0061.0016

26/1/16
0061.0016
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    Lê Văn Đức, Tổng đốc đạo Tuyên Quang, đóng quân ở đồn An Biên, đem tình hình giặc và việc quân nhu thiếu thốn làm sớ tâu nói : “An Biên đã khôi phục. Đã cho thám thính tình hình giặc thì về mặt trên, An Định ở đầu địa giới Bảo Lạc và các xã Tùng Bách, Du Gia, Đại Miện, Tiểu Miện, giáp Bảo Lạc đều theo giặc cả. Và con đường thông ra đồn phía bắc Tụ Long, đều có giặc đóng chặn, mà thóc lúa ở trong nhà và ngoài đồng chúng đều cất giấu đi sạch không cả. Về phía dưới, đường bộ thì có tướng giặc là Nguyễn Thế Nga cùng với giặc Chương hợp quân đến vài nghìn, lấn qua các tổng Lâm Đường, Tiên Yên và Mục Hà thuộc Vị Xuyên, chiếm cứ đồn An Long, chia đảng đóng ở xã Bạch Sa chực chặn đường lương của ta. Châu Đại Man cũng có tướng giặc Nông Văn Nghiệt từ Vân Trung đến họp đảng cùng giặc Khải. Vả, địa giới An Biên ở vào khoảng giữa, đường lối ăn thông với mọi nơi, nếu một khi rời khỏi nơi này, không đặt trọng binh đóng giữ, thì e giặc thừa cơ, sẽ lại chiếm mất. Ngó chỗ này, hỏng chỗ kia, tiến cũng dở, ngừng lại cũng dở. Số lương thực quân nhu thì dùng rất lớn. Từ khi đường thủy bị trở ngại, không chuyển vận được, chỉ còn trông vào đường bộ. Tuy tỉnh đã hết lòng làm việc, nhưng đường sá hiểm trở xa xôi, lại gặp mưa dầm luôn, chuyên chở rất khó. Lương đem đến đâu, ăn đến đấy, tiếp tế không được đầy đủ. Đã nhiều lần sức mua lương ở quanh vùng, nhưng không được là bao. Mấy ngày gần đây, trong quân đã có vẻ thiếu thốn. Lại tiếp được tin của Tham tán Nguyễn Công Trứ báo rằng đạo quân ấy cũng thiếu lương, đã phải ăn khoai rừng, rau núi, và bất đắc dĩ, sắp phải chuyển sang tả ngạn để tìm lương ở vùng ven sông. Thần đã khẩn cấp tư cho Công Trứ phải gấp đến An Biên, hội họp trù tính cho khỏi lỡ việc. Thiết nghĩ hai đạo tiến quân chỉ vì lương thực không kế tiếp, đến nỗi phải chậm lại, chẳng khác nào cứ phải dừng quân lại chờ từng miếng cơm, thực rất lấy làm lo sợ”.


    Vua vụ bộ Binh rằng : “Việc hành binh thì lương thực là món rất quan trọng. Nay chuyên chở khó khăn như vậy thì có lý nào quan quân đói bụng mà giết được giặc ? Vậy truyền dụ cho Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ khi tiếp được dụ này, phải xét ngay số quân lương hiện tại, nếu tỉnh đã vận đến tạm được đủ dùng, có thể tính bước tiến thủ được, cho phép tuỳ tiện làm việc, một mặt tâu rõ, một mặt tiến quân. Lại tư cho các đạo quân Cao Bằng, ấn định ngày hội tiễu. Nếu quân nhu còn thiếu thốn, chưa tiện tiến hành được, thì đều cho rút quân hiện mang theo về tỉnh thành Tuyên Quang nghỉ ngơi, chờ Chỉ sẽ tính đến cuộc tiến sau. Lại truyền dụ cho Tạ Quang Cự, Vũ Văn Từ và Lê Đạo Quảng đạo Cao Bằng đều trở về Cao Bằng, sửa sang thành quách, cho quân lính ở lại đó nghỉ ngơi, chờ Chỉ. Nếu có tiếp được tờ tư của bọn Lê Văn Đức xin hội quân để tiến thủ thì cho phép một mặt tâu lên, một mặt xuất phát cho kịp cơ hội. Các Lĩnh binh Trần Đình Di và Nguyễn Văn Ưng đạo Thái Nguyên thì phải phái người do thám hai đạo quân [Đức và Trứ] Tuyên Quang nếu họ đem quân về, thì cũng được phép rút về Thái Nguyên nghỉ ngơi, chờ Chỉ”. Lại sai Lê Văn Đức cho viên Chưởng cơ sung Lãnh binh Hà Nội là Trần Văn Lộc về Hà Nội trước để cung chức.


