0061.0017

26/1/16
0061.0017
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    Hai – Những hương dõng thao luyện đều được miễn thuế thân năm nay. Rồi nhằm ngày mồng một tháng 5, phải tề tựu, mồng một tháng 6, được về nghỉ. Tháng 7 đến tháng 12 cũng như thế. Tháng 5 bắt đầu triệu tập. Tháng 12 cho về. Thưởng mỗi người 1 quan tiền.


    Ba – Đến kỳ tề tập, đều phát cho cờ trống, trường thương, điểu thương, nón trận để thao luyện ; nếu có sai phái, lại phát cho quần áo.


    Bốn – Về chức quản vệ, ở Thừa Thiên thì do bộ Binh tâu xin phái người làm ; còn ở địa phương thì lựa chọn quản cơ hoặc suất đội tạm sung. Trong tháng thao diễn, viên này được ăn lương theo chánh tứ phẩm. Còn chức suất đội thì lựa chọn trong tổng, lý hoặc dân có am hiểu chút ít võ nghệ hoặc trong biền binh hơi am hiểu quân luật để sung làm. Trong tháng thao diễn, chức này được phát 2 quan tiền và 1 phương gạo. Hương dõng, trong tháng thao diễn, mỗi người được phát 1 quan tiền và 1 phương gạo.


    Năm – Những trận pháp và phương pháp sử trường thương, bắn điểu thương đều theo phương pháp đã lập thành mà thi hành).


    Sau đó, 3 vệ Kinh binh ở Thừa Thiên đều đúng hạn tề tựu thao diễn. Vua thân đến duyệt, thấy người người tráng kiện, hàng ngũ tề chỉnh, bèn thưởng cho những viên đã đôn đốc việc thao diễn là Kinh doãn, Kinh huyện cùng những viên chuyên đốc việc thao luyện lính có từng bậc khác nhau. Rồi sai Thị vệ và Nội các chia nhau đi đến các tỉnh để xem xét việc thao diễn. Lại sắc sai những ngày thao diễn, nên cho lúc tập, lúc nghỉ, có tiết độ vừa phải, không nên bắt buộc quá sức và cấm không được dùng lính làm việc tư.



    Bổ : Nguyễn Đức Dụng, Mai Viết Trang làm Lang trung bộ Hộ, Nguyễn Thế Đạo làm Lang trung bộ Lễ, Nguyễn Cáp làm Lang trung bộ Binh.


    Cho : Hàn lâm Thị giảng học sĩ Nguyễn Tri Phương thăng thự Thượng bảo khanh, vẫn sung làm việc ở Nội các.


    Ban sâm Quảng((1) Tức là sâm Bố Chính ở Quảng Bình.1) cho các hoàng tử, các tước công và các đình thần có từng bậc khác nhau.


    Thái Khắc Minh, Trưởng hộ làm dầu rái, ở hạt Gia Định, trước đây vì thấy Gia Định có việc, bèn tự nguyện bỏ ra dầu rái và nhựa trám mỗi thứ 10.000 cân, nộp làm của công. Quan tỉnh cho dùng vào việc quân, đến bấy giờ tâu lên.


    Vua dụ bộ Hộ : “Thái Khắc Minh là một người dân mọn mà biết sốt sắng việc công, chuộng điều nghĩa, thực đáng khen. Nhưng cái thiếu thốn của Nhà nước không phải là ở tiền của, há nỡ lấy của riêng mà dùng việc công. Nay cho bộ ghi lấy tên của Thái Khắc Minh, khi bình định xong, sẽ tâu lại việc này, để chờ Chỉ khen thưởng. Số dầu mỡ ấy đã đem dùng rồi, cũng để sau sẽ trả tiền”.


    Bắt đầu đặt chức Thông chính phó sứ ở ty Thông chính sứ, trật Tòng tam phẩm. Cho : thự Phủ thừa Thừa Thiên là Lê Văn Trung làm Lang trung bộ Lại, thăng thự Thông chính phó sứ, lại làm cả công việc bộ Lại ; Lang trung bộ Công là Trần Tuyên thăng thự Thông chính phó sứ, lại làm cả công việc bộ Công.


    Cho : Hà Đăng Khoa, Lang trung bộ Binh, thăng thự Quang lộc Tự khanh ; Nguyễn Văn Toán, Biện lý Lễ bộ sự vụ, thăng thự Thái bộc Tự khanh ; Nguyễn Văn Cẩn, Biện lý Binh bộ sự vụ, Ngự sử đạo Lạng – Bình, thăng thự Phủ thừa Thừa Thiên.


    Đổi cơ Hà Tĩnh làm vệ Hà Tĩnh. Sai quan tỉnh mộ thêm dân ngoại tịch từ Quảng Bình trở vào Nam sung cho đủ 10 đội, mỗi năm cấp cho quần áo một lần.


