0061.0015

26/1/16
0061.0015
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    không kịp tải đi thì chúng đốt trước. Vả lại, một dải hữu ngạn, năm ngoái, quan quân chưa đi đến nơi, chỗ nào cũng có bố trí phòng bị của giặc. Trong rừng rậm đều mở lối tắt và đào hố thả chông. ở đây, phong tục độc ác, núi sông hiểm trở còn ghê gớm hơn Bảo Lạc. Hiện nay chúng xây dựng đồn bằng đá ở núi Mã Thai và thôn Bán Dạ làm kế cố thủ. Vì gặp kỳ này mưa luôn, nên chưa kịp tấn công.


    “Lại nữa, quân lương từ tỉnh Tuyên Quang vận theo đường bộ đến nơi quân thứ hết 19 ngày. Mỗi chuyến nhiều thì được 160, 170 phương, ít thì trên dưới 100 phương, nửa tháng đi lại đài tải không đủ ăn 3 ngày. Quân càng đi xa thì lương càng chậm trễ. Đường bộ vận tải đã khó khăn, đường thủy lại càng có nhiều điều bất tiện. Tất phải chia đóng làm từng đồn mà chứa dần lương lại thì mới có thể tiếp tế. Nhưng binh dõng tòng chinh, nếu cho đi giữ lương nhiều quá thì lại không đủ người, cho nên cứ phải chờ đợi dằng dai, không phải thấy đường sá hiểm trở xa xôi mà dám thoái thác”.


    Vua dụ : “Giặc ấy sau khi thua vỡ tan tành, còn dám nương nơi rừng rậm, chống cự lại, thật rất đáng ghét ! Nay quan quân tiến đánh được tan, bắt được tội phạm, thì rất đáng khen. Vậy thưởng thụ cho Bùi Đình Đặng, Ma Doãn Khê đều được chức Đội trưởng thuộc tỉnh, và thưởng thêm mỗi người 5 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn. Duy về tình hình quân lương, ta đã sai bộ Binh gạn hỏi người được phái về, thì trong quân đã có vẻ thiếu ăn 2 ngày rồi, mà lương ở tỉnh tải đi còn độ 7, 8 ngày nữa mới tới nơi quân thứ. Nghe nói khiến người phải sửng sốt lo ngại. Nếu quả như lời người đó nói, thì sự thể rất là khẩn cấp ! Sao không chịu tìm mọi cách, hoặc lùi lại chút ít để hộ tống lương, chờ được tiếp tế rồi hãy tiến quân ? Vả chăng, lương thực trong quân là việc quan trọng biết chừng nào, thế mà sao không trình bày rõ ràng vào trong tập tấu mà chỉ phái người từ nghìn dặm về đưa tin, tựa hồ coi làm trò đùa vậy ? Chẳng biết Nguyễn Công Trứ, ngươi nghĩ ra làm sao ! Bây giờ ngươi phải liệu làm thế nào để cho đường tiếp lương chắc chắn không bị ngăn trở. Phải cùng với Lê Văn Đức hai bên tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Còn việc tùy cơ lúc tiến lúc ngừng, khi đánh dẹp, khi phủ dụ, thì ta cũng không hạn định là trong tuần trong tháng phải xong, miễn là làm thế nào mang về cho ta hai chữ “thành công” để thỏa lòng trông mong mà thôi”.


    Vua lại cho rằng Trứ hành quân ở đạo khác, mỗi khi có đệ tập tấu, lại phải tư mượn ấn triện của thự Bố chính Tuyên Quang, không khỏi chậm trễ. Vậy sắc sai quan phần việc chế cho Trứ cái ấn quan phòng “Tham tán tiễu bộ quân vụ” để khi có tập tấu riêng thì dùng. Còn khi đệ sớ hội hàm với Lê Văn Đức thì dùng một ấn quan phòng “Tổng đốc quân vụ”.


    Lại sai truyền dụ cho bọn Trần Đình Di đạo Thái Nguyên : chỉnh đốn binh dõng tìm đường đi tiếp ứng với nơi đóng quân của Trứ (Trứ ở Vĩnh Ninh thông với con đường tắt miền núi Thái Nguyên) để làm thanh ứng phía sau và kiêm việc hộ vệ đường vận lương cho đại binh.


    Bố chính Trần Ngọc Lâm và án sát Hồ Sĩ Lâm ở Tuyên Quang đều bị tội mất chức.


    Điều bổ : Trần Văn Trung, Hữu thị lang bộ Lễ, làm Bố chính Tuyên Quang ; Nguyễn Huy Chiểu, thự Thái thường tự Thiếu khanh làm thự án sát Tuyên Quang.


