0061.0018

26/1/16
0061.0018
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    Khánh Hòa, Bình Thuận : mỗi tỉnh đều 300 cây điểu thương, 6000 viên đá lửa). Lại cho chở cùng những sa, trừu, vải tây và đồ trà, giao cho tỉnh Gia Định giữ để tùy việc phát thưởng.


    Kinh lược đại sứ Nguyễn Văn Xuân và Phó sứ Phạm Văn Điển ở Nghệ An đem đại đội quan quân tiến đến phủ Trấn Tĩnh. Dân cư phủ lỵ đã bị giặc tàn phá, bỏ đi. Họ lại tiến đến Pha Xuân (tên đất, là chỗ ở của tên phản nghịch Chuyên Cương, nguyên Tuyên úy đồng tri phủ ở Lạc Biên, nó đã ngầm dẫn quân Xiêm về đóng đồn ở đấy), đuổi theo, không thấy tung tích đâu cả, bèn sức cho Tuyên úy đồng tri là Tuấn Kỳ và Thổ tri châu là Xâm Thúy trở về Trấn Tĩnh, chiêu dụ, vỗ về nhân dân để giữ bờ cõi. Rồi bọn Xuân lập tức dẫn quân về tỉnh, làm sớ tâu nói : “Tên phản tặc Chuyên Cương là Thổ ty phủ Lạc Biên, hùa với giặc Xiêm, xâm lấn quấy nhiễu Trấn Tĩnh, giết hại quan quân. Nay đại binh đến nơi, chúng đã chạy trước, thành thử không đánh giết được một trận to để chúng răn sợ, thực lấy làm hối hận”.


    Vua phê : “Giặc thấy bóng gió, chạy trốn xa, chắc chúng đã khiếp sợ. Nay quan quân rầm rộ kéo về để cho tướng sĩ nghỉ ngơi, ta rất hài lòng. Như thế là không đánh mà khuất phục được người, sao lại hối hận là nhọc mà không công ?”. Bèn xuống dụ cho nghỉ ngơi mấy ngày rồi mang các vệ, đội, do Kinh phái đi, trở về Kinh. Biền binh của hai tỉnh Thanh Hoa, Hà Tĩnh cũng cho về tỉnh. Lãnh binh


    Vũ Văn Thuyên trước lưu ở Trấn Tĩnh cũng cho rút về. Trong thời gian hành quân, không may có ai chết, đều cấp cho tiền tuất gấp đôi ; ai ốm, đều cấp tiền để điều dưỡng. Lại, Bố chính Nguyễn Đình Tân, án sát Vũ Đĩnh trù biện việc lương thực được đầy đủ, cho được khai phục những cấp bị giáng khi trước. Những văn võ,


    lại, dịch, lính tráng thuộc tỉnh có dự vào việc chuyển vận [lương thực] đều liệu


    ban thưởng.


    Con trai A Nỗ, Quốc trưởng nước Vạn Tượng là Chiêu Thiển, Chiêu Miễn, trước ngụ ở Trấn Tĩnh, đến nay không chỗ nương tựa, xin về cư trú ở tỉnh thành Nghệ An. Nguyễn Văn Xuân tâu đỡ cho họ. Vua dụ quan tỉnh, cho họ ở yên trong đồn Quy Hợp và thường thường trông nom giúp đỡ. Chiêu Thiển bèn dâng 5 thớt voi khỏe. Sai trả tiền theo giá, lại thưởng cho 100 quan tiền, 100 phương gạo.


    Vua sai Nội các truyền dụ cho bọn Nguyễn Xuân, Trương Minh Giảng, Lê Đại Cương và Trương Phước Đĩnh ở quân thứ Nam Vang rằng : “Nay quan quân hai đạo Cam Lộ, Trấn Tĩnh đều đã thắng lợi rút về, bờ cõi đã yên lặng, duy ở biên giới nước Chân Lạp gần đây còn có báo động. Lấy sự thế mà tính, thì hiện nay đương có gió nồm, đường biển khó vượt, chỉ có đường bộ xa xôi thì sao đáng lo ? Huống hồ giặc Xiêm luôn bị thua đau, nếu quả thực chúng xấu hổ mà lại đến, thì quân đi đánh nhau vì tức khí tất là thua, càng chóng đi đến chỗ chết mà thôi. Các đạo đã bị diệt, chỉ còn một mặt ấy thì có làm gì được ? Nếu chúng tự lường sức chẳng địch nổi mà ra khỏi cõi thì thôi, nếu còn trở lại xâm lấn quấy nhiễu, thì nên kíp khích lệ tướng sĩ đánh mạnh một chuyến, để chúng mãi mãi không dám ngấp nghé nước ta, thì lưới mới có thể ca khúc khải hoàn, rút quân về. Vả lại, nay chỉ dồn sức vào một mặt, không có cái lo năm đường bảy ngả, thì quyết muôn phần phải thắng. Lại truyền dụ cho các tướng quân, tham tán ở quân thứ Gia Định được biết : Nếu lại tiếp được lời hịch của Nam Vang xin điều quân lính, thì liệu để lại ở trường lũy 6000 quân đủ vây thành, còn bao nhiêu, lập tức phái thêm đi mau, để số quân tập hợp được hùng hậu, chóng báo tin thắng trận !”.


