0061.0014

26/1/16
0061.0014
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    khiến người ta trông ngóng quá chừng ! Vậy nghiêm sức cho bọn Tướng quân, Tham tán cần lấy sự báo đền ơn nước làm trọng, phải đích thân đốc thúc đánh thành, đừng ngại mũi tên hòn đạn. Lại cần phải nghiêm minh kỷ luật : nếu bộ tướng nào nhút nhát chùn lại, thì cho Tướng quân và Tham tán đem chém ngay, để rao cho mọi người biết ; từ suất đội đến binh lính nếu nhút nhát chùn lại, thì cho bộ tướng cũng mang chém ngay. Một khi đã nghe có tướng lệnh, bốn mặt đều phải tấn công, nhất định chỉ có tiến, không có lui. Nếu trèo thành lần đầu không được, thì lại lần thứ hai; lần thứ hai không được thì lại lần thứ ba, cứ tiến như trước, không quản là bao nhiêu lần, cốt cho kỳ được. Người trèo lên trước phải dìu dắt người lên sau ; người tiến sau thấy người trèo lên trước cũng phải kế tiếp lên ngay. Hễ ai ngoái trông nghe ngóng sẽ bị chém đầu lập tức.


    “Vả lại, khí cụ chống giữ của giặc chẳng qua là chông tre, gỗ và đá. Nếu quân ta đến sát chân thành thì súng lớn, súng nhỏ của chúng đều thành vô dụng ; mà những khí cụ đánh thành của ta như đại chấn địa lôi, đại bác tử, đại hỏa pháo cho chí ống phun lửa, đuốc lửa đều rất đầy đủ. Nếu chịu nghiêm túc tuân theo phương lược đã chỉ bảo trong dụ trước, khéo thể theo mà thi hành và nghiêm sức tướng sĩ, binh dõng cũng liều chết kên mình nhau mà leo lên, thì nhất định không có lý không thắng. Huống hồ, số gỗ, đá, giặc trữ để phong ngự chỉ có hạn, một khi đã đẩy cả xuống, thế tất không kịp chất thành đống ngay, quân ta lại do đó mà trèo lên thành càng dễ.


    “Năm ngoái đã một lần đánh thành, sở dĩ chưa hạ ngay được, chỉ vì hiệu lệnh thống nhất và chợt tiến lại vội lui. Nếu nay đồng tâm hợp lực, xông thẳng lên một hơi thì lần trước nếu chưa lên được, lần sau nhất định cũng phải lên được. Sự thế quyết nhiên như vậy, chớ lại sai lầm lần nữa.


    “Lại nữa, bấm đốt tay, tháng 3 đã hết, tiết đã sang hè, nếu lại lần chần kéo dài ngày giờ, gặp đợt mưa đến, nước hào đầy và sâu, thì vượt qua càng thêm khó. Phải tính sớm đi ! Bọn Tướng quân Tống Phước Lương và bọn Tham tán Lê Đăng Doanh, các ngươi chịu ơn nước nhà đã nặng, nay nhân sự ủy thác cầm quân dẹp giặc, nặng nề to lớn biết bao ! Các ngươi cần phải hết lòng hết sức để báo đáp sự đãi ngộ của triều đình, nhẹ bớt mối lo nghĩ của vua cha.


    “Nay cho phép các ngươi tự liệu xét ; nếu còn khỏe mạnh có thể ra sức giúp triều đình thì một mặt tâu rõ, một mặt cáng đáng lấy trách nhiệm để toan tính cho thành công ; nếu tự xét mình già tuổi yếu thì cũng không ngại gì cứ thực trình bày để ta xuống dụ cử viên khác thay công việc, nhất định hẹn ngày dâng công. Các ngươi không được ôm mãi trọng trách, rồi cứ việc ỳ thần xác, ngồi ăn không, chẳng để tâm đến việc nước ! Vì như thế là trái cái đạo làm tôi, phụ ơn sâu của Nhà nước mà ta cũng không thể làm ơn khoan thứ cho được. Nay đã ân cần bảo rõ, các ngươi nên nằm đêm tự vấn tâm suy nghĩ mà cố gắng lên !”.


    Rồi sai Tả thị lang bộ Hình là Nguyễn Công Hoán mang theo thị vệ, chạy ngựa trạm, đem hồng bản tờ dụ này đến quân thứ tuyên thị. Bọn này ở lại mấy ngày, hỏi rõ tình hình, tức thì về Kinh tâu lại. Sớ văn của các Tướng quân, Tham tán cũng liền đến nói : “Tham tán Hồ Văn Khuê và Tán tương Trương Phước Đĩnh từ Nam Vang và Hà Tiên đều đã về đến quân thứ, hiện đương cùng nhau hội bàn trù tình công việc đánh thành”.