    Chưởng cơ Phạm Hữu Tâm và Phó vệ úy vệ Tiền nhất dinh Vũ lâm, quyền sung Thống chế Lê Văn Quý từ Gia Định về Kinh. Vua cho Phạm Hữu Tâm thăng thự Thống chế Hậu dinh Thần sách, kiêm lĩnh ấn triện Thủy quân ; bổ thụ Lê Văn Quý làm Vệ úy vệ Tiền nhất.


    Dòng dõi vua Chiêm Thành là Quản cơ, hàm Vệ úy Nguyễn Văn Thừa, bị tội, phải tống giam.


    Năm ngoái Đỗ Văn Hoan, người Bình Thuận buôn bán ở Gia Định, gặp khi giặc Khôi làm phản, có gửi y chở giúp người Man, tên là Tiêm Vô (gia nô của Nguyễn Văn Vĩnh, nguyên trấn thủ Thuận Thành) mang mật thư của giặc dụ tên Thừa chiêu tập bè đảng, chờ khởi sự. Thừa đã nhận lời, âm mưu làm phản. Sau được tin quan quân tiến đánh, tên Khôi liều chết, cố giữ cô thành, Thừa bèn thôi việc mưu phản. Sau, tên Hoan bị người ta tố giác việc này ; quan tỉnh là Hoàng Quốc Điều và Phan Phu liền bắt Hoan giam giữ nghiêm cẩn, rồi tham hặc việc Thừa tư thông với giặc.


    Vua cho đòi về Kinh để xét hỏi, nhưng Thừa nhiều lần cáo ốm, không chịu đi. Bèn cách chức, khóa giam lại và sai Ngự sử Lê Hữu Bản đến hội xét, nhưng Thừa còn giảo trá chối cãi. Sau giao cho bộ nghiêm xét, Thừa chịu thú nhận và xưng ra đồng đảng là Nguyễn Văn Nguyên (con Nguyễn Văn Vĩnh). Liền cho bắt cả để xét xử trị tội.


    Cơi cao thêm tường thành tỉnh Ninh Bình. Trước đó, quan tỉnh Ninh Bình cho rằng : Tường thành khí thấp, nghĩ xin cơi cao thêm cho đủ 9 thước (thành cũ cao 7 thước 3 tấc, nay thêm 1 thước 7 tấc). Đến đây, bắt lính và thợ xây đắp. Việc lên đến vua. Vua nói : “Việc này nên bỏ tiền thuê người làm với giá thỏa thuận để đỡ sức quân lính. Nhưng trót đã khởi công, là sự bất đắc dĩ. Vậy thưởng cho lính và thợ 500 quan tiền”.


    Điều bổ Vệ úy Hậu vệ dinh Thần cơ là Nguyễn Văn Niên làm Vệ úy Tiền vệ ; Quản cơ cơ Trung định, gia hàm Vệ úy là Vũ Tiến Mâu làm Vệ úy Tả vệ Hà Nội.


    Đổi định việc đặt súng lớn ở các thành : tỉnh, phủ, huyện xứ Bắc Kỳ :


    (Tỉnh thành Hà Nội : 1 cỗ súng đồng đại luân xa, 6 cỗ súng gang tướng quân, 24 cỗ súng gang hồng y, 38 cỗ súng đồng quá sơn ;


    Năm tỉnh thành : Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên đều : 1 cỗ súng đồng đại luân xa, 2 cỗ súng đồng phách sơn, 16 cỗ súng gang hồng y, 16 cỗ súng đồng quá sơn.


    Ba tỉnh thành : Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên đều : 1 cỗ súng đồng đại luân xa, 1 cỗ súng đồng phách sơn, 2 cỗ súng gang phách sơn, 8 cỗ súng gang hồng y, 10 cỗ súng đồng quá sơn.


    Ba tỉnh thành : Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên đều : 1 cỗ súng đồng phách sơn, 2 cỗ súng gang phách sơn, 8 cỗ súng gang hồng y, 10 cỗ súng đồng quá sơn.


    21 phủ thành đều : 4 cỗ súng gang hồng y, 4 cỗ súng đồng quá sơn. Duy có phủ thành Lý Nhân rộng hơn thì 1 cỗ súng gang tướng quân, 5 cỗ súng gang hồng y, 6 cỗ súng đồng quá sơn.


    6 huyện thành đều : 4 cỗ súng gang hồng y, 2 cỗ súng đồng quá sơn).


