0061.0019

26/1/16
0061.0019
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    Vua phê : “Sau khi mở xem tờ tâu, lòng ta hơi được yên ủi. Những người chưa khỏi, phải thượng khẩn chữa thuốc, cần cho tất cả đều được mạnh khỏe”. Lại dụ sai: “Từ nay, đến kỳ đệ tập tâu, phải xét xem số biền binh bị thương sau khi đánh thành mới được khỏi, cộng với số được khỏi kỳ trước là bao nhiêu, và số chưa khỏi còn bao nhiêu, nhất nhất phải thêm vào tờ tâu, để ta đỡ mong mỏi”.


    Tham tán Nguyễn Công Trứ đạo Tuyên Quang đánh phá đảng giặc ở Lục Yên.


    Trước đây, Trứ đến châu lỵ Thu Châu, tiếp giới với châu Lục Yên, nghe biết tướng giặc Hoàng Trinh Nguyên tập hợp 500 đồ đảng đóng ở thôn Mường, dựa chỗ hiểm, cố thủ. [Trứ] bèn phái binh dõng sấn đến đánh phá đồn giặc, chém được 4 thủ cấp, thu được khí giới, đốt kho tàng, doanh trại của giặc. Thổ ty Lương Bá Tư (là con Lương Bá Tuyển, thổ Tri châu Thu Châu, gia hàm Tuyên úy đồng tri) đi tòng chinh rất đắc lực, đã thưởng trước cho 5 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn. Vừa đó tiếp được dụ chỉ, Trứ lập tức dẫn quân về Tuyên Quang rồi làm sớ tâu.


    Vua phê : “Trong khi đem quân trở về, nhà ngươi còn giết tan được giặc. Khi xem tờ tâu, khiến người nức lòng đôi chút !”. Bèn xuống dụ rằng : “Chuyến hành quân này chỉ vì đường lương không kế tiếp, đã sắp mang quân về mà còn hăng chút sức thừa, giết được giặc, chém được thủ cấp. Tuy chỉ là cuộc thắng nho nhỏ, nhưng cũng đủ làm cho giặc hoảng, nức tiếng quan quân. Nay thưởng cho Nguyễn Công Trứ gia quân công kỷ lục 1 thứ. Lương Bá Tuyển, cha của Lương Bá Tư, trước sau đã xuất lực vì triều đình, nay con là Tư lại giết giặc, lập công, thì ban thưởng cho một tấm áo trận bằng nhung vải.


    “Còn đối với những người đã ra thú và các thủ hạ mang theo, nên xử trí cho khéo. Nếu có những kẻ tình nguyện vui lòng tòng quân thì liệu để lại một vài trăm ở tỉnh, cấp cho tiền, gạo để sai phái ; còn bao nhiêu thì chia về các đồn, mỗi nơi dăm ba chục tên, có quan quân xen vào để kiềm thúc, khiến cho họ gìn giữ lẫn nhau, ngõ hầu không sinh làm bậy. Hoặc giả nên cho hết cả về làm ruộng thì giao cho dân sở tại quản thúc, để họ đào giếng mà uống, cày ruộng mà ăn, yên nghiệp sinh sống. Lại phải truyền dụ cho họ biết rằng : họ đã được triều đình khoan thứ, rộng cho đổi mới thì yên phận, giữ phép, mãi mãi làm dân lương thiện, nếu còn cố ý phạm tội thì quyết khó lòng lại được khoan thứ. Hơn nữa, bọn họ nguyên là do ngươi mang đi theo, ngươi cần phải cấm chấp cho nghiêm để giữ tốt cho đến cuối cùng mới được”.