    Vua dụ Nội các rằng : “Bọn Trần Ngọc Lâm, Hồ Sĩ Lâm, đã có Chỉ giao cho chuyên lo việc quân lương. Trước kia vận lương đường thủy đã làm hỏng việc((1) Chỉ việc làm mất 4 thuyền lương ở Chương Khê.1), ta từng có dụ răn bảo nghiêm quở, mà nay trong quân còn bị thiếu thốn lương thực như thế, thì tội chúng còn gì to hơn ! Luật pháp Nhà nước rất nghiêm, quyết khó lòng khoan thứ. Nay đều cách chức bắt làm lính, cho theo phái viên Đặng Kim Giám để đốc vận binh lương. Vừa rồi đã điều biền binh ở Hà Nội Nam Định hàng nghìn người. Bây giờ lại cho phép Hải Dương phái ngay một quản cơ đắc lực và 400, 500 biền binh tức tốc đến Tuyên Quang để Lĩnh binh Đoàn Văn Cải điều khiển vào việc hộ tống lương thực, và kiêm làm hậu ứng cho đại binh”.


    Bọn Trung vào từ biệt, vua cho vời vào, bảo rằng : “Các ngươi vâng mạng


    đi sứ, xa xôi muôn dặm mới về, ta cũng không muốn bổ đi làm quan ngoài. Nhưng cần lao là phận người bầy tôi, thì ở trong, ở ngoài cũng như thế. Từ khi Nam,


    Bắc Kỳ hữu sự đến giờ, ta dậy sớm ăn trưa, chẳng được lúc nào nhàn rỗi, huống là kẻ tôi con ? Nay công việc ở Tuyên Quang thì việc vận lương là trọng yếu hơn hết. Ta đã phái Đặng Kim Giám đến họp sức để làm, nếu còn chưa tiếp tế được đầy đủ, thì trong các ngươi : một người ở lại tỉnh làm việc, một người mang quân đi đốc vận, đừng ngại vất vả”. Rồi lại nói : “Việc biến ở Tuyên Quang cũng chỉ là bởi quan cai trị phần nhiều không được người giỏi. Ngay khi tên giặc Vân bắt đầu làm phản, nó đem thích vào mặt phải viên của tỉnh mấy chữ rằng : “Quan tỉnh ăn hối lộ”. Thế thì đủ biết bình nhật lũ Phạm Phổ tham lam bỉ ổi như thế nào ! Dùng chẳng được người, đến nỗi như vậy ! Ta là bậc vua cha cũng không thể trốn được trách nhiệm, đêm nằm suy nghĩ thực hối không kịp ! Gương trước sờ sờ, các ngươi nên ghi xương tạc dạ để khỏi phụ cái ơn tác thành của ta”.


    Vua sai thị vệ mang cấp thuốc men cho quan quân các đạo Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên (2 đạo Tuyên Quang, Cao Bằng, mỗi đạo được 3 lạng dầu quế, 10 lọ rượu ngữ phong, 20 lọ dầu bạc hà ; đạo Thái Nguyên được 2 lạng dầu quế, 5 lọ rượu ngữ phong và 10 lọ dầu bạc hà).


    Tổng đốc Lê Văn Đức đạo Tuyên Quang thu phục được đồn An Biên.


    Trước đây, quân ta đến Du Khê, chia làm 3 đạo, tiến đến các đồn Lạp Lĩnh, Vưu Giản, Tùng Tạo. Giặc đều trốn trước cả. Duy ở bờ bên hữu sông Thượng Miện thuộc An Biên, chúng còn phục quân ngăn cản. Đạo quân đi trước, quyền Lãnh binh, cách lưu là Nguyễn Văn Quyền đốc quân đánh, giết được nhiều tên. Giặc vượt sang tả ngạn, chặt cầu phao mà chạy, đuổi không kịp. Đức bèn đóng quân lại An Biên, chiêu dụ nhân dân, sức mua thóc gạo. Rồi đem mọi tình hình tâu lên và nói : “Quân đi đường gặp mưa nhiều ; số lương thực cần dùng chuyên chở đường thủy thì trở ngại, đường bộ cũng khó khăn mà không được bao nhiêu, thường phải dừng lại tìm cách cung cấp ; vì vậy tiến không được mau”.


    Vua dụ : “Quan quân đi lần này, hăng hái giết được giặc, thu phục được đồn An Biên, rất đáng khen. Nguyễn Văn Quyền chịu xuất lực ở mặt trận, nay gia ơn đổi làm giáng 4 cấp, lưu dụng. Còn những người dự trận là bọn Phó quản cơ Nguyễn Đức Chung đều thưởng mỗi người 3 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn. Còn việc quân lương, ta đã hạ nghiêm dụ cho tỉnh Tuyên Quang phải thượng khẩn đốc sức vận tải. Nhưng vì đường núi xa xôi, hiểm trở, nếu chưa kịp đến, thì ngươi cần nên tìm nhiều cách chiêu dụ nhân dân, đem đại nghĩa khuyên bảo, nhưng đừng ngại đắt rẻ, mà mua thóc gạo với giá thỏa thuận cần cho quân lương được đầy đủ.