    Trương Minh Giảng, Tổng đốc An – Hà, từ Nam Vang về Châu Đốc, sức vát binh và dân sửa chữa lại đồn, rồi lại đi Hà Tiên, hội với thự Tuần phủ Trần Chấn, xem địa thế, bàn việc xây dựng tỉnh thành, làm sớ nói : “Tỉnh lỵ cũ Hà Tiên ở gần bãi biển, địa thế chật hẹp, lập tỉnh thành ở đấy, sợ chưa được hoàn toàn. Còn như Giang Thành là nơi đã bằng phẳng rộng rãi có thể cư tụ được, làm các đường trọng yếu trong tỉnh hạt như đường thủy từ Kim Dư, đường bộ từ Cần Bột đổ về, đều có thể kiểm soát được. Đó thực là một chỗ cổ họng của chốn biên cương. Nếu nay cho đặt một đồn lớn ở chỗ tỉnh lỵ cũ để đóng trọng binh, lấy pháo đài Kim Dư và trường lũy Phù Dung làm bình phong, rồi lập tỉnh thành ở Giang Thành, thì đất bằng phẳng rộng rãi có thể để dân cư tụ, đường thủy, đường bộ đều có thể ngó tới, khi lâm sự đối phó, sẽ có sự nhịp nhàng giúp nhau như cánh tay với ngón tay, xem chiều thuận tiện, thực đúng như lời triều đình đã bàn trước. Duy mới qua cơn binh lửa, dân chưa hồi phục được hết, mà việc phòng bị ở bờ biển là rất cần, pháo đài Kim Dư thì đang sửa chữa, vậy trước hết xin hãy cho lập cái đồn “An Biên” ở tỉnh lỵ cũ, liệu để trọng binh đóng giữ và cho quan tỉnh cũng ở tạm đấy. Chờ khi mọi việc quân dân đã sắp xếp xong xuôi, sẽ lại cho dời tỉnh thành đến Giang Thành. Như vậy thì việc trước, việc sau, việc khoan, việc vội, thứ tự đều được hợp lý cả”.


    Vua cho là phải. Đổi tên đồn là đồn Trấn Biên.


    Giảng trở về Châu Đốc, được tin thám báo tướng Xiêm, Phi Nhã Chất Tri, đem 5000 quân Xiêm, đường bộ do lối Lò Gò Vật thuộc Bắc Tầm Bôn, đường thủy do lối Biển Hồ, hẹn nhau đến lấn Chân Lạp. Dân Phiên hoảng sợ, chạy đến vụng Xà Năng. Giảng liền đi Nam Vang hội với Lê Đại Cương làm việc, và phi tư cho quân thứ Gia Định phái thêm biền binh đến hội tiễu. Rồi đem việc tâu lên.


    Vua bảo bộ Binh rằng : “Giặc Xiêm trước bị thua đau, phải chạy về, chắc đã kinh hồn khiếp đảm. Nay cứ theo tin báo, chúng lại đến xâm lấn quấy nhiễu, chưa biết hư thực thế nào, nhưng là một việc cấp báo về biên giới, không thể không phòng bị sẵn sàng. Trước đã có Chỉ cho quân thứ Gia Định trước hãy trích lấy 6 vệ Kinh binh và các vệ Định dũng, Tráng uy cho đáp thuyền về đội ngũ ở Kinh. Vậy truyền dụ các tướng quân, tham tán lập tức cho lưu lại cả. Và cho phép Tướng quân Nguyễn Xuân, Tham tán Trần Văn Trí trích lấy 3000 tướng biền, binh dõng có đầy đủ thuyền bè, súng đạn, khí giới, tức tốc đi Nam Vang, hiệp lực cùng Trương Minh Giảng tùy cơ đánh dẹp, phòng ngự. Nếu chúng quả thật đến sinh sự, thì phải đánh giết thực mạnh ; nếu chúng chỉ ở ngoài cõi, phô trương thanh thế hão thì cứ chiếu địa hạt mà canh phòng nghiêm cẩn, bất tất động binh trước, làm nhọc quân lính ở nơi xa. Lại nữa, tỉnh Hà Tiên là nơi địa đầu xung yếu, nên liệu vát 500 lính Kinh cho theo Thự phủ Trần Chấn phân phái”.


    Sau thấy các hiệu thuyền lớn do Kinh phái đi, không thích hợp đường sông, nên sai trích lấy 5 chiếc, chọn lấy 1 vệ Kinh binh đã ở lâu trận và các bệnh binh cho chia đáp các thuyền ấy về Kinh.


