0061.0013

26/1/16
0061.0013
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    đến Bằng Hành và Ngọc Liễu (đều tên xã), giặc ở trong rừng chỗ 500, chỗ 300, chia nhau nấp bắn súng ra. Nguyễn Văn Quyền trong toán quân đi trước đốc quân sấn đánh, chém được một thủ cấp, còn thì chúng trốn cả. Thổ ty Ma Tường Huy cũng bắn chết được một tướng giặc và đoạt được khí giới, nghi trượng. Bấy giờ tiếp được thư Nguyễn Công Trứ nói quân của Trứ đến đồn Phước Nghi, theo tả ngạn sông Ngâm (tức Gâm), thẳng tiến. Khi qua Kim Tương, Năng Khả (đều tên xã) đều có giặc mai phục chặn đường. Thổ dõng ở đạo quân đi trước đánh chém được một thủ cấp, giặc liền tan chạy. ở Như Hương (tên đất) bên kia bờ sông, báo có Phó tướng giặc là Nguyễn Đình Chu từ phía Thái Nguyên, hợp với Nguyễn Quang Thiêm là em Thống chế giặc Nguyễn Quảng Khải, lập ra 3 đồn và có đồ đảng đến hơn nghìn tên. Bọn thần hiện đương cho làm bè sang sông đánh phá đảng giặc này, rồi xông thẳng đến Côn Lôn (tên xã), san phẳng sào huyệt của Quảng Khải thì mới có thể hội quân được.


    Đức đem mọi tình hình tâu lên và nói : “Hai đạo tiến quân, cần phải liệu chừng độ đường, thông báo lẫn với nhau để tiến dần, lần lượt tiễu trừ rồi cùng hội quân lấy lại đồn An Biên. Rồi lại chia đường thẳng đến Vân Trung hợp sức tiễu giặc. Như vậy e không khỏi mất nhiều ngày giờ”.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Quan quân đạo này tiến dẹp thổ phỉ, tuy chưa chém giết được lớn, nhưng đều đã có bắt, có giết được giặc, cũng đã là gây được tiếng tăm. Thổ ty Ma Tường Huy trước có công bắt giặc, đã được thưởng thụ chức đội trưởng ; nay lại giết được tên đầu sỏ giặc. Vậy lập tức thăng thụ cho Huy chức Cai đội thuộc tỉnh ấy. Lại truyền Chỉ cho các thổ ty, ai hay giết được giặc, lập công, cũng chiếu theo đó mà khen thưởng để họ cảm kích phấn khởi.


    “Lại nữa, năm ngoái hành quân phần nhiều chậm trễ để giặc được rảnh rang, thành ra vô công, ngày nay lại đến, cần phải kiêng răn điều đó. Huống nay đạo quân Cao Bằng đánh giặc thắng luôn, hiện đương quay lại chờ ngày quây bắt. Cơ hội ấy không nên bỏ lỡ, vậy cho phép Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ đốc sức binh dõng trừ diệt cho sớm những dư đảng giặc ở lân cận, rồi thừa thắng ruổi dài, cùng các đạo hội quân, xông thẳng tới Vân Trung, bắt chém đầu đảng giặc để chuộc tội trước.


    “Duy quân lương là việc tối khẩn yếu, nên đã dụ sai Trần Ngọc Lâm và Hồ Sĩ Lâm ở Tuyên Quang, một trong hai người này phải thân đi đốc thúc vận tải, nếu đường núi xa xôi trở ngại, lương chưa tới ngay được, mà phải đến dân gian mua thóc gạo, thì liệu trả giá cao cho dân ; lại nghiêm sức quân lính đến đâu không được xâm phạm mảy may của dân, khiến dân vui lòng mang bán cho, để được đủ dùng khi cần.


    “Sai Đặng Kim Giám, Giám sát Ngự sử đạo Trị – Bình, đi Tuyên Quang, hội với bọn Trần Ngọc Lâm đốc vận lương quân.


    “Lại dụ Hà Nội và Nam Định, mỗi tỉnh phái một quản cơ đắc lực, mang theo độ 400, 500 biền binh, riêng Hà Nội phải vát thêm hơn chục chiếc thuyền, cho cùng theo đi vận lương”.


    Tổng thống đạo Cao Bằng là Tạ Quang Cự tâu : “Những quan quân tiễu giặc ở thượng du : đạo quân giữa, Tham tán Vũ Văn Từ tiến đến núi Mã Hồi, phá liền được hơn 20 trại giặc, hiện đóng quân ở sơn phận núi Trung Thảng ; đạo quân hữu là Tuần phủ Lê Đạo Quảng tiến đóng Sóc Giang ; đạo quân tả, Phó lãnh binh Văn Hữu Xuân tiến đóng Lương Năng. Giặc đã rút khỏi các nơi này, nhưng còn dựa những chỗ hiểm yếu, đóng giữ mạn Thông Nông trở lên giáp Bảo Lạc. Vừa được tin báo đạo quân Thái Nguyên thua, giặc đóng ở Linh Quang ước 3.000 tên chực lấn xuống Cao Bằng. Thần đã truyền hịch điều Văn Hữu Xuân quay về Gia Bằng án ngữ và mật tư cho Vũ Văn Từ và Lê Đạo Quảng đều biết. Rồi thần lại lập tức trở lại đồn Nhượng Bạn cho được gần để điều khiển”.


