy các ngày 1, 6, 12 tháng 7 nhập trường, ngày 23 yết bảng.


    Trường Thanh Hoa, sĩ tử hai tỉnh Thanh Hoa, Ninh Bình, thi chung ;


    Trường Hà Nội, sĩ tử các tỉnh Hà Nội, Sơn Tây, Bắc Ninh, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên, Lạng Sơn và Cao Bằng, thi chung ;


    Trường Nam Định, sĩ tử các tỉnh Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương và Quảng Yên, thi chung ;


    Đều lấy các ngày 1, 6, 12 tháng 9 nhập trường, ngày 23 yết bảng.


    Ngày hôm [yết bảng] ấy, ban mũ áo, ngày hôm sau, cho ăn yến.


    Hai – 3 tháng trước kỳ thi, các giáo thụ, huấn đạo thi thử một lượt các học trò ứng thí trong hạt mình, rồi chuyển giao cho thượng ty Học chính sát hạch lại. Nơi nào chưa đặt giáo thụ, huấn đạo thì các viên phủ, huyện làm thay ; nơi nào chưa đặt đốc học thì do đốc học ở gần kiêm lĩnh. Nếu có những quyển viết không thành văn hoặc để quyển trắng hay không đủ quyển, thì tùy theo nhiều, ít, sẽ liệu xét hỏi, nghĩ xử. Rồi hội lại làm thành danh sách đệ đi, hạn trước trung tuần tháng 2 đã phải tới Kinh.


    Ba – Những sĩ tử du học ở các tỉnh thì về nguyên quán ứng thí. Duy những người ở Biên Hòa trở vào Nam, hoặc sinh trưởng ở kinh kỳ, và những nơi huyện Tống Sơn cư trú từ Quảng Bình trở vào Nam đã được lâu đời, thì cho phép được phụ thí [tại chỗ mình ở].


    Bốn – Trước kỳ thi một tháng, quan chức nơi sở tại các trường thi phải may sẵn mũ áo cử nhân : Thừa Thiên, Nghệ An mỗi trường 35 bộ ; Gia Định, Thanh Hoa, mỗi trường 25 bộ ; Hà Nội, Nam Định, mỗi trường 40 bộ.


    Năm – Chủ khảo trường thi, phải chọn quan nhị phẩm ; phó chủ khảo, phải chọn quan tam phẩm, mỗi trường một viên. Giám khảo, phải chọn quan tứ phẩm ; Hà Nội, Nam Định mỗi trường 2 viên ; các trường Thừa Thiên, Gia Định, Thanh Hoa, Nghệ An mỗi trường 1 viên. Đề điệu, chọn quan tứ phẩm ; phó đề điệu, chọn quan ngũ phẩm, mỗi trường 1 viên. Phân khảo, chọn quan ngũ phẩm ; các trường Thừa Thiên, Nghệ An, Hà Nội, Nam Định, mỗi trường 2 viên ; Thanh Hoa, Gia Định, mỗi trường 1 viên. Phước khảo, chọn quan ngũ, lục phẩm ; Hà Nội, Nam Định, mỗi trường 8 viên ; Thừa Thiên, Nghệ An, mỗi trường 6 viên ; Thanh Hoa, Gia Định, mỗi trường 4 viên. Sơ khảo, dùng quan thất, bát phẩm, và những cử nhân chưa được bổ ; Hà Nội, Nam Định, mỗi trường 14 viên ; Thừa Thiên, Nghệ An, mỗi trường 12 viên ; Thanh Hoa, Gia Định, mỗi trường 6 viên. Lại xin chọn các viên khoa đạo sung làm giám sát công việc trường thi, mỗi trường 2 viên, chuyên kiểm sát các việc Nội trường và Ngoại trường, nếu thấy những việc gian lận, thì cứ thực chỉ tên mà hặc. Còn như các việc chấm quyển thi và cân nhắc lấy hay bỏ, thì không được dự. Rồi, ở Ngoại trường, phía sau nhà thí viện và ở Nội trường, phía sau phòng quan giám khảo, mỗi nơi làm thêm một phòng quan giám sát để tiện việc ăn ở.