    ở Hà Nội có người là Nguyễn Văn Nhẫn trình bày phương lược trị thủy. Lời bàn chỉ thiên về một mặt. Tòa Tam pháp cho là mạo muội nhảm nhí, xin trị tội. Vua nói : “Cái lợi, cái hại về việc trị hà, ta đã từng vì dân mà cho rộng hỏi để tìm lấy thiện sách. Tuy người ta nói không phải, há nỡ bắt tội ? Tha cho !”.


    Đắp lại đồn thành Châu Đốc.


    Trương Minh Giảng, Tổng đốc An – Hà, và Lê Đại Cương, Tuần phủ An Giang, tâu rằng : “Thành mới An Giang chưa tiếp tục đắp được. Quan quân một tỉnh còn tạm cư trú ở Châu Đốc. Khuôn khổ thành cũ này dài quá, nên cắt bớt một đoạn cho thành hình vuông, chuẩn bị làm cái phủ thành giữ gìn biên giới sau này. (Thành cũ : rộng 60 trượng, dài hơn 140 trượng. Nay cắt chiều dài hơn 30 trượng, thì 4 mặt tiền, hậu, tả, hữu đều 60 trượng. Lại mặt tả quay ra sông lớn Châu Đốc nay đổi làm mặt trước). Hiện đã điều động hơn 1.000 dân phu làm việc và cấp cho tiền, gạo, hạn một tháng làm xong thì thôi”. Vua y cho.


    Vời thự án sát Vĩnh Long là Nguyễn Uẩn về Kinh. Đổi bổ thự Thông chánh phó sứ Trần Tuyên làm án sát Vĩnh Long.


    Cho viên quan bị cách chức là Tôn Thất Bạch được khai phục làm Tư vụ bộ Lễ. Bạch đi tòng quân để chuộc tội, làm việc không nề khó nhọc, nên nay được dùng lại.


    Sai bộ Lại, bộ Binh và các quan ở ngoài là các tổng đốc, tuần phủ, bố chính, án sát xem xét các quan chức văn, võ, có ai trùng tên họ thì cho người kém phẩm trật đổi tên (hoặc bớt đi một chữ, hoặc đổi chữ khác, hoặc đổi ra chữ đồng âm khác).


    Quy định lệ trông coi tuần thám và kéo cờ thuyền công ở 2 tấn sở thuộc cửa biển Thuận An, Đà Nẵng (2 tấn sở mỗi nơi đều dựng một chòi canh cao trên dưới 3 trượng, dùng ống kính thiên lý nhòm ra ngoài khơi, nếu thấy cờ hiệu hoặc dáng thuyền không phải của nước ta, mà đi thành đoàn từ 3 chiếc trở lên, thì một mặt báo về Bộ, một mặt đến tận nơi xét hỏi căn do kỹ càng, rồi tiếp tục báo thêm. Lại, bất thường, liệu lấy lính đồn đáp thuyền công hạng nhanh nhẹ, đi tuần tiễu chừng 20, 30 dặm ở ngoài khơi, nếu thấy thuyền lạ, thì lập tức phải hỏi rõ, về báo, cho được nhanh chóng.


    Phàm các hạng thuyền công được sai phái khi đi biển, gặp thuyền quan hoặc thuyền ngoại quốc, hay khi đến gần những tấn sở các hạt, hay khi ra vào cửa biển, thì các hạng thuyền hiệu bọc đồng phải treo cờ phướn ở trên cột buồm ở giữa và cờ đại vuông ở đằng lái, đều dùng cờ sắc vàng. Còn các thuyền khác đều treo cờ đại vuông ở lái để dễ nhận).