    Vua dụ rằng : “Đại quân do ngươi thống lĩnh, thực nhiều hơn so với các đạo khác, lại được Lê Đạo Quảng và biền binh sung sức ở vệ Nghĩa võ đến trợ chiến thì đánh dẹp lũ giặc ô hợp ấy, phỏng có khó gì ? Thế mà trước giờ cứ loanh quanh ở vùng Trung Thảng và Nhượng Bạn, không tiến được một tấc. Kéo dài ngày giờ như vậy, thì đến bao giờ xong việc ? Trước đây, Thái Nguyên ngẫu nhiên thất bại, đã có Chỉ cho Nguyễn Đình Phổ tiến về tỉnh thành và vát thêm biền binh tùy cơ diệt giặc. Bọn Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ đạo Tuyên Quang cũng đã đi đường gần tới An Biên rồi. Ngươi nên đốc sức khuyến khích binh dõng, phòng giữ Cao Bằng, rồi hội với Vũ Văn Từ và Lê Đạo Quảng tập hợp binh lực cho hùng hậu. Trước hết xông thẳng vào sào huyệt giặc ở Ngọc Mạo và Vân Trung, làm cho giặc có cái lo ngoái về phía sau, khiến hai đạo Tuyên Quang, Thái Nguyên cũng có thể nhân đó tiến đến hội binh, thì lo gì chẳng thắng ? Nếu cứ loanh quanh trông ngóng, e rằng như người đắp núi, thiếu một sọt đất, công phu từ trước sẽ hỏng cả. Chẳng nên cố gắng lắm sao ?”.


    Kinh lược đại sứ Nguyễn Văn Xuân, Phó sứ Phạm Văn Điển đạo Trấn Ninh, thuộc Nghệ An dâng sớ nói : “Dân hạt ấy đã được chiêu dụ về, nhưng sau lúc loạn ly, lòng người chưa ổn định, nên có trọng binh đóng để trấn áp. Bọn thần đã ủy Lãnh binh Vũ Văn Thuyên lĩnh 500 biền binh đóng lại. Rồi rời quân qua lối Kỳ Sơn nhằm đường thẳng tiến Trấn Tĩnh.


    Vua phê : “Tình hình hiện nay không thể làm thế nào khác. Xếp đặt như thế cũng phải”. Rồi sai truyền dụ Nguyễn Đình Tân và Vũ Đĩnh rằng : “Trấn Ninh mới qua cơn binh lửa, dân chưa được an cư, mà quân ta đóng nhiều ở đấy, lương thực rất là khẩn yếu. Các ngươi nên trù tính ngay việc chuyển vận lương thực cho quân lính ở đó. Lại chọn lấy một viên thông phán, kinh lịch, hoặc phủ, huyện được việc, phái đến đó lưu tâm phủ dụ nhân dân cho chóng được êm thấm, rồi rút ngay về toán quân đóng đàn áp ở đấy, không nên để ở lâu. Lại phải tuân dụ trước, cho đặt người quyền làm việc phủ để chiêu dụ dân về ở yên như cũ”.


    Lại sai truyền dụ Nguyễn Văn Xuân : “Trước cho rằng nhà ngươi già yếu, nên có dụ nói khi mang quân về đến tỉnh lỵ thì lưu lại tỉnh làm việc. Nay cứ tờ tâu thì ngươi đã cùng với Phạm Văn Điển chuyển quân thẳng tới Trấn Tĩnh. Nay cho tự xét nếu khí lực còn mạnh, có thể đảm đương việc quân thì cùng hội tiễu cho việc quân chóng hoàn thành ; nếu thấy sức đã suy kém, thì tuân theo dụ trước, ở lại làm việc tỉnh, để an dưỡng tuổi già một thể. Trẫm cũng không nỡ bắt buộc nhà ngươi phải đi trận mạc vất vả đâu. Còn việc tùy cơ đánh dẹp ở Trấn Tĩnh, chuyển giao cho Phạm Văn Điển cũng đủ được việc”.


    Nguyễn Văn Xuân tiếp được Chỉ dụ, dâng sớ nói : “Đương lúc biên thùy hữu sự này, thần tuy khí lực đã suy, nhưng tấm lòng khuyển mã còn mong báo đáp. Xin cùng Phạm Văn Điển hội nhau làm việc quân”.