    Đạo quân Tổng đốc Lê Văn Đức về đến đồn Phù Loan, liền cũng tuân dụ, rút quân về, cho nghỉ ngơi mấy ngày, rồi trở về tỉnh lỵ cung chức. Những binh dõng do Đức mang theo, cho lựa lấy một số lưu lại để giữ Tuyên Quang, còn thì đều thả cho về. Lại thấy quan quân xông pha sơn lam chướng khí, nhiều người bị bệnh và chết, vua rất thương xót, bèn dụ rằng : “Những người chết được gia ơn cấp tiền tuất gấp đôi ; những người ốm : từ quản vệ, quản cơ trở lên, do sở tại phải tìm thầy chữa thuốc ngay ; các suất đội đến đội trưởng mỗi người được cấp 3 quan tiền, binh lính và thủ hạ mỗi người được 1 quan. Rồi cho phép được tùy tiện trở về hàng ngũ, hay về nguyên quán ; người nào quê quán xa, thì được Nhà nước trông nom cho việc điều dưỡng”.


    Vời thự Thủy quân Thống chế, tạm giữ ấn quan phòng, Tổng đốc Sơn – Hưng – Tuyên, là Hoàng Văn Trạm về Kinh.


    Tổng thống Tạ Quang Cự, Tham tán Vũ Văn Từ và Tuần phủ Lê Đạo Quảng ở đạo Cao Bằng rút quân về đóng ở tỉnh thành.


    Trước đây Vũ Văn Từ, Lê Đạo Quảng đều mang binh dõng : một người do Nậm Chử, một người do Nậm Đông tiến đến địa phận các núi Na Tình, Bình Bán (giáp xứ Mật Lũng Châu Bảo Lạc). Được tin có giặc mai phục ở núi Chử Lĩnh, toán tiểu đạo men khe mà đi, bắt gặp tên quân đi tuần của giặc, bèn đâm giết ngay. Giặc ở trên núi bắn súng, ném đá xuống, quân ta không tiến được, giặc cũng không dám xuống. Gặp trời chiều, mưa to, bèn đóng quân lại. Tạ Quang Cự cùng đến hội quân, cho đòi bọn tổng lý và thổ mục sở tại Thông Nông, hiểu dụ cho họ biết lẽ thuận, nghịch. Họ đều tình nguyện chọn cử người biết làm việc, đốc suất nhân dân hợp sức ngăn chặn những chỗ xung yếu trên con đường đi Bảo Lạc để được ở yên. Bấy giờ tiếp được dụ chỉ cho đem quân về, [bọn Cự] tức thì liệu trích binh dõng, chia phòng những chỗ xung yếu, còn đều cho rút về. Liền đó làm sớ tâu lên.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Nay trời hè, nắng dữ, chướng khí rất nặng. Đảng giặc đã lủi trốn vào rừng sâu. Các đạo quan quân đã cho phép rút về nghỉ ngơi rồi. Vả lại, đạo quân (Cao Bằng) này nhiều đến 5.500 người, số quân nhu, lương thực rất lớn, nếu ở cả lại đây cũng chưa tiện. Vậy truyền dụ cho bọn Tạ Quang Cự liệu trích ra 1.000 lính đắc lực vừa người Nam, vừa người Bắc, vài ba quản vệ và quản cơ cho theo bọn Văn Hữu Xuân giữ tỉnh Cao Bằng và sửa chữa thành trì. Lê Đạo Quảng, cũng cho ở lại đấy, bàn tính làm việc. Khi xong thì trở về lỵ sở mình. Còn bao nhiêu binh dõng thì Tạ Quang Cự, Vũ Văn Từ ca khúc khải hoàn, cho về hàng ngũ hoặc nguyên quán nghỉ ngơi. Lại nữa, những tướng sĩ tòng chinh, lâu ngày vất vả, gián hoặc có ai là thự hàm, thí sai hay quyền thí sai thì cho phép kê thành danh sách đệ tâu, chờ Chỉ để cho thực thụ. Những thổ hào, thổ mục, cũng xét xem ai thực đáng khen thưởng, thì kê khai theo thứ tự đệ tâu để liệu cho quan chức. Nguyên Phó quản cơ cũ bị cách chức làm lính là Lê Văn Sĩ, nay gia ơn cho đổi làm giáng 2 cấp, lưu dùng ; Trần Văn Duy trước cho đem sức chuộc tội, nay cũng cho miễn tội, vẫn cho theo Văn Hữu Xuân sai phái. Còn như dân ở Thông Nông tình nguyện hợp lực phòng ngừa giặc, nếu thực được như lời, thì bọn họ đã biết hối cải. Nay trước hãy truyền Chỉ ban khen : nếu họ giữ được đất đai, không để quân giặc xâm lấn sinh sự, thì quan tỉnh sẽ tâu rõ để hậu thưởng”.