    Đạo quân Tham tán Nguyễn Công Trứ ở Tuyên Quang chuyển sang tả ngạn sông đến đồn Phước Nghi, dâng sớ nói : “Được tin giặc Chương, giặc Tuyên ở Lục Yên kéo lũ lớn đến thành Chiêm An, Long Đồ, chặn đường tiếp lương của An Biên; nếu không diệt chúng được sớm, thì đường [tiếp lương] thủy và bộ đều nghẽn cả. Cân nhắc việc nên làm trước làm sau thì Lục Yên là cấp, Côn Lôn là hoãn. Thần đã tư khẩn cấp cho Tổng đốc Lê Văn Đức sức ngay cho Lãnh binh Đoàn Văn Cải chuẩn bị sẵn thuyền bè ở chỗ đối ngạn với An Long. Rồi thần đích thân mang quân bản bộ, tiện đường rảo đến Thu Châu, xông thẳng đến sào huyệt giặc Chương, đánh vào chỗ nhất định chúng phải cứu, thì An Long tự khắc giải được nguy. Đoàn Văn Cải nếu thấy giặc ngấm ngầm di chuyển, lập tức vượt mau sang sông, thừa thế mà đánh, có thể thắng lợi hoàn toàn. Lục Yên đã bình, sẽ quay về An Biên, hội nhau làm việc”.


    Vua dụ : “Trời hè đã đến kỳ nóng dữ, quan quân không tiện ở lâu. Đã có dụ sai các đạo quân rút về tỉnh thành nghỉ ngơi. Vậy cho phép tuân dụ trước mà làm”.


    Lại dụ Tạ Quang Cự, Vũ Văn Từ đạo Cao Bằng hội đồng với Lê Đạo Quảng liệu để lại binh dõng chia đóng, phòng bị các nơi xung yếu, và tu sửa tỉnh thành Cao Bằng, rồi đem mọi tình hình trù biện tâu lệnh, chờ Chỉ rút quân về.


    Ngự sử Lê Đức Tiệm ở quân thứ Gia Định, bí mật trình bày về phương lược đánh thành, xin chế chiến cụ “Mông xung”, chĩa súng vào lỗ để bắn và làm thang leo thành, dùng hỏa mai làm hiệu.


    Vua bảo Nội các rằng : “Lê Đức Tiệm từ khi tòng quân đến giờ, không bày được mảy may mưu chước gì. Tháng trước, khi chưa đánh thành, nếu có chước hay, sao không bàn với các tướng quân, tham tán. Đến khi việc đã rồi, mới đệ tập mật tâu. Nay xét kỹ bản trình bày đều là những lời bàn suông, chật giấy, toàn không thực dụng, hãy tạm để đấy”.


    Bố chính Hoàng Văn Đản, án sát Hoàng Văn Minh tỉnh Gia Định tâu nói : “Ngày giặc Khôi khởi biến, Bùi Văn Thuận, Phó quản cơ cơ Phiên võ, Nguyễn Như Xuân, Suất đội đề lao, và Lê Văn Thịnh, thự Đội trưởng ở trạm Phiên Lộc Giang, đều bị giết vì đánh nhau với giặc. Nay con cái họ trình bày việc ấy và xin đề đạt cho họ.


    Vua thương tình, đều cho cấp tiền tuất gấp đôi.


    Bổ thụ Vũ Đức Trung làm Phó vệ úy, Tả vệ Ban trực. Trước đó, Nam Kỳ có giặc, Trung do chức Cai đội, quyền sung Phó vệ, đem binh đánh giặc, đến đâu cũng lập được công. Đến bấy giờ, Phạm Hữu Tâm về Kinh, vua hỏi đến các tướng sĩ thuộc quyền, ai là xuất sắc. Tâm thưa có Trung. Vì thế nên có lệnh này.


    Truy thụ chức Cai đội, trật Tòng ngũ phẩm cho Ngoại ủy suất cơ Lê Văn Chính. Trước kia, trận Phủ Lật, Chính đem hương dõng đi tòng chinh, nhân bị thương nặng, cách một ngày rồi chết. Đến bấy giờ việc tâu lên, vua đặc cách sai truy thụ chức ấy cho Chính. Và ban sắc nói từ nay, phàm các ngoại ủy suất cơ, suất đội có ai hăng hái xung phong, đến nỗi bị trận vong, hoặc bị trọng thương rồi chết thì :


    Ngoại ủy quản cơ được truy thụ cai đội, trật chánh ngũ phẩm ;


    Ngoại ủy phó quản cơ được truy thụ cai đội, trật Tòng ngũ phẩm ;


    Ngoại ủy suất đội được truy thụ đội trưởng, trật chánh thất phẩm, và đều được chiếu theo phẩm hàm, cấp tiền tuất. Những người bị thương cũng được chiểu theo là cai đội, đội trưởng mà cấp thưởng.