    “Về đạo quân của Tham tán Nguyễn Công Trứ, đã có dụ sai tìm đường hội quân với nhau. Vậy ngươi phải trù tính thế nào, làm cho đúng khớp để chiến công được mau chóng hoàn thành. Thảng hoặc sự thế có cần phải rộng thêm ngày tháng, thì ta cũng không giục giã đốc trách. Không để vua cha phải lo lắng, đó là tấm lòng thành thực của ngươi là tôi con”.


    Bọn Tướng quân, Tham tán Gia Định tâu nói : “Con giặc Chắm là Nguyễn Văn Trịnh đã giải đến trong quân. Bọn thần đã cho dẫn nó lên đầu ngoại quách gọi dụ bố nó. Tên Chắm sai đồng đảng cảm tử là Trần Đình Tam ra xin xá tội sẽ lập tức ra hàng. Bọn thần đã hạn cho chúng 3 ngày. Lại có lũ ngụy trung quân Phó tướng tên là Chương và ngụy Đô quản lãnh tên là Long hơn 10 người ủy đồng đảng là Nguyễn Văn Long mang mật thư ra xin làm nội ứng, tiếp đón quan quân. Việc lộ, bị Chắm giết”.


    Sớ đến nơi, vua phê : “Phải tức tốc ấn định ngày đánh thành. Giặc đã táng tận lương tâm, quyết chẳng ra hàng đâu. Còn như các đầu đảng giặc đã giết lẫn nhau thì đồ đảng càng chia rẽ, tất không bền chí. Đó lại là cơ hội tốt”.


    Mãn hạn, quả nhiên nghịch Chắm không chịu ra hàng, bèn đem Nguyễn Văn Trịnh, Trần Đình Tam lăng trì xử tử.


    Sau đó bố giặc Dự là Lâm cũng bị giải đến, sau lên trên trường lũy chiêu dụ con nó, nhưng tên Dự chẳng đoái, bèn giết Lâm đi.


    Bọn Thự phủ Nguyễn Tú, Chưởng cơ Lê Văn Thụy, tỉnh Quảng Trị đánh giặc Xiêm ở bờ phía bắc Khung Giang, thắng trận. Trước kia, quân ta mới tới bản Bôn Thần thuộc Tầm Bồn, giặc bỏ trại, chạy trốn trước, bèn liền ngày tiến thẳng đến bản Bồ Xân (một trong 28 bản ở gần Khung Giang). Được tin có mấy trăm quân giặc đóng ở phía bắc Khung Giang, bọn Tú liền đốc binh và voi chia đường đánh khép lại. Giặc thua to, tranh nhau sang sông chạy. Voi chiến của ta ở trong sông, húc chìm hơn 10 chiếc thuyền giặc, làm chết đuối hơn 100 tên. Ta bắt được 4 tù binh, chém được 3 thủ cấp, thu được khí giới và voi ; còn thì chúng vượt được sang Nam Ngạn, trốn thoát. Quân ta lại quay về chỗ 28 bản tầm nã, nhưng đến đâu, chúng đều trốn hết. Cho do thám ở La A Cuộc thuộc Mường Bổng thì giặc thấy bóng gió đã trốn xa cả, quân ta bèn rút về sông Tấm Lục, rồi làm trạng tâu.


    Vua phê rằng : “Hăng hái giết giặc như vậy đủ thấy các ngươi thực lòng vì nước, ta xiết bao vui mừng !”. Liền xuống dụ : “Giặc Xiêm trước đây đã bị quan quân đánh thua nhiều lần, còn mờ tối không biết sợ chết, lại dám đi dụ dỗ các bản ở Mục Đa Hán trở lại sinh sự. Nay quan quân hăng hái xông lên chém bắt được giặc, lại đốc thúc voi trận xông phá được thuyền giặc, thực là đắc lực ! Vậy Nguyễn Tú trước bị giáng 4 cấp, nay cho khai phục 2 cấp ;


    “Hồ Hữu Thẩm trước bị giáng 2 cấp, nay cho khai phục cả ;


    “Lê Văn Thụy, Phạm Phi và Lãnh binh Nguyễn Cửu đều thưởng gia quân công 1 cấp, lại thưởng mỗi người 1 đồng kim tiền Phi long hạng nhỏ và 1 chiếc áo trận bằng đoạn gấm thêu kim tuyến ;


    “Các quản cơ, đều thưởng mỗi người 10 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn, 1 cái áo trận bằng sa thêu hình con mãng ;


    “Các suất đội, đều thưởng mỗi người 3 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn và 1 chiếc hầu bao bằng gấm.