    Vua phê : “Giặc đã khốn cùng như thế sao không đánh gấp ? Đã có Chỉ đốc thúc rồi đấy”.


    Bọn Nguyễn Xuân, Trương Minh Giảng và Lê Đại Cương ở quân thứ Nam Vang tâu : “Quan Phiên tham chính báo rằng tướng Xiêm là Phi Nhã Chất Tri từ Chân Lạp rút về Bắc Tầm Bôn, có độ 3000 quân, chia làm 4 nơi đóng giữ. Và em vua Xiêm là Thôn Kha Long Danh Hòa từ Vọng Các đem 2000 quân đến đóng Bàn Khương (tên đất) truyền hịch giục Chất Tri về. Chất Tri không chịu về, nói rằng quân của ta không đến thì nó cũng đến lấy Chân Lạp, thề chẳng về nước Xiêm. Người Xiêm đã nhiều lần bị thua đau, trốn chạy, sợ quân ta đuổi cùng, hỏi tội, cho nên huênh hoang đóng quân ở Bàn Khương và Bắc Tầm Bôn cũng là có lý. Còn như Chất Tri nói thề lấy Chân Lạp, chẳng chịu về Xiêm, chẳng qua nó sợ bại trận trở về, chẳng được người nước đếm xỉa đến nữa, nên thả lời để lừa bịp mọi người đó thôi. Tuy vậy, việc phòng ngự địa đầu biên giới, thực không nên trễ nải. Bọn thần đã sức cho quan Phiên lính Phiên đóng giữ Phủ Lật và Bông Xui để phòng bị nghiêm cẩn”.


    Vua phê : “Liệu đoán kẻ địch như vậy thực đúng khớp, rất hợp ý ta. Phía ta chỉ nên cứ im hơi lặng tiếng, mà chuẩn bị sẵn sàng, lâu ngày chúng mỏi mệt, tự khắc quay về sào huyệt”.


    Trương Minh Giảng và Lê Đại Cương lại tâu : “Tỉnh An Giang mới lập, đất rộng, người ít, lại ở vào nơi xung yếu giữa hai ngả đường Hà Tiên – Nam Vang, binh lửa mới yên, thành trì chưa vững, công việc chính là lúc đương bận rộn. Vậy mà các cơ binh thuộc tỉnh, phần nhiều bỏ trốn, hiện số không còn được bao nhiêu, sợ khi động đụng không đủ người. Những lính đồn điền khi trước, dồn lại thành đội ngũ, cho lệ thuộc hạt khác như hai cơ Định thắng Tả, Hữu và Thủy cơ Biên Hòa, đều là người thổ trước trong hạt [An Giang]. Nay xin rút về cho theo tỉnh sai phái để tự phòng thủ lấy”.


    Vua phê : “Đó cũng là việc cần kíp trước mắt. Cho làm theo điều thỉnh cầu”.


    án sát Hồ Sĩ Lâm tỉnh Tuyên Quang mang 100 biền binh đi Vị Xuyên đón đốc việc vận tải quân lương, dâng sớ tâu : “Đã lần lượt phát muối, gạo cho tải theo đường thủy, đường bộ và ủy thuộc viên chia nhau đi Vị Xuyên, Đại Man, mua gạo lương với giá thỏa thuận, rồi tuỳ tiện chứa lại, để chuyển vận theo đường bộ. Nhưng từ tỉnh thành đến đồn An Biên, đường sá xa xôi ngăn cách, việc vận tải đường bộ rất khó khăn, mà đường thủy thì phải đi ngược dòng thác nguy hiểm, không khỏi chậm trễ. Nay đại binh tiến lên Vị Xuyên, dân sở tại chắc đã dần dần tụ tập. Vậy xin ở ven đường, từ quãng Bình Sa, Phù Loan trở lên, tính độ đường đặt trạm, lấy dân phu ứng trực, rồi trước hết sai thổ dõng ở Hàm Yên, Thu Châu đài tải lương, muối, lần lượt đưa đến trong quân để chi dùng. Còn từ An Biên đến Vân Trung cũng cứ theo cách ấy tùy tiện mà làm”. Vua chuẩn y.