    Vua cho rằng số nhu dùng về tiền, gạo của biền binh đóng giữ ở An Giang, Hà Tiên, Nam Vang rất nhiều, sai chuyển vận ở Bình Định, Phú Yên mỗi nơi 3 vạn quan tiền, Vĩnh Long 1 vạn hộc thóc và Định Tường 2 vạn hộc theo, đến giao cho Tổng đốc Trương Minh Giảng liệu chia ra mà chứa. Lại, với giá cao, mua thêm nhiều thóc gạo để phòng dùng đến.


    Tuần phủ Thanh Hoa là Nguyễn Khả Bằng và Thự phủ Hưng Hóa là Ngô Huy Tuấn tâu báo quân nước Nam Chưởng đã lui. Vua ra lệnh cho đều rút quân biên phòng về.


    Chia sai quan đi 6 tỉnh Nam Kỳ xếp đặt công việc.


    Cho Đặng Chương, thự Tả tham tri bộ Binh, đi đôn đốc công việc 2 tỉnh An – Hà (An Giang, Hà Tiên) ; Đoàn Văn Phú, thự Tả tham tri bộ Công, đi đôn đốc công việc 2 tỉnh Định – Biên (Định Tường, Biên Hòa) ; Dương Văn Phong, Hữu thị lang bộ Hộ, đi đôn đốc công việc 2 tỉnh Long – Tường (Vĩnh Long, Định Tường) ; bọn Nguyễn Thừa Giảng, thự Lang trung bộ Lại, gồm 6 người, mỗi người chuyên làm việc ở một tỉnh.


    Trước kia, đình thần cho rằng 6 tỉnh này, sau cơn binh hỏa, thành trì, binh dõng, thuyền bè, súng ống, khí giới và những công việc đáng làm, cần phải một phen chỉnh đốn sửa sang để cho có sự phòng bị, bèn bàn bạc châm chước làm rõ từng điều, xin lựa phái quan Kinh đến đôn đốc và cùng với quan tỉnh làm ngay, hạn trong tháng 7 là xong :


    (Một – Các tỉnh tuyển duyệt binh lính, nếu theo số ngạch cũ, thiếu thì gọi thêm cho đủ số, rồi năng huấn luyện cho thông thạo. Những mộ binh như các cơ Gia Định, Gia võ thuộc tỉnh Gia Định, cứ theo số hiện tại, dồn lại thành cơ, thành đội ; nếu đã sáp nhập vào phòng thủ trường luỹ, hoặc đã phái đi dẹp giặc, hoặc đã cho đi theo tỉnh sai phái, thì cứ để vậy như cũ. Tên nào đã chết thì xóa sổ đi, tên nào đã trốn thì cho hồi dân làm tráng, không nên trách cứ đòi hỏi nữa.


    Hai – Các cơ binh cũ do đồn điền dồn bổ chia đi lệ thuộc các tỉnh, người nào chết thì theo lệ xóa sổ. Còn số hiện tại và những tên bỏ trốn, đều bắt phải về làng, liệt vào hạng dân. Lại, các cơ binh của đồn Uy Viễn cũ, thuộc tỉnh Vĩnh Long, giao cho tỉnh sai phái, rồi do quan tỉnh căn cứ vào số lính cũ trong cơ và số người hiện có tên trong sổ đinh, tính dồn cả lại, liệu mấy đinh bắt một lính, bàn rõ, tâu lên. Khi tiếp được Chỉ, sẽ chiếu theo tên nào hiện tại ngũ thì chiết trừ đi, nếu còn thiếu thì bắt thêm để sung cho đủ. Thế rồi lại cho dồn thành cơ, đội, lập danh sách tiếp tục đệ tâu.