    “Lại nữa, lần thắng trận này do binh lính điều khiển voi có nhiều công nhất, vậy thưởng cho :


    “Những quản tượng, mỗi người 1 đồng kim tiền Nhật Nguyệt Tinh Vân hạng nhỏ và 1 chiếc áo trận bằng nhung vải ;


    “Những phó quản tượng, mỗi người 3 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn và 1 chiếc áo trận bằng sa tốt ;


    “4 viên chánh đội trưởng suất đội vệ Kinh tượng đều thăng thụ cai đội ;


    “Các binh, dũng dự trận, thưởng chung 1.000 quan tiền ;


    “Lê Đăng Khiêm, Tri châu Hướng Hóa, đi tòng chinh, thưởng chức đồng Suất đội ;


    “Đào Văn Nhuận lại mục Tầm Bồn, thưởng hàm thổ Huyện thừa ;


    “Ngoài ra, các thổ ty, thổ dõng đều thưởng cho áo, quần và tiền có từng bậc khác nhau.


    “Vả lại, quân ta 3 lần tiến đánh đều luôn được toàn thắng, quân Xiêm đã khiếp uy trốn xa, thì cũng đủ lừng lẫy uy danh rồi. Vậy cho phép lập tức khải hoàn, rút quân về tỉnh thành Quảng Trị nghỉ ngơi và đều ban cho ăn yến, xem hát một lần. Rồi Lê Văn Thụy và Phạm Phi mang số quân lính do Kinh phái trước trở về Kinh, 3 tên tù binh Xiêm và 1 tù binh Man, cho áp giải về Nghệ An. Tù binh Xiêm thì đem chém, đưa đầu đến bêu ở Trấn Ninh, Trấn Tĩnh. Còn tên tù binh Man thì thả cho về Khung Giang, cho mang theo các đạo dụ, hịch về phân phát cho các Man để chúng chuyển báo lẫn cho nhau”.


    Lê Văn Thụy, Phạm Phi đã về đến Kinh, vào hầu. Vua cho vời lên điện, tự tay rót rượu ban cho, và cho mỗi người một chiếc nhẫn vàng chạm con cá. Lại sai nội thần ban rượu cho khắp các viên cai đội và cho mỗi người 1 đồng kim tiền.


    Rồi vua dụ rằng : “Các ngươi đã vì triều đình xuất lực, đánh một trận thành công ngay, thực đáng khen thưởng. Ta rất để tâm đến các ngươi đi chuyến này, trèo non lặn suối, xông pha lam chướng, ngày nay khải hoàn hãy cho phép nghỉ ngơi mấy ngày, sau đó lại theo lệ thường vào hầu”.


    Vì kho Khánh Hòa thóc chưa được đầy, mà thuế chính cung hằng năm nộp vào thì thóc ít mà tiền nhiều, vua bèn cho phép quan tỉnh chiếu số lương tỉnh, phát bằng gạo, thì đổi phát bằng tiền ; gạo lương ăn thì đến khi có lúa mùa và gạo từ miền Nam buôn đến, tăng giá mà mua cho đủ chi dùng một năm ; còn số thóc tô hằng năm, hãy cứ chứa lại.


    Lại thấy trước đây nhân ở Nam Kỳ hữu sự, Bình Thuận phải chi tiêu nhiều, nên dụ sai Khánh Hòa chuyển về Bình Thuận từ 3 đến 5 vạn quan.


    Đạo quân của Tham tán Nguyễn Công Trứ thuộc đạo Tuyên Quang tiến đóng ở xã Vĩnh Khánh, được tin quân giặc mưu chặn đường tiếp lương. Trứ đang đêm sai người đi tuần thám, thấy một toán từ thôn Bắc Mân lẻn ra phía sau quan ta bèn lập tức sai thuộc hạ là lũ Nguyễn Quang Diệu mang 200 thủ hạ dõi theo. Giặc nấp chỗ rậm, bắn súng ra. Diệu sấn đến, chém được một thủ cấp và bắt được 1 tên. Giặc bèn trốn chạy.


    Trứ làm trạng tâu nói : “Từ chỗ quân thứ đến Côn Lôn, quân đi hết 4 ngày đường, mà lương quân thì đã hết. Lương ở tỉnh tải đến bằng đường bộ, một chuyến chỉ ăn được một ngày, hôm sau lại hết. Đã cho đi tìm kiếm đổi mua, đều không được. Vả lại, giặc vẫn ỷ vào thế hiểm của Côn Giang, ta nên phải đề phòng. Nếu vội tiến sang qua sông mà đường tiếp lương bị nghẽn thì lầm lỡ không phải nhỏ. Hiện đương sức Thổ ty là bọn Ma Doãn Dưỡng, Ma Doãn Thản, đến các động Man, hễ thấy có chứa thóc, thì liệu lấy mà trả tiền. Nếu tìm được đủ 5 ngày lương, thì quân mới có thể tiến được. Vì thế còn nán lại để chờ”.