    Quan quân ở quân thứ Gia Định đánh giặc ở thành Phiên An cũ, không thắng. Tướng quân Tống Phước Lương, Tham tán Lê Đăng Doanh đều bị giải chức. Nguyễn Xuân được trao chức Thảo nghịch Tả tướng quân.


    Trước kia, trong quân giao ước với nhau : bốn ngày trước thì đánh thành, địa phận tấn sở buộc phải ngày đêm bắn các hạng súng lớn nhỏ vào thành làm cho giặc mỏi mệt ; ban đêm, lại bất thần treo đèn lồng, bắn pháo thăng thiên, làm rối loạn tai mắt giặc. Đến ngày đánh, đầu canh năm, cho bắn đại hỏa pháo, tỏa khói mù vào chỗ trung tâm chiến đấu trong thành. Rồi biền binh mang theo khí cụ đánh thành, do 4 mặt tiến sát đến chân thành. Tướng sĩ binh dõng tiến theo. Các Tướng quân, Tham tán thân ra đốc chiến. Giặc ở trên thành ném gạch đá và bắn súng nhỏ xuống. Quân ta dùng hỏa yên, hỏa tiễn và ống phun lửa bắn vào, hết sức đánh phá từ giờ Sửu đến giờ Thìn. Những người leo thang thì bị giặc ẩy ngã, những người vượt hào thì bị đạn bắn, đá ném bị thương, rút cục không sao leo lên được. Duy có viên quyền thí Đội trưởng cơ Hướng nghĩa là Trương Văn Sĩ leo lên thang, đâm trúng một tên thủy quân đô quản lãnh giặc ngã xuống và chặt được đầu. Các tướng sĩ các mặt thành đều mỏi mệt. Số chết trận hơn 300 người và bị thương hơn 2400 người. Tướng quân Nguyễn Văn Trọng cũng bị thương. Họ bèn thu binh lui ra và đem tình hình làm sớ tâu, nhận tội, nói : “Trận đánh thành này đều đã hết lòng trù tính, hiệu lệnh rất đều, ba quân cùng cố sức xông pha dưới mũi tên ngọn giáo, ai cũng muốn giết hết giặc để tỏ lòng nghĩa phẫn. Ngặt vì thành này hào sâu, tường cao, đánh phá thực khó, mà đánh bằng hỏa yên, hỏa tiễn cũng vô hiệu, cho nên rút cục không thành công. Tham tán Nguyễn Xuân đã từ Nam Vang về đến quân thứ, đương họp bàn để tính cuộc lại đánh sau”.


    Vua sai đình thần truyền dụ rằng : “Đảng giặc cùng khốn, bám giữ cô thành gần một năm nay. Ta thường phải dậy sớm, ăn trưa, nặng lòng lo nghĩ. Phàm các việc lương thực, khí giới, súng đạn trong quân, không cái gì là không đem hết tâm tư, suy đi tính lại, cho được mọi thứ đầy đủ. Dĩ chí những phương lược đánh dẹp, đã hiểu dụ chỉ thị, không việc gì là không làm đúng thời nghi. Nhiều lần thấy tâu nói bọn chúng có những đứa bị súng lớn bắn chết, có những đứa ra đồn lũy đầu hàng ; hiện nay chúng không còn được bao nhiêu, tình thế một ngày một cùng quẫn. Lại cứ theo lời tâu thì quân ta không ai là không khoa chân múa tay, tình nguyện xông trước lên thành. Ta những chắc rằng chỉ đánh một trận là thành công, không có lý gì không thắng. Không ngờ điều khiển sai lầm, công phá không nổi, để biền binh bị thương vong nhiều đến hàng trăm, hàng nghìn. Xem tờ tâu, không xiết quá đỗi


    tức bực !


    “Vả lại, các Tướng quân, Tham tán đều mang ơn nước đã dày, nay nhận sự giao phó cầm quân dẹp giặc trọng đại biết bao. Thế mà đánh dẹp không có mưu lược, đến nỗi hỏng việc như vậy, đáng lý phải chiếu quân pháp, trừng trị nặng. Nhưng nghĩ nay đương lúc hữu sự, cần người làm việc, nên hẵng gia ơn xử nhẹ :


    Hoàng Đăng Thận, Hồ Văn Khuê, Trần Văn Trí, Trương Phước Đĩnh, đều giáng 4 cấp ; Nguyễn Văn Trọng đi trận bị thương thì giáng 2 cấp. Phải lập tức cất chức Thảo nghịch Tả tướng quân của Tống Phước Lương và chức Tham tán đại thần của Lê Đăng Doanh. Hai viên này đều mang theo lính tùy thuộc và lính hầu 35 tên, về Kinh chờ Chỉ.