    Vua sai Nội các truyền dụ Trương Minh Giảng và Lê Đại Cương rằng : “Năm ngoái, ở Chân Lạp có phái người đi thám thính việc ngoài biên, cứ tin báo thì người Xiêm định sắp dấy binh sang lấn Chân Lạp. Lại có được tin là vua Xiêm bị bệnh đã chết. Về sau xét nghiệm thì quả thật có việc giặc Xiêm, đường thủy đường bộ, sang xâm lấn. Còn việc vua Xiêm bị bệnh chết đều là tin hão. Việc là việc hệ trọng, sao lại thám thính nửa hư nửa thực như thế ? Hoặc giả bên trong có tình ý gì, nên mới bịa ra những lời vô căn cứ ấy, làm cho người ta nửa tin nửa ngờ mà không phòng bị trước. Vậy nên xét rõ ngay việc này, tâu lên để biết tường tận tình hình. Lại nữa, từ nay, hễ có thám báo việc biên giới, cần phải cho xác thực, thí dụ : quân giặc có 1000 tên, nếu không biết được con số đích xác thì cũng đừng sai lắm, nghĩa là báo hơn 1000 hay trên dưới 800, 900 chẳng hạn, chứ đừng dựng đứng nhiều quá, hoặc ít quá làm mất sự thực”.


    Bọn tướng quân, tham tán quân thứ Gia Định tâu nói : “Trong thành có 3 tên ra thú, đã sai xử trí như trước rồi. Lại tiếp được tin Tổng đốc Trương Minh Giảng báo có giặc Xiêm lại kéo đến, tức thì bàn ủy Nguyễn Xuân và Trương Phước Đĩnh mang binh và thuyền đi Nam Vang hội tiễu, và đã tư sức cho 2 tỉnh Gia Định, Biên Hòa liệu phái biền binh chiếu theo địa phận mà ngăn chặn”.


    Vua phê : “Đương lúc đánh thành chưa thắng mà có giặc trong thành ra thú, đủ thấy thế giặc càng thêm cùng khốn. Nhưng quân giặc tự biết tội chúng đã nặng, không còn có thể được dung thứ ở trong vòng trời đất, cho nên cũng liều chết chống giữ hòng kéo dài được lúc nào hay lúc ấy. Không bao lâu nữa chắc chúng cũng chết hết thôi. Còn như việc báo ngoài biên có động, tuy chưa lấy gì làm đích thực lắm, nhưng cần phải đề phòng trước. Nếu chúng căm phẫn vì bị thua đau mà lại đến thì là một toán quân đi đánh nhau vì tức khí lại đến mua lấy cái nhục thôi ! Nguyễn Xuân, Trương Phước Đĩnh đi ngay để đánh dẹp là chính hợp ý ta. Hằng ngày ta mong tin thắng trận”.


    Vua dụ đình thần rằng : “Nhiều lần xuống dụ sai sở tại tuyển nhiều hương dõng để phòng khi cần điều động. Vậy truyền dụ cho các tướng quân, tham tán ở Gia Định, nếu vô sự thì thôi, nếu bất thần biên giới có động thì phi tư cho 5 tỉnh Nam Kỳ liệu vát hương dõng đi tòng chinh và hỏa tốc gọi lấy hương dõng đã thao luyện ở 3 tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định mau đến quân thứ để sai phái. Các tỉnh, một khi tiếp được tờ hịch điều động, phải khẩn cấp cho đi ngay, không được chậm trễ, lỡ việc. Lại truyền dụ cho 6 tỉnh Nam Kỳ, xét ngay ngạch lính thuộc tỉnh mình, nếu thiếu, phải điều ngay cho đủ số”.


    Sai quân thứ Gia Định : Phàm các viên văn võ do Kinh phái hay tỉnh phái, ai còn thự hàm hay mới quyền sung quản vệ, cơ, đội, đều do các tướng quân, tham tán, căn cứ vào sự trạng từ trước đến giờ của từng người, xếp loại, đệ tâu, để liệu xét cho được thực thụ.


    Phát lương tháng cho hương dõng 6 tỉnh Nam Kỳ. Vua xuống dụ rằng : “Các ngươi ở gần nhà và quê quán, không giống như quan quân, đáng lẽ phải tự túc lấy sự ăn tiêu, nhưng nghĩ trước giờ nhọc nhằn vì nước, tình cũng đáng thương. Vậy chuẩn cho : Những người ở quân thứ thì do tướng quân, tham tán ; ở tỉnh thì do tổng đốc, tuần phủ, bố chính, án sát, chiếu theo thực số mà cấp phát lương, tiền. Vả lại, nay bờ cõi tuy yên, nhưng quân giặc xấu xa ở ngay cạnh nách, còn cần phải phòng bị ; hơn nữa mầm ác còn sót ở Phiên An, chưa giết xong, cho nên bất đắc dĩ phải lưu các ngươi lại. Các ngươi là những người vốn sẵn có lòng tôn vua, thân bề trên, chuộng việc nghĩa, và biết đường phải trái, cần phải thể tất lòng ta, gắng sức quên mệt, để khỏi phụ ơn nuôi nấng của triều đình. Chờ khi bình định xong, ai muốn theo quân ngũ thì sẽ cứ chiếu theo cấp bậc trong vệ, cơ, đội cũ mà phát lương ; ai muốn về làm ruộng thì trẫm cũng cúi theo ý muốn, quyết không ép uổng vào việc quân ngũ nữa”.