    Vua dụ : “Đảng giặc âm mưu triệt đường tiếp lương của ta, mà quan quân vào sâu nơi hiểm, ra sức đánh lui được giặc, cũng là đáng khen. Nay thưởng thụ Nguyễn Quang Diệu làm Đội trưởng thuộc tỉnh, và cấp cho tấm “thưởng công ngân bài”. Còn việc lương quân, ta trước đã đốc sức làm khẩn cấp rồi. Ngươi nên nghĩ cách khi tiến, khi ngừng, thế nào cho trúng cơ nghi là được”.


    Bọn Tướng quân, Tham tán ở quân thứ Gia Định tâu nói : “Quan quân hai đạo Nam Vang và Hà Tiên đều đã tập họp đông đủ ở khu vực tấn sở. Khí cụ đánh thành đã tiếp tục sửa soạn gần xong. Đã biểu thị các biền binh ở tấn sở : ai tình nguyện xông trước lên thành giết giặc, thì thưởng trước cho một quan tiền ; nếu có ai bị chết trận, thì xin cho 1 con, hoặc em, hoặc cháu, được tập ấm. Số tình nguyện có đến hơn 7700 người, ai cũng khoa chân múa tay chờ đợi. Đã tức thì truyền rõ hiệu lệnh ấn định kỳ hạn đánh thành”.


    Vua phê : “Cổ võ lòng hăng hái của quân sĩ, như thế rất tốt. Nên sớm hạ lệnh đánh thành. Phen này cốt phải đánh bằng được mới thôi ; nhất định phải thành công, nhất định phải hậu thưởng”. Bèn xuống dụ rằng : “Lũ giặc liều chết giữ cô thành tình thế ngày một cùng quẫn. Cứ theo lời tâu, thì số biền binh tình nguyện xông trước lên thành đến hơn 7700 người, đủ thấy tướng sĩ ta, chí dốc giết thù, lòng đầy căm giặc. Đã đồng tâm gắng sức như vậy, lo gì chẳng hạ được thành ? Ngày hạ thành, binh dõng có ai bị trận vong thì cho 1 con, hoặc 1 em, hoặc 1 cháu suốt đời được miễn đi lính, nộp thuế thân và tạp dịch. Suất đội trở lên, ai không sợ tên đạn, mang quân xông trước lên thành mà không may tử trận, thì cho con, hoặc em, hoặc cháu, được 1 người tập ấm, lại hậu cấp tiền tuất cho gia đình. Tập ấm thì theo lệ, hưởng kém quan hàm người đã chết một bậc. Vả lại, trước đã có dụ nói rõ về kỷ luật : phàm tướng sĩ, biền binh, nếu ai lùi bước chùn lại thì chém ngay để rao mọi người biết. Nay lại định rõ lệ thưởng, không tiếc ơn huệ ; tưởng đã đinh ninh nhắc đi nhắc lại về sự thưởng phạt của triều đình là rất đúng chắc, nói sao làm vậy. Vậy, từ Tướng quân trở xuống nên hết sức mưu toan báo đáp. Ghi công cờ biển ở một chuyến này, phải nên cố gắng !”.


    Bọn Nguyễn Xuân, Trương Minh Giảng và Lê Đại Cương ở quân thứ Nam Vang tâu nói : “Đồn An Man ở ngoài thành Nam Vang cũ, xây đắp đã gần xong (đồn cao 6 thước 3 tấc, rộng 27 trượng). Tấn sở Lô An ở đối diện với đồn này cũng sẽ lần lượt xây đắp. Duy có cái thành cũ trước bị giặc Xiêm phá hủy mà địa thế thì chật hẹp, bờ sông thì vỡ lở. Nay chọn được chỗ đất La Kết là nơi cao ráo sáng sủa, lại ở vào quãng giữa sông Tiền Giang và Hậu Giang, hình thế đủ làm nơi căn cứ được. Từ đấy đến thành mới An Giang và đồn Châu Đốc, đường thủy và đường bộ đều đi tiện cả. Nếu cho vua Phiên lập thành trì ở đây thì thực là thỏa đáng và tốt. Đã hỏi ý kiến vua và các quan Phiên họ đều mong muốn giống nhau. Vậy xin y cho vua Phiên dời đóng về đây để được yên ổn chỗ ở”.


    Vua chuẩn y lời tâu.


    Sai hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, mỗi tỉnh tải 3 vạn quan tiền kho đến Gia Định ; Gia Định chuyển một nửa số tiền ấy đi Vĩnh Long, rồi Vĩnh Long liệu trích lấy 1 hay 2 vạn quan tải đến đồn An Man ở Nam Vang.