    Ba – Hương dõng các tỉnh, những người hưởng ứng việc nghĩa tình nguyện ở lại, thì do các nguyên quản viên cứ cai quản như cũ, không cần thay đổi lại. Những lính gọi thêm, thì chiếu cái số theo trong tờ dụ trước, liệu để lại, dồn thành cơ, đội, cấp phát cho khí giới, tiền, lương tháng, rồi cho luyện tập thành thạo và cứ con số hiện tại, tư vào bộ để lưu chiểu.


    Bốn – Các hạng binh dõng hiện đương đóng ở trường lũy, vây đánh 4 mặt thành Phiên An cũ, thì liệu để lại lấy 8.800 người chia làm 2 ban, mỗi ban 4.400 người :


    1. Binh dõng đương ban : Chia ra 4 mặt lũy, mỗi mặt 700 người, và 4 góc lũy, mỗi góc 100 người. Trại lính ở phía ngoài mỗi mặt trường lũy chia ra làm 5 đoạn : trung, tả, hữu, thượng, hạ. Đoạn trung đặt tên là Trung kiên, có 200 binh dõng ; hai bên tả, hữu của Trung kiên đặt là Tả kiên, Hữu kiên, mỗi bên 150 binh dõng. Bên tả của Tả kiên đặt Thượng kiên, bên hữu của Hữu kiên đặt là Hạ kiên, mỗi kiên đều 100 binh dõng. ở mặt trước [trường lũy] thì gọi là Tiền điện Trung kiên, và Tiền điện Hạ kiên. ba mặt [hậu, tả, hữu của trường lũy] cũng phỏng theo đó. Mỗi trại lính ở 4 góc trường lũy thì chia ra làm 2 đoạn, mỗi đoạn 200 người. Giả sử mặt trước có cấp báo thì 2 góc Tiền tả, Tiền hữu hợp với 5 kiên mặt tiền, mặt tả có cấp báo thì 2 góc Tả tiền, Tả hậu hợp với 5 kiên mặt tả, hợp sức lại để quây đánh. Hai mặt Hữu và Hậu trường lũy cũng phỏng theo như vậy.


    2. Binh dõng hạ ban : Đóng ở nơi xa phía ngoài trường lũy, 4 mặt đều lập doanh trại để ở và nghỉ ngơi ; cứ 10 ngày lại đến trường lũy đổi phiên một lần, để khó nhọc và nghỉ ngơi được quân bình.


    Những lính đương ban thì nghiêm phòng nơi tấn sở. Những lính hạ ban thì ở lại doanh trại để tập luyện, khi nghe có lệnh báo động thì phải tức khắc đến cứu ứng, không được bỏ hàng ngũ về quê, cũng không được tự tiện đến nhà dân quấy nhiễu. Nếu kiềm chế không nghiêm để sinh tệ nhũng, thì kẻ vi phạm phải xử theo quân pháp, mà người cai quản cũng bị nghiêm xét. Còn như những cỗ pháo đặt trên núi đất ở bốn mặt tường lũy thì những binh dõng đương canh giữ địa phận tấn sở phải hiệp lực cùng nhân viên pháo binh mà gìn giữ.