    Vua lại dụ Xuân rằng : “Nhà ngươi tuổi già, chí khí vẫn hăng. Đã khảng khái xin đi thì nhất định có thể thành công được. Nay toán lớn giặc Xiêm ở địa phận Chân Lạp đã bị quan quân đánh bại, trốn xa rồi, thì dư đảng ở một dải Trấn Tĩnh, thế tất cũng sẽ trốn, quyết không thể ở lâu được. Huống chi những biền binh do bọn Quản vệ ở Kinh là Lê Văn Phú và Quản vệ Thanh Hoa là Đào Văn Nghị mang đi, chắc cũng đã gặp nhau đông đủ rồi. Với ba, bốn nghìn quân tinh nhuệ và sung sức như thế, giặc nào dám chống lại ? Khi nhận được Chỉ, phải lập tức tiến quân đánh giết thực mạnh, khiến nước kia vĩnh viễn không dám quấy nhiễu biên giới ta”. Bèn sai thị vệ mang phát cho nhân sâm và hồng sâm Cao Ly hạng tốt nhất mỗi thứ 3 chi. Lại giao cho dầu bạc hà và rượu ngự phong mỗi thứ 20 lọ, để phân phát cho quan quân trị bệnh.


    Nguyễn Khả Bằng, Tuần phủ Thanh Hoa tâu : “Thám tử của tỉnh đi đến đầu địa giới Chấp Yết (tên tổng) huyện Trình Cố, trước mặt có quân lính giặc ngăn trở. Thám tử được tin quân Xiêm man ở đồn Ninh Biên xua đuổi cướp bóc dân biên giới Hưng Hóa, ý muốn lấn sang địa phận phủ Trấn Man. Ba huyện sở tại đã điều động hết thổ binh, độ 2000 người, ra ngăn chặn. Họ đều tình nguyện ra sức chống đánh, quyết không theo giặc. Quản phủ Thọ Xuân là Lê Phi Ba cũng đã mang quân đến tiếp ứng”.


    Vua dụ rằng : “Nam Chưởng là nước nhỏ có lực lượng gì, chẳng qua bị người Xiêm lừa dỗ mà dọa nạt dân ngoài biên. Hiện nay những giặc Xiêm xâm lấn ở các vùng Chân Lạp, Hà Tiên, Châu Đốc và địa phận Cam Lộ, Trấn Ninh đều đã bị quan quân bắt chém đánh tan, đuổi ra khỏi cõi. Những kẻ ở Nam Chưởng xúi giục gây sự kia, sớm muộn cũng tất phải rút đi thôi ! Vả lại, binh dõng của Lê Phi Ba hiện đã tiến lên, đủ làm thanh thế rồi. Ba huyện thuộc Trấn Man lại cùng ra sức chống đánh, sự cơ chắc cũng thuận lợi. Vậy, nên nhân dịp, phái ngay người đến các thổ ty truyền Chỉ ban khen, và báo cho họ biết rõ về tin quan quân các đạo đánh lui giặc Xiêm để họ thêm hăng hái. Rồi lại phao ngôn lên là mấy vạn quân bất nhật sẽ tiến đến, nhất định diệt nước Nam Chưởng mới thôi, để giặc nghe thấy hoảng sợ, tự phải rút đi”.


    Tham tán Nguyễn Xuân, Tán tương Trương Phước Đĩnh, đạo Nam Vang, kéo quân đến đóng ở vụng Xà Năng. Cứ tin thám báo, thì tướng Xiêm là Phi Nhã Trạc, Phi Nhã Xá Liên, còn đóng ở Lô Gò Vật. Những đồn giặc ở Bông Xui đều đã thiêu hủy. Bọn Xuân bèn sai quan Phiên là ốc Nha Trà Tri Long sửa chữa đồn cũ Bông Thơm, cai quản 1000 lính Phiên đóng giữ. Rồi bọn Xuân đem ngay binh thuyền về thành Nam Vang hội bàn với Trương Minh Giảng. Trích lấy các vệ lính Kinh hiện theo đi trận cùng với thuộc hạ của Thái Công Triều và hương dõng các tỉnh hơn 2000 người, với 42 chiếc thuyền, cho theo Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân, đóng tại Nam Vang đàn áp và trù tính làm việc quân cơ ; 1600 binh dõng với 36 chiếc thuyền, thì cho theo Trương Phước Đĩnh đem về quân thứ Gia Định. Hơn 60 tù binh giặc hiện bị giam giữ, hễ tên nào là người Chân Lạp theo giặc thì giao cho vua Phiên trừng trị để răn mọi kẻ khác. Còn những người Xiêm thì lập tức đem chém ở trước quân. Rồi làm sớ tâu lên.


    Vua phê : “Xử trí đều phải cả. Duy Thái Công Triều thì cũng cho mang hương dõng về Gia Định, theo các Tướng quân, Tham tán ra sức đánh thành Phiên An”. Vừa lúc đó thì thự phủ An Giang là Lê Đại Cương đến, cùng nhau ký tên vào tập tâu, cho rằng việc kinh lý biên cương hiện nay cần phải có tướng võ đắc lực giúp đỡ để khi cánh tay đưa ra thì các ngón tay đều theo. Thái Công Triều trước giờ tòng chinh khá thạo việc quân cơ, mà lại am tường nhân tình địa thế nước Phiên. Vậy xin cứ để cho Triều lưu lại Nam Vang để theo đòi bàn bạc mà làm việc. [Vua] bèn cho Thái Công Triều quyền sung Lãnh binh An Giang.