    Lê Văn Đức - Tổng đốc đạo Tuyên Quang, tiến quân đến thôn Mã Lang, tâu trình về tình hình quân thứ : “… Quân đi đến đâu, giặc thấy bóng gió, bỏ đồn trốn trước. Vừa rồi được tin Trần Văn án bại trận, hỏi ra thì người thổ cho biết đó là Nguyễn Thế Khôi con tên tướng giặc Nguyễn Thế Nga, mới lén lút nổi lên. Khi phái quân đến tiễu, thì nó đã trốn xa, không biết đâu mà đuổi bắt. Lại tiếp tin báo tướng giặc Lưu Trọng Chương và Hoàng Trinh Tuyên tụ họp đồng lõa hơn 1.000 tên, từ Lục An đến quấy nhiễu địa hạt tổng Lâm Đường. Nay đại binh sắp tới An Biên, giặc ở phía trước tất khó rút chạy. Nếu mặc không hỏi đến, e chúng lấn vào vùng giữa Vị Xuyên thì đường tiếp lương của ta sẽ khó thông đồng. Vậy xin phái một viên quan to ở gần miền, mang một đạo trọng binh, qua lối Thu Châu vát thêm thổ dõng, lên đường đến thẳng Lục Yên, rồi tùy liệu hoặc vỗ về, hoặc đánh dẹp cho đứt mối lo quân giặc thừa hư quấy nhiễu phía sau. Lại nữa, đạo quân Nguyễn Công Trứ trước hẹn do đường châu Đại Man vòng ra phía trên An Biên để chặn đường chạy của giặc. Nay Công Trứ bận việc mãi ở Côn Lôn, không tiện chờ mãi, nên thần đã ấn định ngày giờ chia đường tiến lên đánh lấy An Biên. Duy có việc quân lương, chuyển vận đường thủy đường bộ đều rất khó khăn. Số gạo lương do tỉnh phái người tải đi đường bộ, tới trong quân hiện được hơn 180 phương. Khi hành quân đã từng khẩn sức đi mua lương thực với giá thỏa thuận, nhưng dân địa phương phần nhiều còn chạy chưa về, thường phải chờ lại một vài ngày mới mua được vài chục phương, đến kỳ cần dùng, không được đầy đủ lắm, rất lấy làm lo ngại”.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Bọn giặc ấy thu thập dư đảng chia nhau chống cự. Quan quân thoạt đến, chúng liền bỏ trại trốn chạy. Như vậy thì những kẻ tụ tập ở Lục Yên chẳng qua cũng chỉ là lén lút ẩn hiện ở nơi rừng núi vụng trộm phát ra, không đáng lấy làm lo ngại. Có điều là quân đội đi xa, lương thực là quan trọng nhất, không thể không sẵn sàng đề phòng phía sau. Vậy, truyền dụ cho thự Bố chính Tuyên Quang là Trần Ngọc Lâm trong số biền binh Hà Nội và Nam Định đã điều động, liệu lưu một ít đóng giữ, còn bao nhiêu giao cho quản cơ mang đi, lại vát thêm thổ dõng ở Thu Châu, cho gấp theo lũ Hồ Sĩ Lâm và Đặng Kim Giám, phân phái đi hộ vệ việc tải lương. Lại truyền dụ cho Lãnh binh Đoàn Văn Cải tỉnh Sơn Tây mang 100 lính tỉnh cùng với số thổ dõng đã gọi thêm trước, lên mau Tuyên Quang, chuyển tới quãng giữa châu Vị Xuyên, cai quản cả binh dõng ở tỉnh Hà Nội, Nam Định, Tuyên Quang đã phái đến trước để hộ vệ việc tải lương. Lại phải tùy cơ mà phòng ngừa đảng giặc, nếu một khi thấy chúng chớm nổi lên, thì phải diệt sạch ngay để đường vận lương của đại binh được thông đồng”.


    Lại dụ Nội các rằng : “Từ khi đại binh đạo Tuyên Quang xuất phát đến nay, Tổng đốc Lê Văn Đức đã tâu báo hai lần, còn đạo quân của Tham tán Nguyễn Công Trứ đã lâu chưa thấy tin gì, khiến ta trông ngóng phải truyền dụ cho Nguyễn Công Trứ lập tức tìm rõ tình hình để đốc thúc binh dõng sớm trừ cho xong đảng giặc ở một dải Côn Lôn, rồi tìm đường hội binh với Lê Văn Đức. Bọn Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ cần phải lưu tâm hơn nữa đến việc hộ vệ quân lương, và tìm mọi cách làm cho có nhiều lương thực, hoặc mang theo nhiều tiền bạc, bất cứ đắt rẻ, tiện đâu mua đấy, đừng để đến nỗi thiếu thốn. Thế là mưu chước hay nhất”.