    Cho tải 3 vạn quan tiền ở Bình Định và 2000 phương muối ở Bình Thuận đến Gia Định, và ra lệnh cho khi đã đến tỉnh thì trích lấy 1.000 phương muối chuyển đi : Biên Hòa, Hà Tiên mỗi tỉnh 200 phương ; Định Tường, An Giang, mỗi tỉnh


    300 phương.


    Giặc Nông Văn Vân ở Tuyên Quang gửi thư phản gián cho Nguyễn Đình Phổ, Tổng đốc Ninh – Thái, muốn mưu tư thông, lời lẽ đều phản bội, láo xược. Phổ tiếp được thư ngạc nhiên sợ hãi, liền đem tâu vua. Vua dụ rằng : “Việc này, tuy quân giặc có gian hiểm giảo quyệt, nhưng cũng là thủ đoạn tầm thường, đến những hạng bố cu mẹ đĩ cũng chẳng bị xui dại, huống chi người khác ! Ngươi cứ yên tâm làm việc, đừng lấy thế làm quan tâm”.


    Tổng thống Tạ Quang Cự, Tham tán Vũ Văn Từ và Tuần phủ Lê Đạo Quảng đạo Cao Bằng chia quân làm 3 đường, đều tiến đến Thông Nông, kiểm soát hết địa giới Cao Bằng. Quân giặc thấy bóng gió, đều trốn trước. Bọn Cự bèn bí mật bàn tính : Vũ Văn Từ mang 1500 binh dõng, Lê Đạo Quảng mang 1200 tên, đều tìm đường tiến đánh Bế Lĩnh, thẳng đến Ngọc Mạo, Vân Trung, hội binh với đạo Tuyên Quang ; Tạ Quang Cự mang 900 binh dõng chia ra án ngữ các nơi mặt thượng du Thông Nông, chờ khi quân đạo Thái Nguyên đến Kim Mã, liền truyền hịch cho Phó lãnh binh Văn Hữu Xuân hợp lực tiễu trừ bọn giặc ở Long Lũng, rồi chuyển đến Vân Trung. Còn Quang Cự cũng do Bế Lĩnh tiếp tục tiến lên, càn quét sào huyệt giặc. Rồi đem tình hình làm sớ tâu lên.


    Vua phê : “Đáng tiếc ! Sự việc tuy có thể thừa cơ được, nhưng nay đang mùa hè, mưa to, nắng dữ, lương thực khó khăn, nhiều điều bất tiện ! Vậy cho phép tuân Chỉ, rút quân, gây nuôi cho sắc bén để tính cuộc sau, chắc cũng không lỡ cơ hội”.


    Đổi các cơ quân người Nam ở Bắc Kỳ thăng lên làm vệ, phẩm trật, bổng lộc, hàng thứ ở dưới các bảo, mỗi năm phát một lần quần áo.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Những binh người Nam, do các tỉnh Bắc Kỳ đã mộ, trước giờ sai phái vẫn có tiếng là đắc lực. Nay 3 cơ Hà Nội, Nghiêm dũng, Thiện võ thuộc tỉnh Hà Nội đổi làm 3 vệ : Hà Nội Trung vệ, Hà Nội Tả vệ, Hà Nội Hữu vệ ;


    “3 cơ Nam Định, Lạng dũng, Tráng uy thuộc Nam Định, nay đổi làm 3 vệ : Nam Định Trung vệ, Nam Định Tả vệ, Nam Định Hữu vệ ;


    “3 cơ Sơn Tây, Vũ dũng, Nghị dũng thuộc Sơn Tây, nay đổi làm 3 vệ : Sơn Tây Trung vệ, Sơn Tây Tả vệ, Sơn Tây Hữu vệ ;


    “2 cơ Hải Dương, Chính võ thuộc Hải Dương, nay đổi làm 2 vệ : Hải Dương Trung vệ, Hải Dương Tả vệ ;


    “2 cơ Bắc Ninh, Cự võ thuộc Bắc Ninh, nay đổi làm 2 vệ : Bắc Ninh Trung vệ, Bắc Ninh Tả vệ. Hai tỉnh này mỗi tỉnh lại mộ thêm lấy 1 vệ nữa đặt làm Hữu vệ ;


    “Cơ Hưng Yên thuộc tỉnh Hưng Yên, cơ Quảng Yên thuộc tỉnh Quảng Yên, cơ Thái Nguyên thuộc tỉnh Thái Nguyên, cơ Lạng Sơn thuộc tỉnh Lạng Sơn, cơ Cao Bằng thuộc tỉnh Cao Bằng đều đổi làm vệ, rồi đặt 2 chữ tên tỉnh lên trên đầu ;


    “Hai cơ Hưng Hóa thuộc tỉnh Hưng Hóa, nay đổi làm 2 vệ : Hưng Hóa Tả vệ, Hưng Hóa Hữu vệ ;


    “Hai cơ Hữu và Hậu thuộc tỉnh Ninh Bình, nay dồn lại làm một vệ là Ninh Bình Tả vệ, lại mộ thêm 1 vệ nữa đặt là Ninh Bình Hữu vệ ; Tả cơ cũ của Ninh Bình, nay đổi làm Ninh Bình Hậu cơ ; Tiền cơ Ninh Bình vẫn cứ để nguyên tên cũ.