    Trao chức Thảo nghịch Tả tướng quân cho Nguyễn Xuân được lĩnh ấn, triện, cờ, bài, hiệp lực cùng Hữu tướng quân Nguyễn Văn Trọng và các Tham tán coi quản các hạng biền binh. Nhất thiết các cơ nghi đánh dẹp đều cùng nhau bàn bạc trù tính mà làm, cốt sao tiêu diệt được hết lũ giặc nghịch đó, sớm dâng công to để xứng đáng với sự ủy thác.


    “Còn như viên quyền Đội trưởng Trương Văn Sĩ trèo lên thang, đâm ngã được tên yếu phạm giặc, và việc người lính Nguyễn Văn Thân sấn đến chém được đầu tên giặc ấy thì đã cấp cho “thưởng công ngân bài” và 30 lạng bạc. Nay lại cho Trương Văn Sĩ được thực thụ [đội trưởng] và thưởng thêm một đồng kim tiền Phi long hạng nhỏ ; Nguyễn Văn Thân được làm Ngoại ủy đội trưởng và được thưởng thêm 10 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn, để khuyến khích cho những người dũng cảm dám xông lên trước”.


    Lại dụ bộ Binh rằng : “Quan quân tiến công cái cô thành mà không hạ được ngay, đáng lý không nên hậu thưởng, nhưng nghĩ tướng sĩ dự trận đã xông pha tên đạn, hăng hái quên mình, đến nỗi phần nhiều thương vong, thì công tuy chưa thành, nhưng chí cũng đáng thương. Vậy nay chuẩn thưởng cho người chết trận là : Vệ úy dinh Vũ lâm là Nguyễn Văn Thận được truy tặng Thống chế, trật Chánh nhị phẩm, thưởng thêm tiền tuất 30 lạng bạc, và cho ấm thụ 1 con làm Cấm binh Cai đội, trật Chánh ngũ phẩm.


    “Phó vệ úy Nguyễn Hữu Thuyên, được truy tặng Vệ úy, trật Tòng nhị phẩm, thưởng thêm tiền tuất 60 lạng bạc, và cho ấm thụ 1 con làm Chư quân cai đội, trật tùng ngũ phẩm ;


    “Tiền phong thự Phó vệ úy Nguyễn Đăng Triêm được thực thụ ngay [vệ úy], thưởng thêm tiền tuất 40 lạng bạc và cho ấm thụ 1 con làm Chư quân Chánh đội trưởng, trật Chánh lục phẩm. Rồi cứ chiếu theo hàm mới truy tặng mà cấp tiền tuất cho họ.


    “Ngoài ra, lại tra cứu về tên và chức, ai chưa thực thụ thì cho thực thụ ; ai đã thực thụ thì truy tặng thêm một cấp. Lại xét những viên suất đội do Kinh phái đi đều cho ấm thụ 1 con làm đội trưởng, trật chánh thất phẩm ; những suất đội ở các tỉnh ngoài và ngoại ủy suất cơ đều được ấm thụ 1 con làm chánh cửu phẩm bá hộ ; những ngoại ủy suất đội đều được ấm thụ 1 con làm tòng cửu phẩm bá hộ ; những binh, dõng, mỗi người được 1 con miễn trừ chung thân không phải đi lính, làm tạp dịch và đóng thuế thân. Những người hiện bị thương nặng, hoặc nhân bị thương mà chết thì cho chiếu thưởng tiền tuất : chánh nhị phẩm, 80 lạng bạc ; tòng nhị phẩm 60 lạng bạc ; chánh tam phẩm, 50 lạng ; tòng tam phẩm, 40 lạng ; tứ phẩm, 30 lạng. Còn những người bị thương nặng hoặc nhẹ đều chiếu theo lệ thưởng trước đã định mà phân biệt cấp phát”.


    Lại sai Thị lang bộ Binh là Đặng Chương mang hương, lụa trong kho, đi ngựa trạm đến quân thứ để quan tỉnh Gia Định chọn chỗ lập đàn, mổ con sinh, biện lễ vật làm tuần tế, rồi quan khâm mạng đến rót rượu, tuyên đọc tờ dụ, tế các trận vong tướng sĩ. Lại cho [Chương] mang theo 3 lạng sâm Cao Ly và 30 cân hồng sâm Tây dương, đều hạng tốt nhất, để tùy theo chức quan to, nhỏ, bệnh tình nặng, nhẹ, mà truyền Chỉ ban phát cho. Còn tướng sĩ biền binh bị thương, ai muốn về thì cho đi thuyền công trở về Kinh ; ai muốn ở lại thì cho ở lại trong quân để điều trị.