    Nguyễn Khả Bằng - Tuần phủ Thanh Hoa, tâu nói : “Thổ phỉ trong tỉnh hạt là lũ Nguyễn Đình Bang, Nguyễn Đình Phát và Nguyễn Đình Lung, năm ngoái, đồng lõa với lũ Quách Tất Công, Quách Tất Tại và tên phạm trốn tránh là Quách Công Quế ở Ninh Bình, dấy loạn. Sau nhân quan quân tiến đánh, chúng lẩn trốn, sống vụng trộm, đến nay chưa tên nào bị xử án. Năm nay các vụ cướp xảy ở Thanh Hoa, Ninh Bình đều do bọn chúng lén lút gây ra, chứ không có đảng nào khác. Vả lại, hai huyện Quảng Địa, Thạch Thành, về hình thế núi rừng tuy không cao như Sơn Âm, nhưng về hiểm trở, sơn lam, chướng khí, hang đá lởm chởm trùng điệp thì cũng như Sơn Âm. Trước đây, sau khi thu phục được Hoàng Sơn và Phố Cát, quan quân chỉ thám nã ở vùng rừng đất bằng, chưa từng lùng vào sào huyệt của chúng. Cho nên chúng lại liên kết được với nhau, mưu đồ quấy nhiễu. Nếu không có một phen đánh giết thực mạnh thì dân không được ở yên. Nay Bố chính Nguyễn Đăng Giai là người am hiểu địa thế, dân tình vùng ấy, xin cho y được nghỉ công việc tỉnh 2 tháng, cùng Lãnh binh Vũ Văn Huân và Phạm Văn Bình mang 700 biền binh và 2.000 thổ dõng đến địa phận 2 huyện ấy, cùng với tỉnh Ninh Bình hội tiễu, sao cho trừ tận gốc rễ, không để sót lại một mống !”.


    Vua chuẩn y và cho Nguyễn Khả Bằng ở lại tỉnh làm việc.


    Nguyễn Đình Phổ Tổng đốc Ninh – Thái, mang 700 biền binh và 3 thớt voi trận, tiến lên Thái Nguyên, dẹp giặc. Rút Lãnh binh Trần Đình Di nguyên phái khi trước, trở về giữ thành Bắc Ninh.


    Bọn ác Man ở Bình Định lén xuống nguồn Trà Vân, bắt người cướp của rồi đi. Việc lên đến vua. Viên thủ ngự ở đấy bị cách chức, quan tỉnh bị giáng một cấp, và buộc phải nã bắt giặc theo đúng hạn định.


    Quan tỉnh Hưng Yên tâu nói : “Tỉnh hạt sau trận thiên tai năm ngoái, nhân dân còn khó kiếm ăn”. Vua dụ cho phép lập trường phát chẩn ở phía ngoài tỉnh thành, rồi sai tập hợp dân nghèo lại, liệu phát tiền và gạo, chẩn cấp một tháng (Mười ngày phát chẩn một lần : cực nghèo, mỗi người được 3 uyển gạo và 3 tiền ; nghèo vừa, mỗi người được 2 uyển gạo và 2 tiền. Trẻ nhỏ được phát một nửa).


    Chữa lại chiếc thuyền lớn “Uy Phượng”. Vì thuyền này đã bị vấp váp nhiều lần, nên cho đổi tên là “Linh Phượng”. Có tên lính thủy lấy cắp dầu rái dùng sửa thuyền tư. Việc phát giác, giao bộ Hình xét trị. Bộ Công tự xét là sơ suất, dâng sớ xin nhận tội.


    Vua dụ : “Gần đây công việc Bộ rất bận rộn, mà công xưởng ấy trông nom không xuể, cũng như cái roi dài không tới bụng ngựa. Vậy hẵng miễn xét xử. Từ nay, nhất thiết mọi công việc đều phải cân nhắc vát liệu, tính toán nhân công, và lưu tâm kiểm soát. Phàm các thứ xuất nhập linh tinh, dầu từ vật nhỏ như đầu tre, mạt cưa, cũng phải chắp nhặt lựa dùng vào việc thích hợp, không nên vội nghe bọn chủ thủ mà bỏ làm củi đóm, phao phí. Ngoài ra, các việc chi, phát, lĩnh, nộp, đều phải kiểm xét cho rành mạch, không được để lính, thợ và lại dịch chấm mút xẻo xén. Nếu còn như trước không chịu xem xét, sẽ giao đình nghị không tha”.