    Vua dụ bộ Hộ rằng : “Về việc nên cấp tiền, gạo cho các quan văn võ trong khi đi dẹp giặc, trước đã chuẩn y lời bàn của bộ, chia hạng châm chước cấp phát cho. Vì nghĩ rằng các quan văn võ quân thứ Gia Định và Nam Vang, tòng chinh đã lâu ngày, nếu nhất thiết theo lệ định, thì nhu phí hàng ngày lấy đâu cho đủ ? Nay gia ân : từ Tướng quân, Tham tán đến suất đội, về kỳ tháng 4, lại được thêm tiền lương một tháng, chiếu theo phẩm trật mà lĩnh cả.


    Bố chính Nguyễn Đình Tân và án sát Vũ Đĩnh tỉnh Nghệ An tâu : “Lũ ấp Ma Hạt ở huyện Cam Lĩnh thuộc phủ Trấn Định báo có giặc Xiêm xâm lấn các huyện Cam Cát, Cam Môn, thiêu hủy nhà dân. Bọn chúng đương vát thổ dân lập đồn nghiêm phòng ở Na Nùng (tên đất). Vả, các huyện thuộc Trấn Định ở hẻo lánh một khu, xen vào quãng giữa Trấn Ninh, Trấn Tĩnh. Trước đây, quân Xiêm xâm lấn, quan quân đã đánh lui, địa phương được yên ổn, sau đó lại rút quân về, chỉ để 100 biền binh đóng ở bến sông để phòng ngừa. Gần nay, không thấy tăm hơi quân giặc. Nay đột nhiên lại có cấp báo, thực lấy làm ngờ. Hoặc giả người Xiêm thám thấy đại đội quan quân dồn lực lượng vào Trấn Ninh và Trấn Tĩnh, nên mới bày trò đó ở Trấn Định để nhằm chia xẻ binh lực của ta chăng. Thiết tưởng cũng không nên phái nhiều quân đến chống giữ. Bọn thần hiện đã ủy phó Vệ úy vệ Phấn võ là Tống Phước Mai mang 100 biền binh, kiêm lãnh cả số biền binh đóng ở bến sông, chọn chỗ đóng lại. Khi nào đại quân tiến đến Trấn Tĩnh đánh dẹp, thì đi ngay tiếp ứng”. Vua cho là phải.


    Lãnh binh Tuyên Quang là Trần Hữu án đi hộ tống 5 chiếc thuyền lương, tiến đến chỗ bờ sông Chương Khê (tên xã), bỗng có hơn 500 giặc từ trong rừng trổ ra nã súng, đón cướp thuyền. Biền binh tan vỡ. án bị thương, cũng lội sông chạy. Duy có một chiếc thuyền của thuyền hộ Đoàn Văn Giới chặt trước được dây buộc thuyền, buông xuôi theo dòng, được thoát, còn đều bị giặc lấy mất. Bố chính Trần Ngọc Lâm và án sát Hồ Sĩ Lâm được tin báo, đem việc tâu lên.


    Vua phê : “Xem tờ tâu, rất tức giận ! Các ngươi không được một mưu lược gì giúp nước, thật không đáng kể là người nữa !”. Lại xuống dụ rằng : “Lê Văn Đức mang đại binh tiến lên, về việc quân lương đã có Chỉ khuyên bảo phải tận tâm hộ vệ vận tải, vậy mà nay giặc còn dám thừa cơ cướp đoạt mất lương. Trách nhiệm tuy thuộc về kẻ đi đốc suất hộ vệ, nhưng vì điều khiển sai lầm thì tổng đốc và bố chính, án sát cũng khó tránh được lỗi. Nay cách chức Trần Hữu án và suất đội đi chuyến ấy, cho làm lính ; phạt lính mỗi tên 100 trượng, và cho tòng quân gắng sức chuộc tội. Lê Văn Đức phải giáng 2 cấp, Trần Ngọc Lâm và Hồ Sĩ Lâm mỗi người bị giáng 1 cấp. Còn như cả đoàn thuyền bị cướp, mà riêng một chiếc thuyền lương của thuyền hộ Đoàn Văn Giới lại kíp quay lại được, không để thất thoát gì, thực rất đáng khen. Vậy thưởng cho Giới 5 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn.


    “Nay đương mùa mưa xuân, sông ngòi luôn đầy nước. Quân lương là việc rất khẩn thiết. Bọn Trần Ngọc Lâm và Hồ Sĩ Lâm phải lập cách thế nào mà vận tải lương thực đường thủy, đường bộ. Phải lấy nhiều biền binh, khí giới đi áp tải. Lại phải tư báo trước cho Tổng đốc, Tham tán để phái quân tiếp giải, cốt cho được mười phần chắc chắn. Nếu còn sơ suất như trước, hoặc để lỡ việc, tất chiểu quân pháp trừng trị”.