    Năm – Những binh dõng do Kinh và các tỉnh từ Bình Thuận trở ra Bắc phái đi tòng chinh đã lâu ngày thì các Tướng quân, Tham tán phải trích ra 4 vệ : Hữu vệ dinh Tiền phong, Hữu vệ dinh Thần cơ, Nhị vệ thuộc Trung bảo và Nhị vệ thuộc Hậu bảo phái đến chuyến trước, cho đáp các hạng thuyền đang rút về Kinh để về hàng ngũ ở Kinh. Bốn vệ : Hùng võ, Dũng võ, Nhuệ võ, Thần võ là hương dõng từ Bình Thuận trở ra Bắc, cũng tùy liệu cho đi đường thủy hoặc đường bộ mà về. Còn số binh dõng hiện còn lại thì tuân theo những đạo dụ nhiều lần trước, liệu để lại Nam Vang 2000, Hà Tiên 1.000 để đóng giữ. Trích trong số lính Kinh và binh dõng từ Bình Thuận trở ra Bắc lấy 6000 và binh dõng các tỉnh Nam Kỳ 2800 nữa cho đủ 8800 để lại ở trường lũy Gia Định. Bốn tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Định Tường, Biên Hòa thì căn cứ vào số binh dõng của tỉnh mình mà trích để lại : An Giang, Vĩnh Long mỗi tỉnh 1500, Định Tường 1000, Biên Hòa 500, để giữ tỉnh thành và sai phái việc công. Tỉnh Gia Định cũng trích trong số binh dõng tỉnh ấy lấy 1000 cho theo tỉnh sai phái. Trừ số binh dõng cần giữ lại rồi mà hãy còn thừa, thì liệu chiếu số, trích lấy lính Kinh tòng chinh đã lâu ngày mà cho về. Thảng hoặc không đủ, thì liệu giữ bớt lại số lính trong 4 vệ đáng trả về Kinh nói trên để phòng thủ, một mặt tâu rõ để phái lính khác đến thay.


    Sáu – Các hạng binh dõng hiện lưu lại đó, ở quân thứ thì từ Tướng quân, Tham tán trở xuống, ở tỉnh thì từ tổng đốc, tuần phủ, bố chính, án sát, lãnh binh trở xuống đến quản vệ, quản cơ, suất đội, đều phải luôn vỗ về, thương yêu họ ; nếu dùng lính làm việc tư, từ một người trở lên, một khi phát giác, sẽ trị tội nặng.


    Bảy – Các hạng thuyền của tỉnh còn lại và những thuyền mà quan quân đã thu được, thì các phái viên phải hội đồng ở Gia Định, tùy theo tỉnh lớn, tỉnh nhỏ, chước lượng chia cấp, rồi gồm với các thuyền do Kinh phái hiện lưu ở Gia Định và phái đi An Giang – Hà Tiên, cho kéo cả lên bãi, xem xét cho kỹ : chiếc nào dò rỉ cần tu bổ, thì kíp đốc thợ, dân và quân chữa ngay. Những đồ vật phụ tùng thuyền cũng nhất luật phải sửa chữa lại. Còn chiếc nào cũ nát, thì cho phá lấy gỗ dùng vào việc sửa chữa. Khi sửa chữa xong, đều phải làm xưởng để chứa thuyền.


    Tám – Các tỉnh lỵ, trừ thành Phiên An cũ, chờ khi bình xong sẽ làm, còn tỉnh nào nguyên có thành hào mà cần sửa chữa, bồi đắp, khơi thông, thì đều cần lần lượt sửa chữa cho hoàn chỉnh chắc chắn, rồi cho đặt những cỗ súng lớn lên pháo đài trên thành. Tỉnh nào chưa có thành trì thì cũng đắp tạm lũy đất, xẻ hào, cắm chông tre và chông chà. Những đồ binh khí như súng ống, khí giới, đạn được, cái nào hư hỏng thì phải tu bổ, thứ nào chưa đủ thì tư ngay quân thứ Gia Định phát cho đủ dùng. Các trường thương và cán cờ, nếu thiếu thì do tỉnh tự làm lấy.


    Chín – Những thợ và dân phu làm việc, mỗi người mỗi ngày phát cho 20 đồng tiền và 1 uyển gạo. Nếu gặp công việc vất vả nặng nhọc thì cấp thêm cho mỗi người 20 đồng).