    “Cho phép các tổng đốc, tuần phủ, bố chính, án sát đều sức mộ dân ngoại tịch từ Quảng Bình trở vào Nam, lấy những người sức vóc khỏe mạnh, mỗi vệ phải đủ 10 đội ; hoặc có người quê quán ở Bắc nhưng có căn cước rõ ràng, thì mộ lấy một vài đội cũng được, miễn là phải thực sự có người, không được mộ bừa những đồ du côn du đãng, nay ở mai trốn, chỉ có con số hão mà thôi.


    “Lại truyền Chỉ cho tướng biền, binh lính các vệ đều nên biết ơn, cảm kích, phấn khởi, lúc vô sự, chịu khó luyện tập, lúc hữu sự, cố gắng trổ sức, để danh được xứng với thực, mãi mãi làm bình phong bảo vệ bờ cõi”.


    Chuẩn định về :


    Các lễ tiết hằng năm : Tế Nam Giao, đàn Xã tắc vào 2 ngày ngày mậu, mùa xuân, mùa thu và lễ Nguyên đán ở liệt miếu, lệ vẫn đốt đèn lồng lớn sáng ngời, từ nay bỏ bớt đi ; duy các miếu, đàn, từ, vũ về các vị trung tự, quần tự, đèn đuốc không bằng những bậc đại tự, thì vẫn theo lệ cũ. Lại, các tiết Thánh thọ, Vạn thọ, Nguyên đán, Đoan dương ở trước sân cung điện và trước Ngọ Môn, lệ có treo đèn lồng, cũng bỏ. Lệ này chép để làm lệnh.


    Tiết Vạn thọ. Hằng năm, vào ngày hôm trước, treo cờ khánh hỉ ở trên kỳ đài, đốt 1.000 ngọn đèn đĩa ở phía trước kinh thành ; đến hôm chính ngày lễ, ở nhà Duyệt Thị thì có múa bát dật, hát bội ; ở đài phía nam thì đốt cây bông, múa bài bông.


    Vua dụ Nội các rằng : “Nay giặc Xiêm tuy đã bình, nhưng giặc cướp còn chưa thực yên ; trẫm thức sớm ăn trưa, lo lắng vất vả, còn rỗi đâu ngó đến những trò ấy”. Cũng cho đình chỉ.


    Cho phép các quan chức lớn nhỏ, ở trong Kinh và các tỉnh ngoài, từ cuối tháng 12 năm [Minh Mệnh] thứ 14 trở về trước, phàm ai bị lỗi vì việc công mà phải giáng 1 cấp thì đều cho khai phục, bị giáng 2 cấp thì được khai phục 1 cấp, bị giáng 3 cấp trở lên thì do bộ Lại, bộ Binh đệ danh sách, chờ Chỉ.


    Người Đông Trì thuộc Thừa Thiên là Hoàng Nghĩa Thắng đào được ngọc tỷ((1) Ngọc tỷ : ấn ngọc.1), nhân dịp Khánh tiết, đem dâng nộp (ấn bằng ngọc màu xanh cánh chim trả, 4 mặt nguyên lành, đỉnh bằng, dưới nở trên thót, cao 1 tấc 6 phân 2 ly, bề vuông 1 tấc 5 phân 3 ly, khắc nổi 4 chữ “Phong cương vạn cổ”((2) Bờ cõi muôn thủa.2).


    Vua dụ Nội các rằng : “Ta xem cái ấn này, chữ triện lối rất cổ, hình như là vật về đầu đời Hán, chứ không phải chữ cận đại. Nhưng nay giặc cướp chưa yên hẳn, chính là lúc cần phải tu tỉnh, há nên khoe khoang điềm lành ? Tuy nhiên gặp được dịp tốt này, cũng là triệu chứng hay. Vậy thu lấy để làm cái ấn dùng đóng vào các bản thơ văn vua làm, cũng tốt”. Bèn cho Hoàng Nghĩa Thắng 30 lạng bạc.


    Miễn, giảm thuế năm ấy cho 10 châu thuộc Cam Lộ, có từng bậc khác nhau.