    Vua dụ Nội các rằng : “Trước kia, ở Tuyên Quang, tên thủ nghịch Nông Văn Vân khởi biến, lan đến các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng và Thái Nguyên. Sau, bị quan quân đánh bại, nó đã gọt đầu trốn tránh. Gần đây, nó lại họp đảng quấy rối. Nay quan quân ba đạo tiến đánh, giặc lại dám ẩn chỗ này, hiện chỗ khác, chống bên đông, đỡ bên tây. Há phải một mình nghịch Vân phân thân ra để chống cự được các nơi như vậy ? Tựu trung mỗi nơi tất phải có một đầu đảng chủ mưu và độc lập tác chiến ! Vậy truyền dụ cho Tổng thống Tạ Quang Cự, Tham tán Vũ Văn Từ đạo Cao Bằng, Tổng đốc Lê Văn Đức, Tham tán Nguyễn Công Trứ đạo Tuyên Quang và Tổng đốc đạo Thái Nguyên Nguyễn Đình Phổ : ai nấy phải xem từ trước đến nay, nếu như có bắt sống được tên giặc nào, thì phải hỏi rõ tình hình của giặc, hay là phái nhiều người thổ đi bí mật do thám, xem ngoài tên Nông Văn Vân ra, còn lũ Nguyễn Quảng Khải, Lưu Trọng Chương, Bế Văn Cận, Bế Văn Huyền, Nông Văn Sĩ, Nông Văn Thạc, tất cả có bao nhiêu tên, tên nào ở đạo quân nào, cho chí những việc tiếp ứng, hiệu lệnh, người ta hưởng ứng ra sao, đạn dược quân nhu tìm lấy ở đâu… Cần hỏi cho đích xác rồi tâu rõ cho biết nguyên ủy. Lại phải sai phái nhiều người thổ trước, đi khắp nơi truyền bảo : trừ tên nghịch Vân tội ác quá nặng, pháp luật không thể tha ra, còn từ Nguyễn Quảng Khải trở xuống, nếu sớm biết hối cải, bắt hoặc giết tên Vân đem nộp, sẽ được tha hết tội trước ; nếu còn mê muội, cố sức giúp nhau làm bậy, thì cái tội hùa đảng làm ác khó lọt khỏi lưới trời. Chẳng những chết đến thân, mà thế nào cũng vạ lây đến vợ con, ăn năn sao kịp.


    “Còn đối với các thổ dân, thì nên tìm hiểu cách hiểu dụ rằng : Các người đều là con đẻ của triều đình, trước đây bị giặc ép theo, cũng là vì bị bức bách trên ngọn lửa bỏng, chẳng phải bản tâm muốn đâu. Lại vì quan địa phương không biết tuyên dương ý muốn ban ơn đức của triều đình, không lấy gì để cho người ta tin, cho nên gần đây chưa có ai ra thú. Nay quân nhà vua kéo đến chỉ để diệt những kẻ đầu sỏ, chứ không trừng trị những người bị ép theo. Nếu các người hiểu biết lẽ thuận, lẽ nghịch, bắt hoặc chém kẻ nghịch phạm để dâng công, hoặc hướng dẫn quan quân đi đánh dẹp, thì không những được tha thứ tội trước, mà còn có hậu thưởng. Nếu quay giáo xin hàng hoặc bỏ về làng, xóm thì cũng rộng tha cho. Thảng hoặc cứ một niềm cam lòng bướng ngạnh, không theo giáo hóa, đặt mình ngoài vòng sinh thành, thì khi đại binh đã đến, như lửa dữ đốt Côn Cương((1) Do chữ Kinh Thư : lửa đốt Côn Cương, ngọc và đá đều bị cháy. ý nói : trước làn tên đạn, lương dân cũng như giặc đều bị nạn cả.1), hối cũng không kịp nữa !”.


    Lại dụ Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ rằng : “Những tên nghịch phạm ở Tuyên Quang, lâu nay còn trốn tránh, chưa bị giết, tức là công việc của các ngươi chưa xong. Lần này lại vâng mệnh đi đánh dẹp, nhận sự ký thác về quân lữ. Cơ mưu việc quân, ta tuy đã trù liệu nhiều phương lược, nhưng việc ở xa hàng mấy ngàn dặm, tình hình mỗi lúc thay đổi một khác, há có thể nhất nhất dự tính mà chỉ bảo trước được đâu ? Nay đặc cách cho phép các ngươi được tùy tiện làm việc : có cách đánh dẹp, có vỗ về, lúc nên tiến, lúc nên ngừng, cần phải trù tính kỹ và châm chước thế nào cho được đúng khớp, chủ yếu là phải mang về cho ta bốn chữ “Cập tảo thành công”((1) “Sớm được thành công”.1) thì mới khỏi phụ lòng ta ủy thác. Lại nữa, việc binh quý ở mau chóng. Phải sớm làm kịp thời cơ, tư ngay cho hai đạo Cao Bằng, Thái Nguyên đồng thời cùng tiến. Nếu làm được cho vang dậy oai quân, đánh tan được đảng giặc, khiến chúng hoảng sợ, lẩn trốn không dám trở lại chống cự nữa, thì cũng đã là thuyết phục được lòng kẻ gian, tỏ rõ được sự trừng phạt của nhà trời. Còn tên nghịch phạm Nông Văn Vân lén sống trong rừng rú, bất tất đợi nó đã bị bắt để làm án hay chưa, cũng chuẩn cho cả 3 đạo quân được rút về hát khải ca, không nên dùng dằng ở lâu mà nhiễm lam chướng”.