    Vua tưởng nhớ đến tướng sĩ vì nước bỏ mình, thương tiếc không nguôi, lại xuất của kho nội phủ 60 tấm gấm, đoạn, sa, trừu, sai thị vệ mang đi chia phát cho các tướng trận vong. Còn các binh, dõng trận vong thì sai tỉnh Gia Định cấp thêm mỗi người 1 tấm vải ; gián hoặc có người bị thương rồi chết thì cũng chiếu lệ ấy, cấp cho một loạt.


    Vua lại sai truyền dụ cho các Tướng quân, Tham tán rằng : “Nay quân giặc liều chết cố giữ cô thành, thì ta phải tìm cách phá tan những thứ chúng chứa ở trong thành, khiến chúng không còn bấu víu vào đâu nữa thì ta mới dễ thành công. Vậy, nên liệu thuê dân phủ lân cận, cấp cho tiền, gạo, sai đắp thêm những gò đất các mặt thành cao lên 5, 6 thước nữa, cốt nhòm được vào trong thành. Rồi cho kéo đại bác lên gò, nhằm những nơi có kho chứa lương thực, muối, đạn dược mà bắn phá. Ai bắn đổ được kho chứa lương thực, sẽ thưởng 100 lạng bạc ; bắn đổ được kho không, thưởng 30 lạng. Còn ngày thường, phải xét xem giặc lén lút tụ họp với nhau chỗ nào rồi mới bắn, cốt sao trúng đích, đừng như trước, cứ bắn vu vơ phí đạn, vô ích”.


    Lại cho rằng số biền binh do Kinh và tỉnh phái đi tòng chinh từ năm ngoái đến nay đã vất vả ở ngoài nhiều, nay cho trước hãy trích ra 6 vệ : vệ Hữu nhị dinh Vũ lâm, vệ Hữu dinh Thần cơ, vệ Ban trực tả, vệ Hậu bảo Nhị, vệ Trung bảo Nhị, vệ Hữu dinh Tiền phong, cho đáp các hạng thuyền ở Kinh phái đến, nhân tiện cùng với thủy binh chở đồ vật về Kinh. Hai vệ Định dũng của Bình Định và Tráng uy của Quảng Ngãi đi tòng chinh lần trước đều cho được về tỉnh. Rồi liệu để lại 4000 biền binh của Kinh phái đến và các tỉnh từ Bình Thuận trở ra Bắc phái đến và 4000 binh dõng của 6 tỉnh Nam Kỳ để phòng thủ các tấn sở trường lũy ; 1000 biền binh và 1000 binh dõng đóng giữ Nam Vang ; 500 biền binh và 500 hương dõng đóng giữ Hà Tiên ; còn bao nhiêu đều cho về, chờ sau này sẽ tùy tiện cho thay đổi nghỉ ngơi.


    Lại dụ Biên Hòa, Bình Thuận mỗi tỉnh gọi lấy 500 hương dõng, lập làm vệ Biên Hòa và vệ Bình Thuận, đều miễn cho thuế thân năm nay và cho theo các Tướng quân, Tham tán để phân phái phòng thủ các tấn sở. Còn vệ Thuận dũng của Bình Thuận phái đi trước, nay cho về đội ngũ ở tỉnh.


    Bố chính Nguyễn Đình Tân và án sát Vũ Đĩnh ở Nghệ An tâu : “Thổ dân Trấn Ninh trước đây bị giặc Xiêm lùa đi, mười phần chỉ còn hai, trước giờ vẫn nương tựa quân thứ Vũ Văn Thuyên ; huyện Quảng, huyện Cát, huyện Liên, huyện Khang và huyện Khâm chỉ có hơn 200 người ; huyện Xôi, huyện Liêm, huyện Mộc đều chưa thấy về. Các tên nghịch Huống, nghịch Khuyết cùng với dân còn theo giặc Xiêm đến đóng ở bờ phía nam sông Khung. Hiện đã bắt được 11 tên do thám, và đã ra lệnh cho giam cầm nghiêm ngặt”.


    Vua dụ : “Dân Trấn Ninh trước kia bị giặc Xiêm ép theo, tự chuốc lấy diệt vong. Quan quân đến đâu, giặc đã lẩn trốn hết. Vũ Văn Thuyên, hẵng đóng lại để trấn áp, một khi đã được tin thắng trận ở phủ Trấn Tĩnh thì rút quân về ngay. Trong số do thám bị bắt đó, nên thả một tên về cho nghịch Huống, nghịch Khuyết và bọn người Trấn Ninh, hiểu dụ đại ý nói : “Trước kia gây sự là do sai lầm mà can phạm. Nếu sớm biết hối cải trở về làng cũ, thì triều đình cũng khoan tha tội cho, chẳng hơn là cứ bỏ làng, bỏ đất mà chịu sự áp bức của giặc Xiêm ư ?”. Làm vậy để họ tỏ rõ, hiểu biết. Còn các tên khác thì cứ lưu lại ở quân thứ, khi nào khải hoàn, sẽ mang về tỉnh, chờ Chỉ”.