    Lời bàn dâng lên. Vua ưng thuận, bèn sai bọn Chương đi, dụ rằng : “Cuộc kinh lý lần này khác với các cuộc kinh lý thường, mọi việc phải được thỏa đáng, tốt đẹp mới xứng đáng với sự ủy thác. Các tổng đốc, tuần phủ, bố chính, án sát và phủ, huyện, tỉnh nào lười biếng coi thường hay làm bậy, cho phép các phái viên của Kinh cứ thực nghiêm hặc ; các viên đốc biện, chuyên biện do Kinh phái đi nếu có sự bất công, bất chính, cũng cho phép các tổng đốc, tuần phủ, bố chính, án sát nghiêm hặc, không được thiên vị, giấu giếm. Ai nấy đều phải lấy việc nước làm trọng, hết sức thừa hành cho được lần lượt êm thấm, đâu ra đấy. Từ Lãnh binh, viên chức văn võ phủ, huyện cho đến lại dịch, ai làm việc lanh lẹn giỏi giang thì cho phép phái viên Kinh và tổng đốc, tuần phủ, bố chính, án sát sở tại cùng đứng tên tâu chung, chờ Chỉ khen thưởng”.


    Bá cáo việc bình Xiêm cho trong Kinh và ngoài các tỉnh.


    Dụ rằng : “Năm ngoái, người Xiêm vô cớ gây hấn, chia 5 đường sang xâm. Ta đã nhiều lần phái quan quân chia đường đi tiễu, trước sau bêu đầu tướng Xiêm 7, 8 người, bắt và chém đồ đảng giặc cũng đến hơn vài nghìn tên, cho đến voi, ngựa, súng ống, khí giới thu được không biết đâu mà kể. Giặc Xiêm luôn bị thua đau, tưởng cũng đã mất vía sờn lòng. Người quân tử không làm điều gì thái quá, nên không thèm lại đem quân đi hỏi tội chúng, để tướng sĩ phải đi xa xôi nhọc nhằn. Nếu chúng biết nghĩ, đáng nên ơn mà không nên oán. Không ngờ Man Di ngu xuẩn, không biết gì, muốn gây vạ mãi, rồi lại tập hợp những bọn Dao, Lạo, quấy nhiễu các hạt Trấn Tĩnh, Trấn Ninh và lừa dỗ nước Nam Chưởng hùa theo với chúng ; phạm vào châu Ninh Biên, tỉnh Hưng Hóa và phủ Trấn Man, tỉnh Thanh Hoa. Rồi ngu tối, chẳng sợ chết, lại dám kéo đến Ba Lan, Tầm Bồn thuộc Cam Lộ, cố ý cướp của, bắt người. Hơn nữa, đại tướng Xiêm, Chất Tri, lại đem quân tức khí, ngầm đến cuối địa giới Phủ Lật, Bông Xui, mưu tính nhòm nom ! Chúng không tự lượng sức mình, trái lẽ làm càn, không còn gì quá hơn nữa ! Chúng đã có lòng như rắn rết, thực khó lấy nghĩa lý mà hiểu dụ, nên ta đã tự khắc sai thự Hữu quân Đô thống, Hiệu Thuận tử, Nguyễn Văn Xuân mang đại quân đi kinh lược địa phận Trấn Ninh, Trấn Tĩnh, lũ Chưởng cơ Lê Văn Thụy đem một số quân do đường Cam Lộ, đổ đến đánh. Lại sai Hưng Hóa, Thanh Hoa truyền hịch điều động thổ dõng sở tại chặn đánh các nơi hiểm yếu. Và sai Tổng đốc An – Hà là Bình Thành tử Trương Minh Giảng cầm quân tiến đến địa đầu nước Chân Lạp, đánh dẹp. Rồi lần lượt được tin báo : Bọn Lê Văn Thụy cả phá quân Xiêm ở bờ phía bắc Khung Giang, chém và bắt được nhiều ; bọn giặc thua chạy, bị chết đuối ở sông rất nhiều. Những dư đảng ở Trấn Ninh và Trấn Tĩnh nghe thấy quan quân đến, cũng đều chạy trốn, không dám đương đầu chống cự. Trước đây cứ như Trương Minh Giảng tâu báo, thì tướng Xiêm là Chất Tri sợ oai quân ta, ngầm bắn súng báo hiệu cho nhau chạy trốn. Còn bọn Nam Chưởng nhỏ mọn ở Trấn Man thuộc Thanh Hoa và Ninh Biên thuộc Hưng Hóa, cũng rủn chí ngả lòng, chạy trốn trước, không còn bóng dáng đâu cả. Nay một dải ven biên giới đều đã bình yên.