    Sai các địa phương xét các vệ, các cơ thuộc hạt mình, nếu đã đủ 10 đội mà chưa đủ 2 viên quản vệ, 2 viên quản cơ thì cho phép lựa chọn tâu xin bổ thụ. Nếu chưa có người xứng đáng, cũng cứ thực tâu bày, chờ Chỉ lựa bổ.


    Vua dụ Nội các rằng : “Phó lãnh binh Bắc Ninh là Nguyễn Văn Ưng, trước đây được ủy đi đánh dẹp riêng một đạo, khi lâm trận, sợ hãi chùn lại, đến nỗi hỏng việc, đáng lý phái chiếu quân pháp, chém đầu, nhưng nghĩ đương lúc dụng binh, nên cho cách lưu để gắng sức làm việc chuộc tội. Nhưng từ bấy đến nay, Ưng không lập được chút công trạng gì đáng kể. Nay quan quân đã rút về, không còn việc đánh dẹp nữa, vậy lập tức cách chức và bắt giao cho Tổng đốc Nguyễn Đình Phổ tra hỏi”.
















    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển cxxvi



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Giáp Ngọ, Minh Mệnh năm thứ 15 [1834], mùa hạ, tháng 5. Thăng : Tả thị lang bộ Binh là Đặng Chương lên thự Tả tham tri bộ Binh ; Tả thị lang bộ Hình là Nguyễn Công Hoán lên thự Tả tham tri bộ Hình ; Tả thị lang bộ Công là Đoàn Văn Phú lên thự Tả tham tri bộ Công. Đổi thự Thái bộc Tự khanh, biện lý bộ Hộ


    là Phạm Thế Hiển sung biện lý công việc bộ Công. Thăng Lang trung bộ Lại là Đào Trí Phú lên thự Thái bộc Tự khanh, biện lý công việc bộ Hộ.


    Quan tỉnh Ninh Bình theo lời dụ, xét thấy Lãnh binh Trần Hữu Lễ, trước giờ làm việc bắt giặc tỏ ra xuất sắc, bèn làm sớ tâu lên. Vua đặc cách sai thưởng thêm cho Lễ làm Chưởng cơ.


    Cho Thị lang quyền thự Tuần phủ Hà Tiên là Trần Chấn làm Bố chính Hà Tiên, hộ lý ấn quan phòng tuần phủ.


    Bổ thụ Nguyễn Văn Điển làm Bố chính Khánh Hòa, Nguyễn Công Tú làm Bố chính Định Tường.


    Tỉnh Hải Dương tâu báo được mùa, gạo hơn. Vua nhân bảo bọn thị thần là Bùi Phổ, Phan Bá Đạt rằng : “Năm ngoái lúa các tỉnh Bắc Kỳ tốt, thế rồi bỗng gặp nước lụt, không khỏi thiệt hại. Chẳng biết năm nay thu hoạch có được tốt cả mười phần không”. Bùi Phổ thưa : “Năm ngoái, tháng 3, tháng 4, nắng nhiều, cho nên, tháng 5, tháng 6 nước lụt ; năm nay, từ tháng giêng đến giờ thường có mưa, tưởng từ giờ trở đi cũng không muộn lắm, lúa má có thể giữ vững không hề gì”. Phan Bá Đạt thưa : “Sự giao cảm giữa trời và người rất gần, không xa, việc người sửa trị, thì tượng trời ứng theo, lẽ ấy không sai. Năm ngoái ngẫu nhiên có thiên tai từng nơi, hoàng thượng càng gắng tu tỉnh : bãi bỏ những công trình xây dựng thổ mộc, đình chỉ những việc không cần cấp, thương nông dân, xót xa những kẻ bị hình phạt, giảm tô, xá tội, sửa sang chỉnh đốn được mọi việc nhân sự. Cho nên từ sang xuân đến giờ, luôn có những trận mưa hòa, cây cối tốt tươi. Lấy lý mà suy, năm nay có thể chắc chắn được mùa to”.


    Vua nói : “Ta từ khi lên ngôi đến giờ, vẫn thận trọng, cố gắng, lo nghĩ, chuyên cần, không lúc nào dám chểnh mảng, không phải gặp thiên tai rồi mới tu tỉnh. Nay tuy được tiết trời hòa thuận cũng không dám lấy thế làm tự mãn, vẫn lo mỗi ngày một thận trọng thêm”.