    Lại đưa cho Bộ nghĩ tờ trát để hiểu dụ nước Nam Chưởng. Bản thảo, sai viết cẩn thận, đóng ấn quan phòng tổng đốc, rồi giao cho Trấn Ninh chuyển đệ đi.














    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển cxxv



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Giáp Ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15 [1834], mùa hạ, tháng tư. Phát thuốc men cho quan quân các đạo Nam Kỳ, Bắc Kỳ (Quân thứ Gia Định : 1 lọ thuốc tây trị sốt rét, 6 lọ dầu thuốc tây chữa vết thương, 3 thỏi thuốc cao tây chữa vết thương. Quân thứ Trấn Tĩnh, quân thứ Lê Văn Đức và quân thứ Nguyễn Công Trứ ở Tuyên Quang và quân thứ Thái Nguyên : mỗi nơi được 1 lọ thuốc tây trị sốt rét, 2 lọ dầu thuốc tây chữa vết thương và 1 thỏi cao thuốc tây chữa vết thương. Quân thứ Cao Bằng : 1 lọ thuốc tây trị sốt rét, 3 lọ dầu thuốc tây chữa vết thương, 1 thỏi cao thuốc tây chữa vết thương).


    Sai tổng đốc, bố chính và án sát Gia Định chọn chỗ đất, tạm đặt công đường để làm việc, và gọi thêm 1.000 hoặc 800 biền binh của tỉnh để đóng giữ kho, dinh, công đường, nhà lao và để sai phái đi việc công.


    Lại truyền dụ 5 tỉnh : Vĩnh Long, An Giang, Định Tường, Biên Hòa, Hà Tiên chiếu theo ngạch quân, cho tập hợp quân lính Vĩnh Long, An Giang, Định Tường, mỗi tỉnh 1000 người ; Biên Hòa, Hà Tiên, mỗi tỉnh 500 người, nếu thiếu thì lấy thêm hương dõng quanh tỉnh sung vào, rồi cấp phát lương, tiền, cho đi thao diễn để giữ tỉnh thành. Về võ khí, tỉnh 1000 lính thì cho 400 cầm điểu thương, 400 cầm trường thương ; tỉnh 500 lính thì cho 200 cầm điểu thương, 200 cầm trường thương; còn thì cho mang cờ, trống. Các tỉnh ấy lại phải sửa chữa các thuyền, thành trì, súng lớn và khí giới, cần cho được vững vàng, tinh nhuệ.


    Sai các Tướng quân, Tham tán và Lãnh binh ở quân thứ Gia Định thay phiên nhau đôn đốc việc giữ trường lũy.


    Cho Tán tương Trương Phước Đĩnh sung chức Tham tán, rồi cùng với Tướng quân Nguyễn Xuân, Tham tán Hồ Văn Khuê và Lãnh binh Lê Sách làm một ban ; Vệ úy Đoàn Dũ sung chức Lãnh binh, cùng với Tướng quân Nguyễn Văn Trọng, Tham tán Hoàng Đăng Thận, Trần Văn Trí làm một ban. Cứ 3 hoặc 5 ngày lại đổi ban một lần. Theo kỳ đã định, làm tập tấu, có các viên trong ban cùng ký tên. Lại sai lập một sở ngay ở quân thứ để làm chỗ hội bàn việc quân cơ.


    Dụ rằng : “Quân cơ là việc bí mật thận trọng hơn hết. Phàm có bàn bạc gì, phải đuổi xa người ngoài đi mà nói kín, không để những kẻ vô sự nghe lỏm, sợ làm tiết lộ tin hơi. Tức như đánh thành là việc quan trọng biết chừng nào, thế mà đem báo trước ngày đánh, há chẳng phải là tiết lậu đó ư ? Sự cơ không kín thì việc không thành, đó là một tấm gương hãy còn trờ trờ, từ nay phải tự răn mình, phải cẩn thận.


    “Lại trước đã có nghiêm dụ rằng : Quan quân ở các tấn sở không được để cho giặc lén ra kiếm chác một vật gì, thế mà vây khốn đã lâu, chúng vẫn chưa chết hết, há chẳng phải vì bọn giặc còn có đứa lén ra, đem tiền bạc đổi lấy thức ăn, mà binh dõng ta còn có đứa tham chút lợi nhỏ ? Cái án Nguyễn Văn Tường, Hoàng Kim Cẩn đủ chứng tỏ điều đó. (Nguyễn Văn Tường, Hoàng Kim Cẩn đều là đồ đảng giặc mà đầu hàng, được cho làm hương dõng, lính cơ. Tháng chạp năm ngoái, 2 lần Tường sai Cẩn vào thành đưa thuốc lá cho giặc Khôi và hẹn làm nội ứng, đánh úp quan quân. Việc phát giác, bị giết). Vậy, lại truyền dụ cho rõ : Phàm ở đồn canh, binh dõng nào còn dám dung túng giặc ra vào và cho chúng vật gì, bất cứ vật ấy quý hay không quý, nhiều hay ít, kẻ vi phạm lập tức bị lăng trì xử tử. Các cai đội, đội trưởng trong đội ấy sơ suất không xét, đều bị đánh 100 trượng, cách chức và gông nặng một tháng, lại bị cắm tên vào tai, bêu đi các doanh trại ; các quản cơ, quản vệ thì bị giáng cấp hoặc bị phạt trượng ; tướng quân, tham tán và lãnh binh cũng có lỗi.