    Trước đó, giặc Xiêm đến xâm lấn, dân trong châu, kẻ thì bị giặc đốt nhà cướp của, người thì bị điều động đi tòng chinh hay hộ tống, chuyển vận binh lương. Đến đây đã bình định, lại nhân gặp dịp Khánh tiết, nên đặc cách gia ân (3 châu Tầm Bồn, Ba Lan, Mường Bổng bị giặc đốt cướp, được toàn miễn ; 6 châu Làng Thìn, Nà Bôn, Thượng Kế, Mường Vanh, Tá Bang, Xương Thịnh, bị điều động đi tòng chinh, được giảm 4/10. Châu Hướng Hóa đi hộ tống binh lương, được giảm 3/10).


    Điều bổ Dương Văn Phong, Tả thị lang bộ Hộ, hộ lý Tuần phủ Quảng Trị, làm Hữu thị lang bộ Hình.


    Cho : Hà Duy Phiên, nguyên Tuần phủ Gia Định, làm Tả tham tri bộ Lại ; Trần Văn Bưu, Hữu tham tri bộ Lại, vẫn giữ chức ấy, chuyên làm công việc thương trường((3) Thương trường : trường sở kho tàng.3).


    Hồ Hữu Thẩm, Bố chính lĩnh án sát Quảng Trị, bị bệnh. Vua cho Vũ khố Lang trung Đặng Văn Thống làm án sát Quảng Trị. Sau đó Thẩm chết, cho 50 lạng bạc, 1 cây gấm Trung Quốc, 5 tấm lụa, 10 tấm vải.


    Thăng Vũ Xuân Cẩn lên thự Hiệp biện đại học sĩ, vẫn lĩnh chức Tổng đốc Bình - Phú((4) Bình Định – Phú Yên.4).


    Xuân Cẩn từ khi ra làm Tổng đốc đến bấy giờ, làm việc chu đáo êm thắm ; gần đây, nhân có việc biên giới, Xuân Cẩn điều binh, vận lương đều được nhanh chóng đầy đủ. Vua ban khen, nên có lệnh [thăng] này.


    Vua dụ Nội các : “Từ trước đến giờ, phàm những công việc xây dựng cung điện, đóng sửa thuyền bè, xây đắp tường thành, nhiều lần đã dụ nghiêm ngặt : vật liệu phải tốt, làm phải chắc chắn, không được chút dối dá, bôi bác. Thế mà những viên giám lâm ((1) Giám lâm : người phụ trách coi quản tại chỗ.1) phần nhiều không thận trọng của kho, cứ lĩnh ra đến đâu phá đến đấy, không hề kiểm kê, tra xét. Những giám tu ((2) Giám tu : người đốc công.2) và chuyên biện ((3) Chuyên biện : người thực hiện việc thi công.3) cũng cứ mặc cho lính và thợ làm phung phí, không để tâm đến, đến nỗi nhiều khi có những tệ hại làm dối, làm điêu, ăn cắp, ăn bớt. Nay không thể không nghiêm sức lần nữa : từ nay về sau, nhất thiết công việc, các viên giám tu, giám lâm và chuyên biện phải đích thân kiểm tra, đôn đốc, nếu còn để cho lính và thợ ở trong làm bậy thì đều phải giao bộ nghiêm xét. Lại nữa, Viện Đô sát là nơi giữ gìn phong hóa, pháp luật, phận sự là phải bới vạch ra đàn hặc những tội lỗi ; việc thợ thuyền làm ăn tuy tầm thường, không phải đi xem xét, nhưng cũng nên năm ba ngày một lần đến tại chỗ mà kiểm soát, thấy có tình tệ gì thì phải nghiêm ngặt tham hặc ngay”.


    Cho Thổ Tri huyện Hàm Yên, gia hàm Thổ Tri phủ là Nguyễn Văn Biểu, làm Thổ Tri phủ và đổi đi lĩnh châu Đại Man.


    Châu Đại Man, từ khi giặc Khải nổi loạn, thổ ty, thổ dân chưa có sự thống thuộc. Biểu khéo vỗ về, khuyên bảo, được nhiều người tin nghe.


    Còn châu Hàm Yên ở ngay cạnh tỉnh thành và đã có Huyện thừa làm việc. Vì vậy Tham tán Nguyễn Công Trứ đem cớ này tâu xin. Vua bèn y cho.