    Thự Lãnh binh Khánh Hòa là Nguyễn Văn Đa phạm tội, bị miễn chức.


    Văn Đa, mang binh thuyền đi tuần biển, gặp khi thuyền gặp người nhà Thanh bị bão, từ Quảng Nam bạt đến hải phận Cầu Huân, không chịu đuổi bắt. Quan tỉnh đem việc hặc tâu, Văn Đa liền bị cách chức, cho làm lính ở tỉnh ấy.


    Bọn nghịch phạm ở Gia Định là ngụy Tượng quân điều bát Nguyễn Văn Tâm, ngụy Thống lãnh Nguyễn Văn Chân và ngụy Đô quản lãnh Quách Ngọc Khuyến, khi tên giặc Khôi bắt đầu khởi biến, bọn này thông đồng với giặc, hoặc đem voi ra cưỡi, hoặc lừa mở cổng thành cho giặc. Khi quan quân tiến đánh, thế cùng, chúng ra đầu thú. Nguyên Tuần phủ Hà Duy Phiên xét rõ được tình hình, tâu lên. Chúng bị xiềng xích giải kinh giao đình thần nghiêm xét. Đến bấy giờ, án dâng lên, chúng đều bị khép vào tội lăng trì xử tử.


    Lễ bộ Tả thị lang Trần Văn Trung, Hồng lô Tự khanh Phan Thanh Giản, Hàn lâm viện Thị độc Nguyễn Huy Chiểu, sang sứ nhà Thanh về, được đổi bổ : Trần Văn Trung làm Lễ bộ Hữu thị lang, Phan Thanh Giản làm Đại lý tự Thiếu khanh, theo làm việc ở bộ Lễ.


    Cho : Hồ Văn Uy, Quản cơ, cơ Chính võ, làm Phó vệ úy, trật Tòng tam phẩm, sung Phó lãnh binh tỉnh Hải Dương ; Lê Phước Sơn, Quản cơ Tượng cơ Nam Định, quyền sung Phó lãnh binh Nam Định ; Trần Quảng Tứ, Quản cơ cơ Trung thủy, quyền sung Lãnh binh Thủy quân Nam Định.


    Cho : Hoàng Văn Viên, thự Vệ úy vệ Túc võ dinh Thần sách, làm Vệ úy vệ Cung võ. Thăng Nguyễn Tiến Tá, Phó vệ úy vệ Quảng võ, lên thự Vệ úy vệ Túc võ.


    Bảy tộc Man ở Thái Nguyên xin đem hơn 160 cây súng điển sang, do họ làm riêng, nộp Nhà nước. Vua sai quan tỉnh lấy tiền kho thưởng cho họ (hạng dùng được, thưởng mỗi khẩu 5 quan, hạng không dùng được, thưởng mỗi khẩu 3 quan) và hiểu dụ họ rằng : “Triều đình thực đã xét thấu tấm lòng các ngươi biết hướng theo điều nghĩa. Từ đây, được hưởng đức khoan hòa, lòng nhân hậu của nhà vua, các ngươi đào giếng mà uống, cấy lúa mà ăn, cùng nhau yên ấm, mãi mãi làm người dân lương thiện, cùng hưởng Phước thái bình, há chẳng hơn mười lần trước kia ư ?”.


    Lại sai các tỉnh Ninh Bình, Sơn Tây, Hưng Hóa, Lạng Sơn, Cao Bằng và Quảng Yên tuyên dụ cho các thổ dân sở tại coi việc này làm gương. Sau đó, dân hạt Lạng Sơn xin nộp hơn 80 cây điểu sang mà tình nguyện không lĩnh thưởng. Quan tỉnh tâu lên. Vua dụ rằng : “Hạt ngươi là đất rừng rú. Thổ dân làm riêng nhiều súng điểu sang, hàng ngày lấy săn bắn làm thú vui, không chăm lo làm ăn ; lỡ khi bị giặc bức bách, không khỏi vác súng đi theo, tự mắc vào tội. Trước đây đã xuống dụ ân cần khuyên bảo khiến chúng nhiễm theo phong hóa “bán dao mua bò”((1) Cung Toại nhà Hán làm Thái thú Bột Hải, gặp năm đói, dân vác gươm dao đi trộm cướp, ông khuyên dân bán gươm đi mua trâu, bán dao mua bò để làm ruộng.1). Nay chúng chịu vâng mệnh, tỏ lòng thành thực như vậy, cũng đáng khen thưởng. Vậy nên tức thì chiếu theo hạng súng mà tuyên chỉ ban thưởng, bảo chúng rằng : đây là triều đình ban ơn cho để sắm trâu bò cày bừa làm ăn sinh sống, đó là tỏ ý khuyên dân trọng nghề nông, không nên từ chối”.