    “Các hạng đại bác cùng chấn địa lôi đều là những khí cụ đánh thành rất lợi hại. Đã nhiều lần dụ sai nghiêm sức cho các pháo thủ phải dùng cái thước súng mới phát để lấy chuẩn đích mà bắn. Nếu bắn trúng đích thì từ trước đến giờ bắn đã hàng vạn phát mà giặc trong thành bất quá mấy nghìn tên, làm gì chúng còn sống lại đến nay ? Lại đã dụ sai hằng ngày phải chuyên nhằm pháo đài trên thành mà bắn cho đổ đại bác của giặc và đến khi đánh thành, lại cứ mức độ ấy mà bắn mãi. Nếu theo đúng được như vậy thì giặc sao đứng vững được chân mà chống cự lại ? Tóm lại, đều bởi có bọn pháo thủ ngắm bắn không tinh đó thôi ! Vậy nay dụ lại : Từ nay, khi pháo thủ bắn, phải phái người đến xét nghiệm : nếu thấy bắn đổ được kho tàng, làm cháy tan được đạn dược, gạo, muối, hoặc bắn trúng pháo đài trên thành, phá vỡ được súng lớn của giặc, làm chết và bị thương nhiều giặc, thì chiếu theo lệ thưởng cũ mà phân biệt thưởng ngay. Nếu đạn súng không nổ, hay nổ giữa trời không trúng đích, hay bắn vào chỗ đất không, thì sẽ chiếu theo lỗi nặng, nhẹ mà khiển trách. Làm thế để mọi người đều biết việc thưởng, phạt nghiêm minh mà tận tâm bắn cho được trúng, thì thành này chẳng đánh cũng tự vỡ.


    “Các tướng quân và tham tán trước đã không cố sức đánh, nay cũng phải nghĩ cách dùng trí mà thắng, để thu lấy hiệu quả sau này. Các tướng quân, ai có kiêm chức tổng đốc, phàm các việc tầm thường trong tỉnh đã có hai ty bố chính và án sát đảm nhiệm, chỉ huy những việc trọng đại khẩn yếu thì hãy cho trình báo để định đoạt ; các tham tán và lãnh binh thì chỉ nên họp bàn về công việc diệt giặc, nhất thiết không được dự đến việc tỉnh. Như vậy các ngươi khỏi bận lòng việc khác, mà chuyên tâm làm việc mình đã phụ trách”.


    Nguyễn Công Trứ, Tham tán đạo Tuyên Quang, đóng quân ở hữu ngạn sông Côn Lôn, dâng sớ nói : “Quân đi chậm trễ, chỉ vì cớ thiếu lương. Nay lại gặp nắng dữ, trong quân theo nhau mà ốm ; lại sắp đến tiết Tiểu mãn, kỳ mưa, sông ngòi nước lớn không tiện đi lại, thực sợ chưa xong được việc. Thiết nghĩ : An Biên ở vào khoảng giữa tỉnh Tuyên Quang, là nơi việc công, việc tư, đường thủy, đường bộ tất phải đi qua ; một khi để sa sẩy, thiệt hại không phải là nhỏ. Hơn nữa, giặc Vân có Quảng Khải và Trọng Chương làm vây cánh. Đại binh ta thẳng tiến phía mặt, thì hai bên tả, hữu chúng khép lại đánh úp ở phía sau. Lại thêm Trọng Chương ở gần kề ngay An Biên, sẽ thừa lúc sơ hở mà ngăn chặn, làm cho đường sá bị nghẽn. Cân nhắc nặng nhẹ thì An Biên là nơi cần cấp, nghĩ nên lần lượt trù tính mà làm mới được vạn toàn : Xin trước hết xếp đặt An Biên, chứa lương thực làm kế lâu dài, để cho hạng dân a tòng biết có chỗ dựa, mới chịu ló đầu ra. Rồi phi tư cho Hưng Hóa chiếu theo địa hạt, phòng thủ ngăn chặn. Ma Doãn Bồi ở Tụ Long thì điều nhiều binh dõng, theo lối Hạ Giáp (tên đất) mà đến ; biền binh thì một toán do Thu Châu, một toán do Đường Lâm, hai mặt giáp công. Như vậy, giặc Chương, giặc Tuyên không chạy trốn được, sẽ phải bị bắt. An Biên đã có cái lo ngại ở phía tả thì ta có thể chuyên chú đến Bảo Lạc, rồi sau tùy cơ mà đánh dẹp hoặc vỗ về. Nếu cứ một niềm mê muội, phái một toán quân ra trước ở những chỗ gần An Biên, rồi nay ra An Định, mai vào Du Gia, đốt nhà cửa, đuổi nhân dân, khiến họ chạy vạy mệt nhọc, không rỗi cứu cấp lẫn nhau, thì trong đó tất sẽ có kẻ oán trách mà sinh biến.