    Tỉnh Vĩnh Long nhân trước kia có việc, ruộng nương bỏ hoang. Quan tỉnh đem tình hình đau khổ của dân tâu lên. Vua dụ cho miễn tô thuế năm ấy.


    Đổi châu Hạ Lang thuộc Cao Bằng làm huyện, đặt tri huyện, huấn đạo do triều đình bổ dụng, cùng một lệ với các huyện Thạch Lâm, Quảng Uyên, Thượng Lang.


    Tỉnh Hưng Yên tâu báo về cuối xuân, toàn hạt được yên ổn. Vua khen là biết cách vỗ trị dân, thưởng các quan tỉnh, phủ, huyện ấy gia cấp và kỷ lục có từng bậc khác nhau.


    Quan tỉnh Quảng Bình tâu nói : “Dân Man mới đến cư trú ở nguồn An Đại, trước là dân ở sách Mường Vanh thuộc tỉnh Quảng Trị, vì gặp đói kém, phải lưu tán đến đây, thuế má thiếu nhiều (số người là 200, mỗi người một năm phải nộp 2 đồng cân bạc). Vua dụ cho hoãn một năm, rồi chiêu dụ vỗ về họ cho ở yên như cũ.


    Tiết Đoan dương. Lệ trước, hằng năm cứ đến tiết Vạn thọ và tiết Đoan dương, đều dâng của mới. Các tỉnh Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên hái tiến xoài tượng, là của thổ ngơi các hạt ấy, do đường bộ đem dâng. Vua nghĩ : đệ theo đường ngựa trạm như thế vất vả, nhọc nhằn. Chuẩn cho : Từ nay, đến kỳ tiến, tỉnh Quảng Nam gần kinh kỳ vẫn theo lệ cũ, còn Bình Định và Phú Yên thì cho đi đường thủy để đỡ sức người.


    Chuẩn định : Từ nay, phàm đến chính ngày tiết Thánh thọ và ngày hôm trước tiết Vạn thọ, vua đi xe đến cung Từ Thọ làm lễ, rồi ở phía tay phải ngoài cửa đại cung, bày pháp giá((1) Thứ xe chính thức của vua đi.1), lỗ bộ. Còn 2 tiết Nguyên đán, Đoan dương thì đến ngày ấy, [vua] do Đại nội đến cung Từ Thọ, lạy mừng, không cần trần thiết. Việc này ghi để làm lệnh.


    Bắt đầu đặt chức tư giáo ở Tôn nhân phủ, trật tòng lục phẩm, sung làm tộc trưởng ở các dòng họ [nhà vua]. Sai bộ Lại ghi tên quan vào Hội điển tuân hành mãi mãi.


    Vua dụ rằng : “Nhà nước ta, thần truyền, thánh nối, hưởng Phước lâu đời ; chi phái thịnh vượng, con cháu đông đúc. Năm ngoái, đã cho phép Tôn nhân phủ xét từ dòng Thái tổ Gia dụ hoàng đế đến dòng Thế tông Hiếu vũ hoàng đế, những người có tuổi cho chí những người trưởng thành, ai quả thực là có đức hạnh và thông hiểu sự việc, thì cứ lấy mỗi dòng một người : nếu đương làm quan thì căn cứ theo chức hàm hiện có ; nếu nhàn tản thì bổ thụ chức đội trưởng, trật tòng lục phẩm, và cho sung làm trưởng tộc trong dòng họ ấy. Đó là ý ta truy tôn công đức tổ tiên, trung hậu thuận hòa với những người chí thân. Duy về dòng Triệu tổ Tĩnh hoàng đế, chưa từng đặt ra trưởng tộc. Nay dòng ấy cũng được phồn thịnh, hưởng Phước không khác mọi dòng, thì cũng nên nhất luật cho đặt cả. Thánh nhân đặt lễ, có thể dựa theo điều nghĩa, việc cấp thiết của triều đình là nhân công việc mà đặt tên quan. Vả lại, trưởng tộc đặt ra là để dạy dỗ con em, từ trước đến giờ trao cho “chức đội trưởng” là chưa được chính danh. Từ nay về sau, khi có tộc trưởng nào khuyết, cho phép Tôn nhân phủ được hội đồng lựa cử người thay. Phàm những người đã có quan chức mà phẩm hàm hơi thấp và những người tôn thất nhàn tản đều cho làm tư giáo Tôn nhân phủ, sung làm trưởng tộc dòng ấy và chiếu theo phẩm chi lương, không nên bổ chức đội trưởng nữa. Nếu gặp người phẩm hàm cao hơn thì vẫn do nguyên hàm mà lĩnh chức ; gặp người ngang hàm thì đổi bổ, và cũng đều cho sung trưởng tộc. Các ngươi nên đoái danh, nghĩ nghĩa, khuyên bảo đàn em khiến cho thành một nề nếp nhân hậu, có đức, có tài, để trên có thể thừa hưởng đức sáng của tiền nhân, dưới có thể ứng dụng vào công việc nước nhà, không phụ cái ý ta đãi họ hàng”.