    Lê Thuận Tĩnh, Chưởng cơ cách lưu, chết ở quân thứ sách Trú Cẩm. Quan tỉnh tâu lên. Vua dụ bộ Binh rằng : “Lê Thuận Tĩnh trước được phái đi dẹp giặc ở vùng Trấn Tĩnh, vì điều khiển sai lầm, bị cách lưu. Y biết xấu hổ, cố gượng bệnh đi tòng chinh, mong thu công sau để chuộc lỗi trước. Không ngờ công chưa thành đã vội ốm chết, thực đáng thương. Vậy gia ơn cho y được khai phục chức Vệ úy, hàm Chánh tam phẩm, được chiếu theo phẩm hàm cấp tiền tuất và thưởng thêm 30 lạng bạc”.


    Tổng thống Tạ Quang Cự và Tham tán Vũ Văn Từ đạo Cao Bằng đánh thổ phỉ, thắng luôn.


    Quân Cự đóng ở Nhượng Bạn. Được tin quân giặc từ núi Kim Mã thuộc Thái Nguyên chia đường lấn qua Ngưu Lĩnh, dựa chỗ hiểm để chống cự. Cự bèn thân đốc lính và voi tiến đến, đốc sức Phó lãnh binh Văn Hữu Xuân lập mưu đánh úp ban đêm, chém được phó cơ, trưởng hiệu cùng 6 thủ cấp giặc, và bắt sống được 4 tên. Giặc tan chạy, hôm sau lại đến Đinh Lĩnh chống cự (Ngưu Lĩnh, Đinh Lĩnh đều tiếp giáp địa phận Gia Bằng). Từ giờ Mão đến giờ Thân, quân ta chia đường giáp công, chém được 29 thủ cấp giặc và thu được súng lớn cùng khí giới. Giặc tan vỡ thua to. Đuổi đến Linh Mai thuộc Thái Nguyên là nơi sào huyệt giặc, đốt phá rồi về.


    Đảng giặc ở mạn thượng du Cao Bằng tràn xuống Thông Sơn, Trung Thảng. Tham tán Vũ Văn Từ thân đốc biền binh tiễu bắt, Tuần phủ Lê Đạo Quảng cũng phái quân đến tiếp ứng : chém được 8 thủ cấp giặc, còn đều chạy trốn. Cự làm trạng tâu nói : “Sào huyệt giặc Vân ở chỗ giáp giới thượng du của Tuyên Quang, Cao Bằng và Thái Nguyên, phía trên từ Bế Lĩnh chạy suốt Ngọc Mạo, Vân Trung cho tới một dải Long Lũng núi non bát ngát hiểm trở, xa rộng mông mênh. Có 3 đường thông đi hạt Cao Bằng : một là do Bế Lĩnh, Nậm Chử thông đến Lương Y và Thông Nông, là thượng lộ ; hai là do Di Lũng, Tháp Na thông đến Trung Thảng, Lương Năng, là trung lộ ; ba là hạ lộ thì do Long Lũng qua Vụ Nông, Linh Quang, Linh Mai thuộc hạt Thái Nguyên, thông đến Gia Bằng. Nay nếu chỉ để ở Gia Bằng một đạo quân, còn tiến cả về phía trước thì giặc sẽ họp hết cả quân thành toán lớn, nhằm chỗ sơ hở của ta mà xâm lấn. Hoặc giả ngăn chặn không xuể và đường sá xa cách, tiếp ứng hơi chậm, lỡ chúng có thể quấy rối phía sau của ta, thì về mặt Gia Bằng, thần chưa yên tâm được. Vậy thần đã phi tư cho Tổng đốc Ninh – Thái khẩn cấp giục quan quân hạt Thái Nguyên tiến mau chờ khi tiến đến đầu hạt Kim Mã thì giao riêng cho Văn Hữu Xuân 1000 binh dõng để hiệp lực tiễu phỉ vùng này. Rồi thần thân mang đại binh, hội đồng với Vũ Văn Từ và Lê Đạo Quảng lên đường xông trước vào Ngọc Mạo, Vân Trung, để làm cho xong việc”.


    Vua phê : “Quan quân liền ngày đánh giết thổ phỉ, thực đáng khen ngợi. Lời bàn về quân cơ như thế cũng phải”. Rồi xuống dụ rằng : “Cứ lời tâu, quan quân mạo hiểm tiến đánh, đều hăng hái cố gắng xông lên, đã thắng trận luôn. Tạ Quang Cự, Vũ Văn Từ điều khiển được việc. Vậy mỗi người được thưởng quân công thêm 1 cấp, 1 khẩu súng tây loại điểu thương có vẽ hoa bằng vàng, và 1 hầu bao bằng gấm. Những người đắc lực nhất trong trận Đinh Lĩnh là :


    “Văn Hữu Xuân, thống quản đạo này, trước bị giáng 1 cấp, nay cho khai phục và thưởng 1 chiếc áo trận bằng gấm thêu kim tuyến ;


    “Quản cơ Hoàng Nghĩa Uyển, Phó quản cơ Trần Văn Vân trước bị giáng cấp nay cũng được khai phục ;


    “Thí sai Phó quản cơ Lê Văn Quảng, quyền sai Phó quản cơ Trần Văn Luận đều được thực thụ ;


    “Quản cơ Vũ Văn Nguyên được dùng như Quản cơ và Phó quản cơ là Vũ Văn Ngôn, Nguyễn Quang Tửu, đều được thưởng quân công gia kỷ lục 2 thứ, mỗi người lại được một chiếc áo trận bằng đoạn hoa dệt con mãng ;


    “Chánh đội trưởng suất đội Nguyễn Hoàng, Vũ Quang Huy, Trần Bảo Thư đều cho thưởng thụ Cai đội và mỗi người được 1 chiếc áo nhung vải.