    “Hai đạo quân Cao – Thái, cũng xin cho lập đồn và liệu đặt quân lính đóng ngăn chặn ở những nơi xung yếu, còn bao nhiêu quân lính thì cho về nghỉ ngơi. Chờ đến cuối thu, nước cạn, sẽ hẹn nhau nhất tề hội quân, săn bắt đến cùng, tướng giặc Vân không còn trốn đâu được nữa”.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Vừa rồi, cứ như Lê Văn Đức, tâu báo quân nhu thiếu thốn, thì đã có Chỉ cho liệu lượng sự việc và tình thế, có thể tiến được thì tiến, nếu chưa tiện thì cho lập tức rút quân về. Nay lại theo tình hình Nguyễn Công Trứ đã tâu, thì hiện nay việc tiến đánh chắc cũng chưa nắm vững phần thắng. Vậy truyền dụ cho Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ và hai đạo Cao – Thái lập tức rút quân về tỉnh thành nghỉ ngơi, chờ Chỉ. Lê Văn Đức phải liệu lưu thổ ty, thổ dõng ở lại An Biên để đóng giữ và chứa lương thực ở đấy. Còn các đạo quân khác đều phải liệu đặt đồn, phái binh dõng đóng giữ ở những chỗ hiểm yếu”.


    Lại truyền dụ Bố chính Trần Văn Trung, án sát Nguyễn Huy Chiểu ở Tuyên Quang : Phàm những thuyền quân của Hà Nội, Nam Định, Hải Dương phái vận lương đến, đều cho về cả. Ngự sử Đặng Kim Giám do Kinh phái đến, phải đi ngựa trạm về Kinh ngay. Lãnh binh Sơn Tây là Đoàn Văn Cải cũng mang binh dõng


    về tỉnh.


    Tổng đốc Lê Văn Đức lại tâu báo về tình hình quân sự : “Trong một tuần nay, lương thực chuyển vận theo đường bộ đi về liên tiếp ở dọc đường, nhưng cũng vẫn chưa được đầy đủ. Nay, những đồn phía Bắc ở Tòng Tạo, Vưu Giản về phía trên quân thứ, giặc cứ lên trên cao, nấp chỗ rậm, rình kẽ hở, bắn súng xuống chỗ quân ta đóng, không ngày nào ngơi. Nếu ở Lục Yên là phía dưới quân thứ mà giặc lại cũng kéo đến, e ta sẽ lâm vào cái thế bốn mặt bị giặc đánh mà trong quân lại thiếu lương thì lầm lỡ không phải nhỏ. Vậy xin để cho tiếp tục làm việc, sẽ lại tấu sau”.


    Vua sai mật dụ rằng : “Chuyến hành quân này, không kể những đường vận lương mắc míu khó khăn, nay tiết trời hè, chướng khí đương nặng, lại sắp đến


    kỳ nước lũ từ núi đổ xuống, nếu nấn ná kéo dài ngày giờ, thực có nhiều điều bất tiện. Trước đã có Chỉ cho rút về Tuyên Quang nghỉ ngơi. Vậy khi nhận được


    dụ này, phải đem quân về ngay. Đối với An Biên, nếu có thể giữ được thì để thổ ty, thổ dõng ở lại giữ, nếu thực khó đóng giữ, thì bỏ đó mà về, khi khác lấy lại cũng chưa muộn”.


    Cho Vệ úy Ngô Đăng Giai sung Lãnh binh Hưng Yên.