    Trấn Hải đài ở Kinh và Điện Hải đài, An Hải đài ở Quảng Nam đều cho đổi làm thành.


    Vua cho rằng các đài này đều có thành trì, trấn ngữ hùng mạnh ở bờ biển khác hẳn với các pháo đài khác, nên đặc cách cho gọi là thành. Sau đó sai đổi phát ấn đồ ký bằng đồng cho 3 thành nói trên. Ba tấn sở phòng thủ ở cửa biển là Đà Nẵng, Đại Chiêm và Đại áp đều được đổi phát kiềm đồng, và thêm 2 chữ “Hải Khẩu”.









    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển cxxiv



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Giáp Ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15 [1834], mùa hạ, tháng tư, ngày mồng một, làm lễ Hạ hưởng((1) Lễ tế tổ tiên nhà vua vào đầu mùa hạ.1).


    Tòa Khâm thiên giám tâu xin ghi thêm khí hậu nước Chân Lạp vào lịch. Vua y cho.


    Sai các tỉnh ven biển đóng hạng thuyền nhanh nhẹ.


    Vua dụ bộ Công rằng : “Những địa phương ven biển khi gặp việc khẩn cấp, duy dùng loại thuyền nhanh nhẹ là được việc nhất. Vậy ra lệnh cho các hạt sở tại, tùy theo công việc nhiều hay ít, lấy khoản chi của tiền công, đóng vài ba chiếc. Rồi mộ dân ven biển làm người lái và thủy thủ, mỗi thuyền có độ trên dưới 20 người, lập làm đội thủy binh của tỉnh. Khi vô sự, cho họ về làm ăn ; khi có việc cần kíp, việc tuần tiễu, việc thông báo hoặc việc chuyên chở chút ít đồ vật thì dùng đến thuyền này”. Rồi may phát cho cờ hiệu (cờ dùng vải vàng đề mấy chữ : “Thuyền công tấn sở mỗ”).


    Tỉnh Thanh Hoa có độ 50 người dân ngoại tịch từ vùng Quảng Bình trở vào Nam. Cho dồn làm 2 đội thuộc tỉnh.


    Bộ biền hai tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh hợp sức bắt giặc ở huyện Văn Giang, bắt chém được hơn 30 tên phạm và thu được rất nhiều khí giới. Quan tỉnh đều làm sớ tâu. Vua khen và thưởng những người dự đi bắt ấy.


    Ngô Văn Giai, Quản cơ cơ Chính võ, thăng thụ Vệ úy, trật Tòng tam phẩm, vẫn lĩnh chức Quản cơ ;


    Nguyễn Hữu Thịnh, Phó quản cơ cơ Trung nhuệ, thăng thụ Quản cơ ;


    Hoàng Văn Quyến, Phó quản cơ cơ Hậu nhuệ giữ đồn An Xã, thăng thụ Quản cơ, và đều được thưởng thêm một cấp quân công ;


    Tôn Thất Loan, thự Quản cơ cơ Tiền nhuệ, được thực thụ ngay chức Quản cơ ;


    Lê Thanh Biểu, Phó quản cơ cơ Trung kiên, được thăng thụ Quản cơ ;


    Nguyễn Văn Phú, Quản phủ Bình Giang, thăng thụ Vệ úy, trật Tòng tam phẩm, vẫn lĩnh Quản phủ ;


    Phạm Văn Đức, Quản phủ Thuận An, thăng thụ Quản cơ, vẫn lãnh Quản phủ. Và mỗi người đều được thưởng 1 chiếc áo trận.


    Những suất đội đều được thưởng mỗi người 3 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn và 1 chiếc hầu bao gấm. Biền binh được thưởng chung 500 quan tiền. Người chém được tướng giặc, cứ mỗi thủ cấp tính thưởng 10 lạng bạc ; các thủ cấp khác, thưởng 2 lạng.


    Tên đầu đảng giặc là Phan Bô ở Hà Tĩnh, thường ẩn hiện ở các huyện Kỳ Hoa, Thạch Hà, Hương Sơn, Thiên Lộc, thừa cơ cướp bóc. Tỉnh cho tầm nã, liền trốn mất. Đến đây, tụ họp mấy trăm đồ đảng đốt phá hơn 60 nhà dân ở xã Hương Lộc (thuộc huyện Thạch Hà, gần tỉnh). án sát Cao Hữu Dực, Lãnh binh Phan Văn Bổng đem quân và voi chia đường đuổi đến núi Bạch Thạch ở Vân Phong, chỉ quây bắt được 4 tên đồng lõa.