    Vua ra coi chầu, sai mang bông kê ra cho bầy tôi xem và bảo rằng : Kê là một giống rất dễ trồng. Trẫm cho trồng ở khu trong cung, thấy có một bông sinh đôi, nhân lại nhớ đến cổ nhân cho lúa có bông sinh đôi là điềm lành. Kê không phải là lúa nhưng cũng là một loài ngũ cốc thì chắc cũng là điềm được mùa. Với lại, ở ao sen trong cung, nhiều hoa tịnh đế ((1) Tịnh đế : hai hay nhiều hoa chung một cuống.1) và cây cối cũng có quả sinh đôi. Vì khí tiết ôn hòa đầy đủ thì loài vật khỏe mạnh tốt tươi, cho nên hễ năm được mùa to, tất có cỏ hoa kỳ lạ báo điềm trước”.


    Trịnh Quang Khanh, quyền Tuần phủ Hưng Yên, tâu nói : “Chỗ đất xây thành tỉnh phần nửa thuộc ruộng chiêm, địa thế ẩm thấp, mà đất mới đắp thành còn chưa hoàn thổ, e nước dẫy mùa thu đột ngột đổ về, không khỏi có điều lo ngại. Thần đã thân hành đi khám tại chỗ, thấy phía ngoài khu ruộng ấy, có một con đường dài nhiều ngả ; từ phía hữu con đê công chạy qua các xã thuộc huyện Kim Động đến giáp con đê công làng Nễ Xuyên thuộc huyện Nam Xang dài hơn 840 trượng, bao bọc bốn mặt, hình thế khả quan. Xin ra lệnh cho dân sở tại khởi công sửa đắp (chân rộng 2 trượng, mặt rộng 1 trượng, thân cao 5 thước) để chống nước lụt”.


    Vua y theo lời xin, lại sắc cho bộ Hộ thông tư các địa phương : “Từ nay, có thuê dân làm việc, cho phép được khấu trừ vào tiền thuế, trừ những hạng cùng dân không kêu vào đâu được thì cấp lương cho”.


    Hoãn khoa thi Hương năm ấy ở trường Gia Định.


    Dụ rằng : “Nhà nước mở khoa thi, kén kẻ sĩ, đã có phép tắc sẵn, nhưng trong lúc xếp đặt về chính trị cũng phải có châm chước để được thuận tiện. Năm ngoái, các tỉnh Nam Kỳ nhân có việc khởi biến ở Phiên An, thêm vào đó, lại có việc giặc Xiêm sang lấn, học trò không ai là không nặng lòng căm kẻ thù, hướng việc nghĩa, theo đi trận mạc. Họ chưa được thả sức học tập, thì về văn thể mới, tưởng cũng khó lòng đều được tinh thông, nên trường thi Gia Định, nay hãy tạm đình một khoa. Học trò, người nào tài cao, học rộng, nức lòng muốn được tham gia văn vật chốn kinh đô thì cho phép đến phụ thí ở trường Thừa Thiên. Hơn nữa đường từ Thuận – Khánh((1) Bình Thuận, Khánh Hòa1) trở vào Nam có điều xa xôi, mà kỳ thi thì đã đến nơi, vậy nên đổi lại ngày thi để họ kịp việc. Trường Nghệ An cũng cho theo như thế”. (Lệ định : hai trường Thừa Thiên, Nghệ An đều lấy các ngày 1, 6, 12 tháng 7 nhập trường, ngày 23 yết bảng, nay đổi là các ngày 18, 23, 29 tháng 7 nhập trường, ngày 12 tháng 8 yết bảng).