    Tổng đốc Lê Văn Đức đạo Tuyên Quang từ An Biên đem quân khải hoàn, dâng sớ tâu : “Do thám được tin tướng giặc Nguyễn Thế Khôi cùng với đồng đảng hơn 1000 tên ở Lục Yên, lấn vào một dải tả ngạn ven sông thuộc hai xã Gia Tường, Chương Khê châu Vị Xuyên, mưu sắp sang sông, chặn ngang phía sau quân ta. Vả, An Biên đã bị giặc tàn phá, nhân dân các xã sở tại Phú Linh, Linh Hồ đều chạy trốn, nhà cửa không còn gì, không thể đóng giữ được nữa. Trong quân thì ốm đau nhiều, lương ăn, thức dùng thiếu thốn, mỗi ngày một quá ! Không lẽ ngồi để chờ nguy ? Hiện đã tư cho hai đạo Cao Bằng, Thái Nguyên biết. Rồi thần thân đem số binh dõng của mình chuyển về Bằng Hành và Vô Điếm (đều tên xã), đến gần chỗ đóng lương ở Phù Loan để lấy quân lương, đón tin tức Nguyễn Công Trứ và tùy theo cơ hội, trước hãy tiễu bọn giặc ở Lục Yên để đỡ cái lo gần đây. Lại xin nhận tội vì chưa tiếp được Chỉ đã vội rút quân về”.


    Vua phê : “Đã có Chỉ cho rút quân về, cớ sao đến nay còn chưa tiếp được ? Ngươi phải mang toàn quân về cho sớm là hơn”. Lại truyền dụ cho bố chính, án sát Tuyên Quang đem ngay dụ chỉ “lần lượt rút quân”, gấp sai đệ mau đến các quân thứ”.


    Bọn tướng quân, tham tán ở quân thứ Gia Định tâu nói : “Quân giặc trong thành lén ra ngoài nơi phụ quách để thám thính, quân tuần tiễu của ta đuổi bắt được một tên. Lại có đứa ra thú, nói rằng : “Hôm đánh thành, em tên giặc Lộc, ngụy Hữu quân Nguyễn Vĩnh Tái và đồng đảng, bị chết 44 tên, hiện chỉ còn hơn 2000 người”.


    Vua dụ : “Quân giặc liều chết giữ cô thành, còn dám lén lút vượt ra ngoài vòng vây dài, nhòm ngó tấn sở biền binh trổ sức đuổi bắt được, cũng đáng khen. Vậy thưởng cho ngân tiền Phi long hạng nhỏ và “thưởng công ngân bài” để khuyến khích. Từ nay, phải nghiêm sức các biền binh tuần đêm ở địa phận các tấn sở, nếu thấy giặc lén ra, phải gắng sức bắt giết, không để sót một tên nào, sẽ có hậu thưởng. Thảng hoặc bắt sống được những tướng giặc và những đồng đảng liều chết của chúng là các đội Hồi lương, An lương, Bắc thuận, Thanh thuận, An thuận, thì lập tức đem cắt tiết, moi ruột, tế các tướng sĩ trận vong để yên ủi những vong hồn trung dũng. Còn như nói rằng đảng giặc ở trong thành chỉ còn hơn 2000 tên, thì từ sau tháng 11 năm ngoái đến nay, nhiều lần có đứa ra thú đều nói một con số ấy, vậy từ trước đến giờ, chúng hoặc đã bị trúng đạn chết, hoặc bị bệnh chết, hoặc ra đầu hàng, sao con số ấy không thấy giảm đi chút nào ? Thực là vô lý ! Từ nay, nếu có đứa ra thú, thì phải tra hỏi minh bạch ; nếu chúng khai hàm hồ cho xong việc thì phải vặn lẽ để chúng khai thực, rồi tâu cho biết rõ tình hình”.


    Tổng đốc Trương Minh Giảng, Thự phủ Lê Đại Cương ở quân thứ Nam Vang, tâu nói : “Dân ta có người từ nước Xiêm trốn về, khi qua Biển Hồ, nghe tiếng súng gần Phủ Lật. Cứ theo chúng nói, thì người Xiêm quả đã động binh, muốn uy hiếp Chân Lạp. Bọn thần hiện đã chỉnh đốn binh thuyền tiến lên để tùy cơ đánh, giữ”.


    Vua dụ sai hai tỉnh Vĩnh Long, Định Tường đều phái ngay lãnh binh mang 1000 binh dõng, cho đi lệ thuộc để sai khiến. Lại phải chuẩn bị sẵn sàng tiền, gạo và muối của kho tỉnh, một khi trong quân có tư lấy thì tải đi để cấp cho.


    Sai thủy quân chuyển vận súng lớn, súng nhỏ, diêm tiêu, lưu hoàng đi phân phát cho các quân thứ Gia Định và Nam Vang cùng các tỉnh từ Phú Yên trở vào Nam : (Quân thứ Gia Định : Một cỗ súng phá địch đại tướng quân, một cỗ súng đồng tướng quân, 100 cây đoản mã thương, chấn địa lôi và các hạng đạn là 22200 viên, 1000 ống phun lửa. Quân thứ Nam Vang : 100 cây đoản mã thương. Ba tỉnh Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long ; mỗi tỉnh đều 5000 cân diêm tiêu, 1000 cân lưu hoàng. Tỉnh An Giang : 3000 cân diêm tiêu, 600 cân lưu hoàng. Ba tỉnh Phú Yên,
  • Chia sẻ trang này