    “Trận Ngưu Lĩnh, công trạng vào hạng thứ ;


    “Cai tổng Bế Nhân Tuyển dẫn đầu trận đánh úp ban đêm, được thưởng thụ Chánh đội trưởng thuộc tỉnh ;


    “Bọn quyền sai Đội trưởng Nguyễn Trọng Quỳnh, Phan Tuyển, Thái Tăng, xung phong phá trận, đều được thực thụ Chánh đội trưởng, và mỗi người lại được 1 chiếc áo nhung vải ;


    “Bọn thự Vệ úy Lê Văn Thảo, thự Phó vệ úy Nguyễn Tình Lộc và Nguyễn Văn Tập tiếp sau xông vào giết giặc, đều được thực thụ, mỗi người lại được 1 chiếc áo trận kiểu bồng vai bằng hàng sa, hoa mãng tròn ;


    Phó quản cơ Nguyễn Văn Trị, thưởng quân công gia kỷ lục 1 thứ, lại thưởng 1 chiếc áo trận bằng sa hoa dệt con mãng.


    “Trận Thông Sơn, Trung Thảng cũng có bắt được giặc, nay thưởng :


    “Quản vệ Nguyễn Tiến Lâm trước bị giáng 1 cấp, nay cho khai phục ngay ;


    “Lãnh binh Vũ Văn Tình, Quản vệ Lê Bá Dần đều được quân công gia kỷ lục 2 thứ, mỗi người lại được một chiếc áo trận bằng sa kiểu bồng vai, hoa mãng tròn ;


    “Phó quản cơ được dùng như Quản cơ và được hàm Quản cơ là Nguyễn Văn Ký, Đỗ Văn Huân, Đoàn Văn Sách, Đàm Vũ Kiên, Nguyễn Hữu Đĩnh đều được quân công gia kỷ lục 2 thứ, lại được mỗi người 1 chiếc áo trận bằng sa hoa mãng. Ngoài ra, thưởng tiền, bạc, hầu bao gấm có từng bậc khác nhau. Lính và dõng, thưởng chung 1000 quan tiền.


    “Vả, nay đảng giặc luôn bị thua đau, là lúc ta có thể thừa thế. Hơn nữa, đạo Tuyên Quang, quân Lê Văn Đức đã đến An Biên, quân Nguyễn Công Trứ hiện đương tiến thẳng vào Côn Lôn ; Trần Đình Di, Nguyễn Văn Ưng ở Thái Nguyên đều đã được phép tìm đường, hợp quân với Nguyễn Công Trứ để làm thanh thế cứu viện và ấn định nhật kỳ, xông vào sào huyệt Vân Trung. Các ngươi : Tạ Quang Cự, Vũ Văn Từ và Lê Đạo Quảng cần nên kích lệ tướng sĩ thừa dịp thắng, trừ diệt cho sớm hết ngay những dư đảng của giặc ở lân cận, rồi tư cho bọn Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ hẹn nhau ba đạo quân cùng tấn công cốt sao vạn toàn và tất thắng, nếu phải kéo dài đến hàng tuần hàng tháng, ta cũng không trách”.


    Vua đến khe doành ở Hữu Trạch xem xe “Thủy hỏa ký tế”, thấy công trình nhanh chóng, rất hài lòng. Thưởng cho viên trông coi làm xe ấy là Trương Viết Súy kỷ lục 1 thứ và 3 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn. Sai viên Kinh doãn chọn chỗ đất ở nơi đó lập miếu thờ chung hai vị thần doành khe và thuốc súng, hằng năm, đến kỳ trọng xuân luyện thuốc súng thì mổ trâu, dê, lợn để tế. Lại sai lập xưởng ở Thái Bình đài, vát 300 lính để theo phương pháp luyện thuốc súng. Lại cho rằng số thuốc súng ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và Bình Thuận không thấy có mấy, cho tải diêm tiêu, lưu hoàng ở kho trong Kinh phân phát cho các tỉnh ấy luyện thuốc súng để lưu trữ (Quảng Nam 5000 cân, Quảng Ngãi 4000 cân, Bình Định 6000 cân, Phú Yên 3000 cân, Bình Thuận 5000 cân, Khánh Hòa 1000 cân).