    Sáu – Các viên mật sát và thể sát ở Nội trường và Ngoại trường đều dùng các viên cai đội. Thừa Thiên, Hà Nội, Nam Định, mỗi trường 4 mật sát và 8 thể sát ; Gia Định, Nghệ An, Thanh Hoa, mỗi trường 4 mật sát và 4 thể sát.


    Bảy – Về số lại điển : Thừa Thiên, Hà Nội, Nam Định, mỗi trường 40 viên ; Gia Định, Thanh Hoa, Nghệ An, mỗi trường 30 viên. Các số lại điển này, cứ một nửa theo chủ khảo, một nửa theo đề điệu để làm việc.


    Tám – Cả 3 kỳ đều theo văn thể mới định. Đến kỳ thứ 3 là kỳ thơ, phú thì : Thơ lấy vần chữ gì, phải sao những chữ thuộc về vần ấy cho yết thị cùng với đầu bài ; về phú, có trên, dưới hai vần, thí dụ : “đông” [phương đông] với “đông” (mùa đông), “chi” với “vi”, “ngữ” với “ngự” và “ngỗ” với “ngộ”… thì cho được thông dụng.


    Chín – Quan đề điệu sức cho các lại dịch thuộc quyền, đóng riêng một quyển sổ ghi danh sách các thí sĩ, tên nào thuộc số hiệu nào, chua ngay vào dưới tên trong sổ cho rõ ràng, để tiện nhận xét. Cứ mỗi kỳ, chủ khảo duyệt xong quyển thi, lại giao cho nhận giữ. Đến kỳ thứ 3, phải kiểm kỹ số hiệu, đem 3 quyển của mỗi người đính lại làm một đệ lên chủ khảo để xét lấy số quyển lấy đỗ hoặc đánh hỏng, xong rồi lại giao trở lại để dán tên vào [tức là hợp phách].


    Mười – Các quan trong viện thi, cứ mỗi khi đề điệu để quyển thi đến, thì chuyển giao cho quan giám khảo ở nội trường để chia cho các viên sơ khảo chấm, xét phê hạng ưu, bình, thứ, liệt, ký tên vào quyển đã chấm rồi trả lại. Viên giám khảo lại đem những quyển trúng kỳ sơ khảo ấy giao cho Phước viện ; còn những quyển hỏng để lại ở viện giám khảo. Các viên Phước khảo chấm xong, cũng xét phê các hạng ưu, bình, thứ, liệt, rồi ký tên và trả lại. Viên giám khảo lại đem tất cả quyển trúng, quyển hỏng do Phước viện chấm, cùng với những quyển hỏng do viện sơ khảo chấm, đều duyệt lại một lượt, xét phê các hạng ưu, bình, thứ, liệt, rồi ký tên vào quyển nộp trả quan chủ khảo ở thí viện. Chủ khảo xét duyệt lại, chia thành thứ tự hơn kém rồi cân nhắc lấy hay loại. Ba quyển đều được ưu là tột bậc, hai quyển ưu, một quyển bình là hạng nhất, hai ưu, một thứ, hay một ưu, hai bình là hạng nhì, cứ thế mà suy ra. Tựu trung kỳ thứ ba [tam trường] là quan trọng, rồi thứ đến kỳ thứ hai [nhị trường] và kỳ thứ nhất [nhất trường].


    Mười một – Các quan ở Nội trường và Ngoại trường không được tự tiện ra vào, viện sơ khảo và viện Phước khảo không được tự tiện đi lại với nhau. Nếu không có việc công mà vì tư tình, đến thăm nhau, đánh bạc hay chơi đùa đều có tội.