    Sau đó, thấy số học trò hợp thí ở trường Thừa Thiên đông, nên sai cho đánh số và ghi màu sắc vào quyển thi để ấn định số lấy đỗ. (Phía dưới các chữ : đệ nhất, đệ nhị, đệ tam trường trên các quyển thi đều đánh dấu bằng chấm màu : quê quán thuộc Thừa Thiên thì dấu vàng, Quảng Bình thì dấu xanh, Quảng Trị thì dấu đỏ, Quảng Nam thì dấu đen, Quang Ngãi, Bình Định thì dấu đỏ thắm. Phú Yên đến Nam Kỳ thì dấu màu quan lục. Số cử nhân lấy đỗ 30 người : vàng, xanh, đen, đỏ thẫm, 4 màu, mỗi màu lấy 6 người ; màu đỏ lấy 4, màu quan lục lấy 2 ; nhưng tựu trung màu nào nên lấy thêm hoặc nên giảm bớt cũng tùy theo văn bài mà cân nhắc, chứ không phải câu nệ theo đúng).


    Lãnh binh Hà Nội là Trần Văn Lộc chết. Lộc trước đi tòng chinh ở Tuyên Quang, nhiễm khí lam chướng, bị bệnh, về tỉnh điều dưỡng ; đến bấy giờ chết. Quan tỉnh tâu lên. Vua thương xót, gia ân cho miễn nghị cái án gặp giặc, bỏ mất đại bác, lại cho chiếu theo phẩm hàm, cấp tiền tuất gấp đôi.


    Đổi bổ Phó Lĩnh binh Hà Nội là Vũ Đình Quang làm Vệ úy, trật Tòng tam phẩm, thự Lãnh binh Hà Nội ; cho Vệ úy mới bổ, trật tùng tam phẩm, lĩnh Quản phủ ứng Hòa là Nguyễn Đăng Khánh, làm Phó lãnh binh Hà Nội.


    Vua sai truyền dụ cho các Tướng quân, Tham tán, Lãnh binh ở quân thứ Gia Định rằng : “Các hạng đại bác và chấn địa lôi là những khí cụ đánh thành rất lợi hại. Nếu mỗi lần bắn nhất định trúng, vây cánh giặc chết hết, chúng không lấy gì đánh hoặc giữ được, thì không đánh cũng vỡ. Thế mà nhiều lần đã nghiêm dụ răn bảo, giục giã, cũng chưa thấy có kết quả gì, tựa hồ coi là một thứ giấy tờ chiếu lệ, rất là đáng giận ! Vả nay vây giữ trường lũy, đã chẳng tìm được kế gì giết giặc, mà một việc bắn cũng không chịu để ý dốc sức, thì đến bao giờ mới giết được giặc ? Chẳng lẽ dửng dưng ngồi nhìn mãi ư ? Vậy dụ lại lần nữa : phàm các núi đất và nơi có đặt đại bác, sức cho pháo thủ hàng ngày nã bắn. Nếu bắn đổ được kho tàng, làm cháy lan đạn dược, muối, gạo hoặc bắn trúng pháo đài trong thành, phá vỡ súng giặc, giết được nhiều giặc, thì lập tức chiếu lệ cũ, phát thưởng. Nếu đạn bắn không nổ hoặc nổ lưng chừng hay bắn sai đích vào chỗ đất không, thì tùy theo nặng nhẹ mà trị tội : hoặc phạt đánh bằng trượng, hoặc đóng gông, hoặc cắm tên vào tai, bêu quanh doanh trại để răn kẻ khác. Nếu chỉ thường thường không quan trọng, thì hằng ngày cho ghi kỹ tên họ người bắn, và bắn vào những đâu, rồi dăm ba ngày đem đối chiếu một lần, xét về công, tội. Nếu công, tội ngang nhau thì miễn nghị ; nếu công không bù được tội, thì trừng phạt có phân biệt ; nếu công nhiều hơn tội thì liệu khen thưởng. Rồi cứ theo thế mà làm thành đợt xét thưởng phạt, để họ biết rằng việc ghi chép công trạng được nghiêm minh mà hết lòng bắn, mới mong giết được nhiều giặc”.


    Các Tướng quân, Tham tán và Lãnh binh tâu nói : “Đã theo nghiêm dụ sức đem chấn địa lôi ngắm bắn vào pháo đài trong thành và kho tàng. Duy những phát bắn vào trong thành, rơi xuống đất rồi nổ thì nhiều, còn những phát không nổ hay nổ giữa trời, gián hoặc cũng có. Xét ra công tội ngang nhau, nên chưa thực hành thưởng phạt lần nào”.