    Việc lên đến vua. Vua truyền chỉ nghiêm quở, bắt phải hết sức tìm cách lùng bắt. Lại cho điều 200 biền binh ở Quảng Bình, theo đi bắt giúp. Lại treo thưởng, bất cứ quan, lính hay nhân dân, ai bắt hay chém được tên chính phạm Phan Bô thì thưởng cho 100 lạng bạc ; nếu là lính, lại được thưởng thụ thêm chức đội trưởng ; nếu là dân thường, lại cho tha thuế thân. Nếu bắt được tên thứ yếu phạm là Đinh Lợi thì thưởng 50 lạng bạc. Ai trước đã trót theo giặc hoặc chứa chấp dung túng giặc, nay bắt hay chém giặc, phải nộp quan, được lập tức miễn tội, lại được coi như người thường mà chiếu lệ thưởng cấp.


    Bộ biền tỉnh phái đi sau đó lùng bắt được hơn 20 đồ đảng giặc, địa phương được yên ổn. Lính Quảng Bình phái đến trước còn được rút về.


    Tỉnh Quảng Yên săn bắt được tên đầu đảng giặc, ngụy xưng Phó thống chế là Nguyễn Văn Bằng (đồng đảng với nghịch phạm Nguyễn Khắc Thước), đem giết đi. Thí sai thổ Tri châu Tiên Yên là Phan Thế Hiệu vì bắt được tên phạm ấy được lập tức thực thụ thổ Tri châu và thưởng thêm 30 lạng bạc.


    Khai mỏ chì ở Quảng Nam. Sai Thị lang bộ Hộ là Vũ Đức Khuê giám đốc công việc.


    Trước đó, vua có hỏi thị thần : Ai đáng sai đi. Phan Huy Thực thưa là Trần Tuyên, Lang trung bộ Công. Vua nói : “Phiền nhiễu đến dân là việc bất đắc dĩ. Ta muốn được một vị đại thần đi để biểu thị cho dân vui lòng”. Do đấy mới sai Khuê mang Trần Tuyên cùng đi, hội với quan tỉnh liệu làm. Rồi mướn 500 dân ở gần miền làm việc, và cấp hậu cho tiền, gạo (mỗi người một tháng 6 quan tiền và 1 phương gạo). Sau đó, thấy phái viên đi mua về nộp được nhiều chì, nên cho đình chỉ việc khai mỏ, và triệu Khuê về.


    Quan tỉnh Quảng Yên tâu nói : “ở tỉnh, theo lệ, phải nộp dầu thông, nhưng vì mưa lụt, chưa cho lính đi nấu dầu được, vậy xin triển hạn”. Vua y cho. Nhân đó dụ rằng : “Binh lính là để giữ nước. Lúc vô sự, phải cho tập luyện thành thuộc để phòng lúc hữu sự. Nếu nay bắt lính chuyên làm những việc vặt, thì không phải cái ý nuôi binh của Nhà nước. Từ nay phải thuê dân làm dầu thông mà nộp, không được động dụng sức lính”.


    Sở Giang Quan((1) Sở thu thuế đò.1) ở xã Như Lệ (thuộc huyện Hải Lăng) Quảng Trị, bỏ đã lâu. Dân, có người xin lĩnh trưng nộp mỗi năm 100 quan tiền thuế. Hộ phủ Dương Văn Phong tâu lên.


    Vua dụ bộ Hộ rằng : “Cái thiếu của Nhà nước, không phải ở tiền của. Cái lợi nhỏ mọn không đáng kể. Dương Văn Phong đã từng được lui tới bên ta, sao chẳng nghĩ rằng ngạch thuế đò các hạt Bắc Kỳ so với đấy há chỉ gấp năm ba lần ? Ta vì thương dân vất vả, nên năm ngoái ra lệnh cho rộng miễn. Tuy hàng nghìn hàng vạn còn chả tiếc, thì mối lợi nhỏ nhặt lặt vặt này, đối với thuế khóa của Nhà nước, có nghĩa lý gì ? Vả lại, ở nơi này, năm ngoái, ta đã vì dân cho khơi đào sông ngòi, để đường thủy đi lại được thuận tiện, nếu nay lại đặt ải và bến đánh thuế thì chẳng hóa làm trái cái bản ý thương dân lợi dân của ta ư ? Đáng lý việc này phải giao đình nghị, để làm gương cho kẻ hay bàn đến việc lợi, nhưng nghĩ y mới đến quyền, công việc ở đó buổi đầu, chẳng qua cũng là nhẹ dạ nghe người, không có tình ý gì khác, nên hãy gia ơn, khoan thứ cho. Rồi truyền Chỉ nghiêm quở. Lại truyền dụ khắp cho các tổng đốc, tuần phủ, bố chính, án sát các địa phương phải thể theo ý này của ta mà tuyên dương đức hóa, sao cho hết giặc, yên dân, khiến ruộng nương ngày một mở rộng, hộ khẩu ngày một tăng thêm, thì ích nước lợi dân còn gì hơn thế. Nếu cứ chăm chắm bàn đến việc lợi, thì khác nào đời xưa gọi là “hạng bầy tôi vơ vét kiếm lợi”, ta chẳng thích nghe nói đến đâu !”.