    Lại cho Lãnh binh Quảng Trị là Nguyễn Cửu Đức sung Lãnh binh Quảng Nam; Vệ úy vệ Hậu nhị doanh Vũ lâm là Trần Văn Vân do chức Vệ úy, trật Tòng nhị phẩm sung Lĩnh binh Quảng Trị.


    Nguyễn Khả Bằng, Tuần phủ Thanh Hoa, tâu hặc về việc Bố chính Nguyễn Đăng Giai đài tải lương gạo phát cho thổ binh, còn thừa không vào sổ nộp trả, may quần áo phát cho thổ ty, thổ mục, không cho đồng sự được dự biết. Đăng Giai đương ở Thạch Thành, được tin này vội vàng về tỉnh, khấu đầu chịu lỗi. Khả Bằng lại tiếp tục hặc Đăng Giai đã tự tiện bỏ nơi quân thứ. Có Chỉ sai [Giai] phải tâu lại cho minh bạch việc này. Khi tâu lên, vua thấy lời lẽ phần nhiều tỏ vẻ run sợ, bèn bảo bộ Hình rằng : “Nguyễn Đăng Giai thân làm Bố chính, một chức quan to, nếu có điều không phải, bị người ta hặc thì tự khắc sẽ có công nghị triều, lẽ nào lại đến trước viên tuần phủ mà lạy lục, vẫy đuôi xin thương như thế ! Huống hồ Đăng Giai đương cầm quân dẹp giặc, mới nghe nói bị tâu hặc, đã vội bỏ quân, lặn lội mà về, cử chỉ sao lại sai lầm đến thế ! Vậy nên giao cho nghị xử ngay”. Cuối cùng Đăng Giai phải giáng 3 cấp. Còn Khả Bằng, vì không biết đồng lòng hợp sức để giúp đỡ nhau, cũng phải truyền Chỉ ban quở.


    Thuyền binh của Trần Tử Long bộ biền tỉnh Quảng Đông nhà Thanh bị bão dạt vào cửa biển Y Bích của Thanh Hoa. Vua sai quan tỉnh giúp cho tiền, gạo. Lại sai Viên ngoại lang bộ Binh là Lý Văn Phức và Hàn lâm Thừa chỉ Lê Bá Tú đi thuyền hiệu chữ “Bình”, hộ tống về.


    Hoãn việc triều cống năm ấy cho nước Chân Lạp.


    Vua dụ bộ Lễ rằng : “Chân Lạp là nước phiên thuộc của ta đã lâu, đời đời tiến cống. Trước đã cho phép cứ 3 năm một lần cống và mỗi năm một lần sai sứ vào chầu. Từ trước giờ họ vẫn kính thuận thành khẩn, tiến cống đầy đủ. Nay tới kỳ làm lễ thường cống, nhưng nước ấy, năm ngoái, bỗng bị giặc Xiêm xâm lấn, cướp đốt thành Nam Vang, đến nỗi vua Phiên phải mang gia quyến lánh vào nước ta. Vì nghĩ cái nghĩa nâng đỡ nước nhỏ, cứu giúp nạn nhân, nên ta đã lập tức sắc cho sở tại hậu cấp tiền gạo, lại phái đại đội quan quân vì Phiên vương mà quét sạch giặc Xiêm. Rồi ban sắc thư, thưởng cho phẩm vật và sai quan hộ tống về nước. Lại sai viên Bảo hộ là Trương Minh Giảng khéo lo sửa sang chỉnh đốn để nước ấy chóng được đầy đủ vững vàng. Đó là cái ơn vỗ về vun xới của ta. Phàm ai có tai mắt đều rõ cả. Vả lại, nước Phiên giữ chức phận, tiến cống hằng năm, theo lễ, là lẽ đương nhiên ; nhưng lòng nhân của triều đình vỗ về người xa thì chỉ có hơn lên mà không thôi. Vậy lễ cống thường niên năm nay gia ơn cho miễn khỏi phải sai sứ, để đến sang năm ất Mùi, hai cống sẽ tiến nộp một thể”.


    Cho phép dân tỉnh Biên Hòa năm nay được nộp thuế trừu nam((1) Trừu : một thứ hàng tơ, ta dệt, có tuyết thô sơ.1) thay bằng tiền.


    Hai tỉnh Hà Nội, Bắc Ninh tâu nói : “Mỗi tỉnh mộ được 50 người dân ngoại tịch ở vùng Quảng Bình trở về phía nam, xin đặt làm đội tuần thành Nhì, còn đội tuần thành cũ thì đổi là đội tuần thành Nhất. Riêng Hà Nội lại xin mộ thêm để sung bổ vào 2 đội pháo thủ Tứ và Ngũ. Vua đều chuẩn y cho.
  • Chia sẻ trang này