    Vua lại xuống dụ, ra lệnh : hễ dăm ba ngày, đến kỳ kiểm xét, cứ lấy số 100 hay số 10 phát làm mức mà định công, tội. Thí dụ : mười phần đều trúng vào thành, rơi xuống đất, rồi nổ, thế là có công, không tội ; nếu trúng vào thành chỉ được 8, 9 phần 10, còn lại 1 phần bắn sai thì công, tội ngang nhau. Nếu trúng 9 phần hay không được 9 phần mà 1 phần lỡ làm bị thương quân lính [của mình] thì đều là công không bằng tội. Những người nạp thuốc súng cũng được xét công, tội, định thưởng phạt theo những kỳ xét ấy. Về sau, thấy những kỳ xét ngặt ngày quá, đổi làm một tháng hay hai tháng mới xét một lần.


    Đổi bổ Lang trung bộ Hộ Trần Công Chương, làm Phó vệ úy, trật Chánh


    tứ phẩm.


    Tổng đốc Trương Minh Giảng và Thự phủ Lê Đại Cương ở quân thứ Nam Vang tiến quân đến bến sông thuộc phủ Long Tôn. Giặc Xiêm, các đường thủy, bộ ở Mật Vi Xà và Trúc Đồn (đầu đất Xiêm, tiếp giáp cuối địa giới Chân Lạp) nghe quân ta đến, đều bắn súng ra hiệu cho nhau rút lui. Bọn Giảng bèn liệu để lại 300 biền binh đóng ở vụng Xà Năng để làm thanh thế cho đồn Tịch Biên. Lại sai người Phiên lập ở đấy một tấn sở lớn để phòng thủ. Rồi trở về Nam Vang, đem việc tâu lên.


    Vua dụ : “Giặc Xiêm trước đã nhiều phen thua đau, thế mà còn tự dấy hạng quân tức khí mưu toan xâm lấn quấy nhiễu, có ý muốn lấy được nước Chân Lạp mới cam lòng. Nay nghe quân ta đến, liền rút lui ngay, không dám ra mặt chống cự, thế là chúng sợ ta đó ! Người quân tử không làm điều gì thái quá, nhưng cũng có thể nhân cơ hội làm việc để dứt mối chiến tranh. Vậy nên cứ theo mẫu của Bộ, soạn một bản văn thư gửi cho tướng Xiêm để nó tỉnh ngộ hối lỗi, đâu đó giữ lấy bờ cõi, không được làm càn, tự mua lấy thất bại đau đớn. Chúng đã sợ oai ta, nhân đó ta dùng lời ngọt để khuyên giải, tất chúng không quen thói cũ mà sinh lòng tráo trở, thì cũng là một chước giữ đất, yên dân vậy.


    “Lại nữa, nay giặc Xiêm đã rút lui, Nguyễn Xuân nếu về đến Nam Vang, thì cho phép tạm ở lại ít ngày lo tính mọi việc cơ nghi, khi xong việc, lại về quân thứ Gia Định. Trương Phước Đĩnh thì mang ngay quân về trước, hiệp lực với các Tướng quân, Tham tán, chia nhau phòng giữ trường lũy”.


    Sau đó, Trương Minh Giảng sai Đội trưởng Dương Quan Thảo mang thư đi Xiêm. Tướng Xiêm, Chất Tri tiếp nhận, hậu lễ tiễn về, và nói : Việc xảy năm ngoái nước Xiêm vốn không có bụng nào, mà chỉ bởi vua Chân Lạp xin cho hai người em về nước, nên nước Xiêm mới hộ tống về, không ngờ vua Chân Lạp chạy trước, thành thử sinh ra lắm chuyện. Đến khi quan quân tới, quân Xiêm lập tức rút đi. Nay được thư, rất lấy làm hả. Bèn Phước thư gửi Thảo, nhưng Thảo cãi lẽ không chịu nhận. Người Xiêm không khuất phục được, đành dặn rằng sau khi Thảo về, Xiêm sẽ cho người đệ thư sang sau. Giảng đem hết mọi việc tâu lên. Vua phê : “Việc trước đã rõ. Nếu họ có sang : nên tiếp đãi thân thiện !”. Rồi bổ thụ Dương Quan Thảo làm Cai đội thuộc tỉnh trật chánh lục phẩm, lại thưởng 30 lạng bạc và một bộ quần áo. Thưởng Trương Minh Giảng kỷ lục 1 thứ.


    Bọn Tướng quân, Tham tán ở quân thứ Gia Định tâu báo tình hình trong quân, nói rằng : “Lần trước đánh thành, quân ta trong số bị thương có hơn 600 người đã bình phục”.
  • Chia sẻ trang này