    Mười hai – Quan trường cùng với sĩ tử thông đồng gửi gắm thì quan trường bị giáng hoặc cách, sĩ tử nếu phạm thì khép phạt trượng và tội đồ. Mượn người gà văn hoặc gà văn cho người đều bị sung quân. Lại điển cùng với mật sát và thể sát làm bậy cũng bị khép phạt trượng và tội đồ.


    Mười ba – Những tú tài khoa trước mà tự tiện bỏ không vào thi, sẽ bị cách mất tú tài ở sổ khoa cũ ; nếu dự thi mà không viết đủ quyển hoặc để quyển trắng cũng bị cách như thế.


    Ngoài ra, các khoản cung ứng, cấp phát đại lược vẫn theo lệ cũ).


    Vua theo lời nghị. Duy việc cử khoa đạo đi giám sát việc trường thi, thì cho để lúc tới kỳ thi sẽ đặc biệt phái đi, không phải ấn định trước. Việc làm phòng ở cho các giám sát cũng đình chỉ.


    Lại cho rằng : Năm ngoái, sáu tỉnh Nam Kỳ nhân có biến động, học trò không thả sức học tập, nên chuẩn cho văn bài thi khoa này hãy còn tùy ý theo mới hay cũ. Khoa sau sẽ theo đúng thể thức mới.


    Cho hoãn các thứ thuế đinh, điền và thuế thổ sản biệt tính, biệt nạp của tỉnh Gia Định đến tháng 6 mới thu.


    Thăng chức Giám đốc Nội tạo lên trật Chánh tứ phẩm (trước Tòng tứ phẩm). Đặt thêm chức Phó giám đốc, trật Tòng tứ phẩm. Dùng Cai đội Hoàng Văn Lịch làm Phó giám đốc, hiệp cùng Giám đốc Trần Văn Hiệu, sung làm Đốc công ở công xưởng Vũ khố. Lệ cũ, lấy Lang trung làm chức Đốc công. Từ đây bỏ đi.


    ở Gia Định có 2 chiếc thuyền người nhà Thanh đến buôn bán, hành khách đến 800, 900 người. Vặn hỏi thì họ đều muốn cứ ở lại trong thuyền. Quan tỉnh đem việc tâu lên.


    Vua dụ rằng : “Năm ngoái, tên giặc Khôi làm phản, có nhiều người nhà Thanh a dua, mang lấy tội chết. Nay bọn khách đáp thuyền này đến đây, lại không có bang trưởng chịu trách nhiệm cam kết bảo đảm. Vậy truyền chỉ cho bọn thuyền hộ : lần này là lần đầu lầm lỗi, triều đình hãy tạm tha thứ, không nghiêm trách. Từ nay, phải bảo nhau : nếu là những người có vật lực đi buôn thì mới được đáp thuyền đến trao đổi mua bán. Còn cứ chở đến hàng trăm hàng nghìn những quân vô lại du côn, lỡ xảy ra việc lôi thôi thì phạm nhân tất bị xử tử, mà thuyền hộ cũng bị trị tội nặng và của cải trong thuyền đều bị sung công. Nay hạn cho trong tháng tư, phải quay buồm về, nếu cố ý để hành khách lưu lại kéo lên bờ gây sự, thì thuyền hộ tất bị chém đầu, không tha”.


    Sai Giám thành đội trưởng Trương Phước Sĩ cùng thủy quân hơn 20 người đi thuyền đến đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ. Khi trở về, vua hỏi về những thứ sản vật ở đấy, Sĩ tâu : “Nơi này là bãi cát giữa bể, man mác không bờ, chỉ có người nhà Thanh đi lại đánh cá bắt chim mà thôi”. Nhân đem dâng vua những thứ chim, cá, ba ba, ốc, sò ngao, đã bắt được ở nơi đó, đều là những vật lạ,


    ít thấy.


    Vua vời thị thần đến xem và thưởng những người đi về, tiền, bạc có khác nhau.