    Tú tài các khoa, tuổi từ 40 trở lên, ở các địa phương được gọi vào Kinh, tất cả 159 người. Vua sai Tham tri bộ Binh là Nguyễn Trung Mậu và Đại lý tự Thiếu khanh Phan Thanh Giản làm chủ khảo, hội với quan ở Quốc tử giám sát hạch lại : 7 người dự hạng ưu, được bổ làm huấn đạo, nhưng thự chức giáo thụ ; 81 người hạng bình được dùng làm huấn đạo. Các hạng thứ và liệt, quán ở Quảng Bình trở vào Nam, chịu phái làm hành tẩu ở sáu bộ, cấp thêm cho mỗi tháng tiền 1 quan, gạo 1 phương, còn những người quán từ Hà Tĩnh trở ra Bắc thì cho về học tập, và cấp cho mỗi người 2 lạng bạc.


    Dụ rằng : “Các ngươi nên chăm chỉ đọc sách cho thành tài ; để đến kỳ thi có chỗ tuyển dùng, đừng nản vì chuyến này không trúng”.


    Dân Thừa Thiên có người đánh giảm giá đồng Phi long ngân tiền, bị lính hộ vệ Cẩm y bắt được. Bộ Hình đem việc tâu lên.


    Vua dụ Nội các rằng : “Gần đây dập chế các hạng kim tiền và ngân tiền Phi long là muốn cho tài hoá lưu thông, làm lợi cho dân, và làm sáng tỏ đại hiệu trong ngoài. Cho nên Nhà nước không tiếc công của mà đặc cách chế tạo. Trước đã do bộ Hộ nghĩ định giá tiền tâu xin cho ban hành. Những người có tai, có mắt chắc đều nghe và thấy cả. Không ngờ cái quân nhỏ mọn còn khinh thường pháp luật, mưu lợi riêng, dụng ý đánh sụt giá như thế. Hơn nữa, chúng là dân nơi kinh kỳ, biết pháp luật mà phạm pháp luật, là cố ý vi phạm ! Đáng lý phải trị đến cực hình, nhưng nghĩ y mới phạm lần đầu, vậy chuẩn cho phạt : dẫn ngay đi các chợ phố, đến mỗi nơi


    lại đánh 10 hồng côn, rao to cho mọi người biết, rồi dẫn đến nơi đã phạm tội, gông nặng một tháng. Khi hết hạn, lại đánh 100 trượng rồi bắt làm việc khổ sai ở cục Ngân tượng.


    “Lại truyền dụ cho trong Kinh và ngoài các tỉnh : Từ nay phàm có đổi hoặc mua tiền này phải theo giá ấn định, chỉ có tăng, không có giảm. Nếu kẻ nào dám gièm chê, đánh giảm giá, sẽ bị khép vào tội chống lại quy chế Nhà nước, xử tội như trên, lại gông thêm một tháng nữa”.