    Quan tỉnh Phú Yên tâu nói : “Trước đây, thuê thuyền của dân chở biền binh đi Nam Kỳ bắt giặc. Nay các thuyền hộ đều xin miễn trả tiền thuê”. Vua dụ : “Bọn họ chuộng nghĩa và biết lẽ phải, thực đáng khen. Nhưng cái mà Nhà nước thiếu không phải là tiền há nỡ lấy thuyền tư của dân sung làm thuyền công ? Vậy phải gọi ngay họ đến khen ngợi và trả tiền thuê theo giá”.


    Bộ Lại tâu xin : Từ nay, phàm các nhân viên sai phái được cấp sắc chỉ, văn bằng đi làm việc gì, khi xong, phải đem về nộp trả để thu lại mà thủ tiêu. Nếu trái lệnh, sẽ bị hặc và trừng phạt. Ai còn giữ bản nào từ trước đều cho mang nộp trả, nếu giấu, sẽ bắt tội. Lại nữa, trước giờ những hồng bản((2) Những bản chương tấu được vua phê chữ son đỏ.2) có lời chỉ dụ châu phê phát đi các địa phương tuân hành, cũng xin bắt nộp trả lại, hoặc qua Nội các hoặc qua Bộ. Nếu xét việc cần phải chép lại rồi đưa đi thì cho chép lại. Từ đây, cứ chiếu lệ này thi hành. Vua y lời tâu.


    Trước đây, tỉnh Bắc Ninh gạo kém, dân khó kiếm ăn, có 8 nhà giàu bỏ của ra giúp những người túng thiếu (2200 quan tiền). Quan tỉnh tâu lên. Vua chuẩn cho ban thưởng mũ đội và miễn thuế thân, đi lính, sưu dịch có từng bậc khác nhau.


    Tỉnh Thanh Hoa cũng có 4 nhà giàu bỏ tiền ra quyên riêng (hơn 380 quan tiền và hơn 900 hộc thóc), không báo cho quan biết. Khi xong việc, quan tỉnh tâu bày. Vua chuẩn cho ban rượu thịt để khen thưởng.


    Quan tỉnh Định Tường tâu xin : Dồn những người ngoại tịch hưởng ứng việc nghĩa làm cơ Tường nghĩa, gồm 5 đội, chia làm 4 ban. Người trong ban được cấp lương tháng, tiền 1 quan, gạo 1 phương.


    Lại trong tỉnh Định Tường có 4 thủ sở Tuyên Uy, Bông Nguyên, Thông Bình, Hùng Ngữ, tiếp giáp với Chân Lạp, là chỗ địa đầu xung yếu, mà lính thủ sở có ít, xin phái biền binh hạ ban chia đóng mỗi thủ sở 30 người, cứ 3 tháng một lần đổi phiên. Vua chuẩn y.


    Cho dân Thuận Đảo (11 thôn) tỉnh Bình Thuận được tính nộp bằng tiền và thuế vải trắng năm nay.


    Đào các dòng sông nhỏ ở Nam Định và Hưng Yên. (Một chi từ xã Kinh Đào, huyện Giao Thủy qua Nam Chân, Chân Ninh đến các xã thuộc Đại An ; một chi từ xã Cổ Quán huyện Thần Khê qua huyện Duyên Hà đến xã An Liêm thuộc huyện Thư Trì ; một chi từ xã Bổng Khê đến xã Hương Cáp huyện Thư Trì ; một chi từ xã Hải An, huyện Quỳnh Côi đến xã Phú La, huyện Thần Khê ; một chi từ thôn Thổ Khối, đến thôn Phạm huyện Thần Khê ; một chi từ xã Thọ Vực đến thôn Thổ Khối huyện Thần Khê). Các dân sở tại đều tình nguyện, người giàu xuất của, người nghèo xuất công làm việc này.


    Tổng đốc Đặng Văn Thiêm đem việc tâu lên. Vua sai truyền dụ ban khen.


    Sau đó, đường sông được khai thông, nước lụt có lối thoát ngay. Việc cày cấy thuận tiện. Thiêm và các phủ huyện sở tại, vì biết khuyến khích hướng dẫn nhân dân có phương pháp, được thưởng gia cấp và kỷ lục. Người giàu được khao thưởng cơm rượu ; người nghèo, tùy theo công việc khó, dễ, chước lượng trả tiền.