    ở Sơn Tây có bọn giặc hơn nghìn tên lén phát ở huyện An Lãng, phủ Vĩnh Tường. ở tỉnh phái lấy Lãnh binh Đoàn Văn Cải mang lính và voi, đốc thúc các phủ, huyện, tổng, lý sở tại hiệp sức cùng đi nã bắt, chém được hơn 10 tên đầu đảng. Đồng tri phủ Vĩnh Tường là Nguyễn Trù cách một ngày sau mới dẫn quân đến. Quan tỉnh là Hoàng Văn Trạm đem tình hình tâu lên và hặc Nguyễn Trù.


    Vua dụ thưởng cho quan quân tiền bạc có khác nhau. Giáng Nguyễn Trù xuống 4 cấp và sai quan tỉnh tiếp tục điều khiển 400, 500 thổ dõng chia đi bắt giặc. Lại truyền dụ : “Đoàn Văn Trường, Tổng đốc Hà - Ninh, điều khiển một vệ lính thú ở Ninh Bình giao cho Phó lãnh binh Vũ Đình Quang kiêm lĩnh, rồi mang đi tuần tiễu ở con đường giữa quãng Hà Nội giáp Sơn Tây và Ninh Bình. Và Tổng đốc Định – Yên là Đặng Văn Thiêm, nếu tiếp được tin cấp báo của Hà Nội, Ninh Bình, thì phải lập tức phái binh đến hội tiễu không được coi là biệt hạt”.









    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển cxxiii



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Giáp Ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15 [1834], mùa xuân, tháng ba. Toán giặc ở đạo Thái Nguyên, tràn xuống Chợ Rã, Chợ Mới. Phó lãnh binh Nguyễn Văn Ưng lui về đóng ở đồn Chợ Đu, kíp báo Tổng đốc Nguyễn Đình Phổ cho thêm quân đi ngăn chặn. Phổ tạm phái Lãnh binh Trần Đình Di mang 100 quân đi. Lại tư lấy ở Hà Nội và Nam Định, mỗi tỉnh 500 quân tinh nhuệ và 3 thớt voi trận chờ khi tới nơi sẽ thân mang đi sau. Rồi làm sớ tâu lên.


    Vua dụ rằng : “Bọn giặc này, sau khi Nguyễn Mưu bị bại, ý muốn lan rộng ra. Cần phải kíp tiêu diệt cho được tỏ rõ sự trừng phạt. Việc điều thêm binh lính và voi ở Hà Nội và Nam Định cũng hợp lý. Vậy kíp tuân dụ trước, xuất phát ngay mà tùy cơ đánh dẹp. Còn như tỉnh Bắc Ninh là nơi xung yếu, cũng nên cho phòng bị trước. Nếu Trần Đình Di tòng chinh đắc lực thì cho mang đi theo mà sai Lãnh binh Thái Nguyên là Tống Văn Trị giữ tỉnh thành Bắc Ninh ; nếu Tống Văn Trị đắc lực thì cho Trị đi theo mà sai Trần Đình Di trở về Bắc Ninh”.


    Tổng đốc Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ đạo Tuyên Quang tiến đến đầu hạt Vị Xuyên. Thám thính biết được đảng giặc từ khi An Biên thất thủ, ngày một lan dần xuống mặt trước châu Vị Xuyên và địa phận châu Đại Man. Chúng chia đóng đồn trại, mưu đồ chống cự. Bọn Đức liền bàn nhau, chia làm hai đạo : Đức do đường Vị Xuyên, Trứ chuyển đi lối Đại Man, đều mang theo vài ba ngày lương, tiến quân lên đường.


    Quân Đức qua Hoàng Mai (tên xã) được tin thuyền lương đã đến bến Phù Loan (tên xã), bèn để Lãnh binh Trần Hữu án ở lại đón, hộ tống lương theo quân. Khi
  • Chia sẻ trang này