    Nguyễn Đình Phổ, Tổng đốc Ninh – Thái, thân mang quân và voi đến địa đầu tỉnh Thái Nguyên, được tin đầu đảng giặc là Nguyễn Đình Thể, ngụy xưng là Thống chế, họp đảng ở tổng La Đình (thuộc huyện Tư Nông, giáp giới với 2 huyện Hiệp Hòa và Yên Thế, tức nơi thường gọi là “cánh đồng 3 huyện”) mưu làm loạn. Phổ liền đốc quân đuổi bắt, chém được quản cơ, bắt được tham mưu của giặc cùng với 6 tên đồ đảng và thu được cờ, trống, súng lớn, khí giới ; còn thì giặc đều trốn chạy. Phổ liền đến thẳng tỉnh thành đóng lại, phái quyền Phó vệ úy vệ Tráng dũng Vũ Văn Bằng, tiến đến Chợ Đu, hiệp lực với Phó lãnh binh Nguyễn Văn Ưng đánh dẹp. Rồi làm sớ tâu nói : “Đã phái người đi thám vùng Thái Nguyên, thì từ Chợ Rã trở xuống, chưa thấy giặc lan tới, nhưng ở các hạt Từ Sơn, Thuận An, Thiên Phước và Lạng Giang thuộc Bắc Ninh thì quân giặc chiêu tập nhau, có đảng hơn nghìn, có đảng 600, 700, chống lại chức dịch đi bắt quấy nhiễu dân cư. Phủ, huyện sở tại nhiều lần đã xin thêm quân chặn đánh. Bọn thần đã bàn cùng với bố chính, án sát Thái Nguyên, để lại 300 biền binh giao cho Lãnh binh Tống Văn Trị quản nhận phòng thủ. Rồi quay về Bắc Ninh, phân phái người đi tra xét tầm nã giặc. Lại sai Lãnh binh Trần Đình Di đi đôn đốc Nguyễn Văn Ưng, Vũ Văn Bằng tùy cơ hội tiễu trừ, ngăn giữ. Khi nào công việc dẹp giặc ở Bắc Ninh tạm ổn, sẽ tuân dụ trước, lại trở về Thái Nguyên điều khiển”.


    Vua dụ rằng : “Đại binh mới đi đã đánh giết được giặc, rất đáng khen. Những người chém và bắt được 2 tướng giặc, tính mỗi phạm thưởng cho 10 lạng bạc ; những người chém được các tên khác, tính mỗi phạm thưởng 2 lạng. Và mọi người đều được thưởng thêm “thưởng công ngân bài”. Nguyễn Đình Phổ, trước bị ghi giáng 4 cấp ở dưới tên, nay cho khai phục một cấp.


    “Nay ngươi trở về tỉnh, nên đốc sức bộ biền nhằm những nơi quân giặc lén lút nổi lên, lập tức dập đi, không để chúng lan tràn”.


    “Tên Thể đã bị thua, lại đem đồ đảng lén về huyện Yên Thế. Quản phủ Lạng Giang là Lê Đức Phú đem quân đi tuần tiễu gặp phải, bị chúng giết chết. Chúng lại đến huyện nha đốt cướp. Việc tâu lên, vua dụ cho Nguyễn Đình Phổ, phái ngay tướng sĩ đắc lực đi nã bắt. Đồng tri phủ Phạm Minh Dực và thí thự Huyện thừa Lý Đăng Khoa đều bị cách lưu, bắt phải đi nã giặc.


    Điều 3 thớt voi trận ở Nam Định và 2 thớt ở Hải Dương đi theo tỉnh Bắc Ninh dẹp giặc.


    Tham tán Nguyễn Công Trứ đạo Tuyên Quang kéo quân đến núi Bột Lĩnh, xã Vĩnh Ninh làm sớ sai người dâng lên tâu rõ tình hình gần nay lúc tiến lúc dừng : “Từ tổng Thổ Hoàng, châu Đại Man xuất phát, đường qua Kim Tương, Năng Khả (đều tên xã) chỗ nào cũng có quân giặc ngăn trở, đã lần lượt đánh tan. Duy về hữu ngạn sông Gâm giặc đông đến hơn nghìn tên, lập 3 đồn ở núi đất thuộc Nhự Hương, cách sông trông ngắm, thì ra bọn chúng có đến hơn nghìn người. Thần đã ngầm phái thổ hào Bùi Đình Đặng đến đồn Đài Mãn, hiệp lực cùng thổ ty Ma Doãn Khê mang thủ hạ thổ dõng, theo đường bộ, thẳng tiến. Rồi lại cho làm nhiều bè nứa, ở ven sông bên rừng để chờ đợi. Giặc thấy quân của Đặng vụt đến, bèn bắn súng giao chiến. Đại binh bên ta đều vượt sông, tiếp ứng. Giặc bị thương và chết nhiều, vứt cờ trống, bỏ đồn không mà chạy. Khi tiến đến núi Bột Lĩnh, giặc cũng đóng chỗ hiểm chống cự ; quan quân phải chia đường đánh úp lâu mới tan, đuổi bắt được 4 tên, đã lập tức đem chém ở trước quân. Rồi phái thổ, man đi khắp mọi nơi chiêu dụ, nhưng không có một người nào ló ra. Thóc gạo thì chúng mang giấu đi hết ; chỗ nào
  • Chia sẻ trang này