    Tỉnh Nam Định săn bắt được tên giặc trốn là ngụy Hữu quân Vũ Duật (đồng đảng của tên đầu sỏ giặc Phạn Bá Vành), đem giết đi. Thưởng 100 lạng bạc cho chức dịch đã bắt được, và 30 lạng bạc cho người tố giác. Lại cho rằng dân hạt Nam Định gần đây tố giác ra nhiều giặc cướp, sai truyền chỉ ban khen.


    Vua nhân bảo Nội các Hà [Tông] Quyền rằng : “Quân giặc, nếu không có dân tố giác thì quan quân biết đâu mà bắt ? Nay nhân việc này mà hậu thưởng cho họ cũng là một cách “mượn việc dời cây gỗ để nêu tin thực”((1) Tần Hiến Công dùng Thương Ưởng thay đổi pháp độ, sợ dân không tin, bèn dựng một cây gỗ ở cửa Nam, hạ lệnh : Ai đem cây ấy đến cửa Bắc, thì thưởng 10 lạng bạc ; sau có người mang được, thưởng đúng như lời hứa.1). Nếu chỉ tiếc món phí tổn nhỏ, không chịu thưởng, thì họ có biết mà không tố giác, đảng gian sẽ ngày một to lên, bấy giờ phí tổn về việc trù tính đánh dẹp há chẳng tốn nhiều hơn ư ?”.


    Bổ Ngô Dưỡng Hạo làm án sát Quảng Bình.


    Tham tán Hồ Văn Khuê từ Hà Tiên về Gia Định, dâng sớ tâu : “Tỉnh Hà Tiên mới thu phục, dân trong hạt chưa hồi phục được mấy. Nếu công việc sửa sang giao cho tỉnh làm dần, e trong mươi ngày hay một tháng cũng không xong. Bọn thần đã tạm thời cho làm thêm : 1 gian kho thuốc súng ở trên pháo đài và 5 gian kho chứa lương ở trong đồn lớn. Lại ở cái lũy Mạc Thiên Tứ cũ, từ phía đông bờ sông đến phía nam bãi biển, dài hơn 512 trượng, hễ những nơi nào sụt lở hư hỏng thì cho sửa đắp sơ qua lại và đặt 140 lỗ châu mai. ở cuối lũy này lại đắp ngang một dải lũy đá dài 10 trượng, đặt 9 lỗ châu mai, để hỗ trợ cho pháo đài. Hiện đã xây dựng xong cả.


    “Vừa gặp thuyền Hải Đạo do Kinh phái đi lần trước đã đến cửa biển Kim Dư, bọn thần trích lấy 1 cỗ súng đồng “Chấn uy đại Tướng quân” và 2 cỗ súng “Thắng uy Tướng quân”, cùng 300 viên đạn các cỡ, chia đặt ở pháo đài và ở lũy đá. Rồi liệu để ngay lại đấy 1000 binh dõng để theo tỉnh điều khiển đóng giữ ; còn bao nhiêu mang hết về quân thứ Gia Định”. Vua phê : “Làm thế được đấy”.


    Lại quây bắt được một tên giặc Xiêm ở phận rừng Gia Thành. Làm tập tấu riêng tâu lên. [Vua] sai thưởng cho người bắt được tên giặc ấy 3 lạng bạc.


    Vua bảo bộ Binh rằng : “Lần trước, giặc Xiêm bị quan quân đánh bại, đang đêm trốn về. Dư đảng của chúng còn lẩn lút chắc không phải ít. Phải truyền dụ các địa phương sở tại hiểu thị cho khắp : bất luận quan văn, quan võ, dân hay binh, hễ bắt được đích thực giặc Xiêm, cũng chiểu theo lệ trên, cứ mỗi phạm, thưởng 3 lạng bạc ; nếu là đầu mục giặc, thưởng 10 lạng ; nếu là tướng to thì cứ theo thứ bậc tăng thêm lên. Như vậy để họ đều lưu tâm dò bắt, không để một tên giặc nào lọt lưới”.


    Lại sai truyền dụ cho Trần Chấn ở Hà Tiên, chọn lấy một người được việc, mật phái sang Xiêm dò xem tin tức động tĩnh trong nước ấy từ trước đến giờ, và tình hình những toán bại binh của họ về nước ra sao, cứ thực tâu lên.


    Vua cho rằng sáu tỉnh Nam Kỳ, sau khi hữu sự, công việc rất bận, bèn sắc sai phàm những biền binh theo tỉnh sai phái và hương dõng đã dồn thành đội ngũ, đều phải lưu ban, gia ơn cho từ mồng 1 tháng 3 đến cuối tháng 5, mỗi người được cấp lương một tháng. Tiền 1 quan, gạo 1 phương, chờ khi công việc tỉnh đỡ bận, sẽ lại theo lệ cũ.


    Vua dụ Nội các rằng : “Vừa đây, vì thấy bọn giặc yêu nghiệt sót lại ở Phiên An đã lâm vào thế mỗi ngày một thêm cùng quẫn, và quan quân tập hợp hiện đã đông, nên đã sai sớm phải ra lệnh đánh thành. Vậy bấy lâu chưa thấy báo tin thắng trận,
  • Chia sẻ trang này