    Quan tỉnh Hải Dương tâu nói : “Dòng sông do tỉnh hạt khai đào, tiếp giáp với tỉnh Hưng Yên (từ giang phận xã Văn Khê, huyện Thanh Miện, đến cửa sông Biện Tân, xã My Động), chạy dài hơn 3170 trượng, nên thuê 2000 dân làm trong 1 tháng, xin liệu cấp tiền, gạo để chi dùng”. (Mỗi người mỗi ngày cấp 20 đồng tiền và 1 uyển gạo). Bộ Công cho rằng : Một việc thuộc tiểu công trình, lệ vẫn do dân sở tại trong phạm vi thế nước của sông ấy phải tự làm lấy, bèn tâu xin không cấp. Vua dụ : “Đức chính triều đình, là cốt làm lợi kẻ dưới, trọng đời sống của dân, có kể gì món phí nhỏ. Huống hồ hạt Hải Dương ấy năm ngoái đã bị thủy tai, đời sống nhân dân khó khăn, nay bất đắc dĩ phải dùng đến sức dân, thì sao nỡ bắt họ phải tự túc ! Vậy chuẩn y lời quan tỉnh xin, chiếu số cấp phát, nhưng phải chờ khi rảnh việc làm ruộng hãy khởi công. Lại nữa, tỉnh Hưng Yên trước đây đã khơi sông ngòi, nay cũng cho truy cấp theo lệ này để đều được hưởng ơn”. Tổng đốc Đặng Văn Thiêm và Tuần phủ Trịnh Quang Khanh tâu rằng : “Nay công việc đã xong, lại gặp vụ chiêm được mùa, dân đều tình nguyện, không lĩnh”. Việc ấy bèn đình chỉ.


    Cho viên quan phạm tội là Hồ Hựu được khai phục làm Tư vụ bộ Binh.


    Hựu, trước có lỗi, bị khép tội trảm giam hậu. Nhân Cam Lộ có động, được phát vãng đến quân thứ để làm việc chuộc tội. Hựu có chút công, nên nay được dùng lại.


    Cho : Phó vệ úy Trung vệ dinh Long võ là Nguyễn Trọng Tính làm Phó vệ úy vệ Cẩm y, chuyên coi các đội Túc trực vẫn lĩnh thị vệ và viện Thượng tứ ; Cai đội ty Trấn phủ Nguyễn Cửu Ngọ thăng thự Phó vệ úy Trung vệ dinh Long võ, quyền lĩnh ấn đồ ký ((1) Đồ ký : thứ ấn vuông bằng đồng, dùng trong ngạch quan võ.1) của Tả vệ dinh Long võ.


    Đặt phép luyện binh ở các hạt từ Quảng Bình trở về nam đến Khánh Hòa.


    Vua dụ Nội các rằng : “Trước đây vì Nam Kỳ và Cam Lộ có giặc, cho trưng mộ hương dõng để tòng chinh, đến đâu cũng lập được công và luôn tỏ ra có thành hiệu. Dân ta một dạ cùng căm thù giặc, so với quan quân, cũng chẳng kém dũng cảm, giỏi giang, ta rất vui lòng. Nay giặc cướp cũng chưa thực đã yên, ta nên phòng bị trước : “Giọi nhà ngay từ lúc chưa mưa”. Phải sức cho sở tại luyện binh, triệu tập hương dõng, lúc vô sự thì phòng vệ địa hạt là nơi phên rào chống đỡ cho được vững vàng ; lúc hữu sự thì tức khắc điều động đi đánh dẹp được ngay ; như thế thì chiến công chóng thành mà biên cương mãi mãi được yên ổn. Đó là cái kế rất tốt để giữ nước yên dân và cũng là bất đắc dĩ mà phải dùng, tưởng dân ta có đủ lương tri, lương năng, chắc đều tin lòng ta. Quan địa phương các ngươi nên truyền đạt ý này để mọi người đều được biết. Lại phải giữ công bằng, làm cho tốt, chọn bổ cho đều, chớ phó mặc cho tay nha lại mà để sinh mối tệ như Nguyễn Công Liêu ở Phú Yên, thì phụ trẫm nhiều lắm ! Đến như những việc chiếu kỳ cho thao diễn và cấp phát tiền, lương cũng phải đích thân kiểm tra đôn đốc. Những hương dõng thao luyện, cần sao tất cả đều được tinh và khỏe, để trở thành một đạo quân giỏi, trong đó, mỗi một người lính phải ra người lính, thì các ngươi mới không phụ sự ủy thác của ta”. Thế rồi quy định thành điều lệ cho thi hành :


    (Một. - Mỗi vệ binh thao luyện là 500 người. Thừa Thiên 3 vệ, đặt tên là Kinh binh Trung vệ, Kinh binh Tả vệ và Kinh binh Hữu vệ. Quảng Trị, Quảng Nam mỗi tỉnh 2 vệ, đặt là Quảng Trị Tả vệ, Quảng Trị Hữu vệ và Quảng Nam Tả vệ, Quảng Nam Hữu vệ. Quảng Bình, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Định, Khánh Hòa, mỗi tỉnh một vệ, đều gọi theo tên tỉnh.
  • Chia sẻ trang này