    “Vả lại, người Xiêm trái đạo, nghịch lẽ, bỏ bạn, gây thù, thực đã bị trời ghét bỏ. Triều đình ta thì dấy quân nhân nghĩa, lý cứng, lời thẳng, được trời tựa kẻ ngay, tiên tổ và thần linh ban Phước, cho nên ở Cam Lộ, 3 trận đánh 3 trận được, ở Chân Lạp thì đánh luôn thắng luôn. Quân ta đến đâu lập công đến đấy, giặc Xiêm sợ bóng gió, chạy dài. Cái lẽ thuận nghịch đều đã rõ ràng. Quân thua, nước nhục, đều do chúng tự gây nên ! Bốn biển, trong ngoài đều rõ. Tôi con của ta chẳng ai là không yên ủi, vui mừng. Vậy ban dụ này cho mọi người đều biết”.


    Sai các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra Bắc xét xem các hạng biền binh đương ban mà tiếp tục cấp tiền, gạo, theo lệ. Đến kỳ tháng 7, hoặc nên cho lưu lại cả, hay nên chia ban, chuẩn cho các tổng đốc, tuần phủ, bố chính, án sát sẽ tùy theo công việc trong tỉnh mình nhiều hay ít mà liệu định, rồi tâu lên đợi Chỉ. Biền binh các tỉnh từ Quảng Bình trở vào Nam đến Bình Thuận cũng chuẩn cho lưu ban toàn số và phát lương cho làm việc công, bắt đầu kể từ mồng một tháng 6.


    Sai tỉnh Hà Tĩnh chế 300 khẩu súng điểu thương, theo mẫu của Vũ khố đưa đến (làm bằng sắt, dài 2 thước 2 tấc 1 phân ; đường kính nòng 3 phân, 7 ly ; đường kính miệng súng 4 phân 9 ly), vát thợ chế tạo. Lại sai tải 10 vạn cân sắt Hà Sung((1) Hà Sung : một địa phương sản sắt. (Theo Đại Nam thực lục, quyển 53, trang 19).1) ở kho Kinh đến tỉnh Nghệ An, cho theo đúng mẫu mà chế thứ súng này, cứ mỗi tháng 2 lần báo về Bộ để liệu cho tải nộp.


    Lại sai hoãn việc duyệt đinh tuyển lính ở Lục tỉnh Nam Kỳ.


    Vua dụ bộ Hộ rằng : “Năm ngoái chính là kỳ tuyển lính của Lục tỉnh, nhưng vì là lúc mới chia đất đặt tỉnh, nên chuẩn y lời kiến nghị của đình thần, cho hoãn đến năm nay. Nay nghĩ việc dẹp giặc tuy đã gần xong, nhưng bờ cõi vừa mới yên, nhân dân chưa hẳn đã hết thảy được an cư lạc nghiệp. Vậy lại cho hoãn đến sang năm”.


    Cho bầy tôi cũ khi vua chưa lên ngôi là bọn chủ sự Nguyễn Văn Công, Nguyễn Đức Trinh 25 người, được thăng chức và thưởng thêm bạc lạng có từng bậc khác nhau.


    Bọn Công, hoặc vì đường thăng thuyên chậm trễ, hoặc vì can án bị giáng cách, nay vua nghĩ thương tình, nên đặc cách gia ơn cho.


    Bộ biền tỉnh Nghệ An đánh thổ phỉ ở Thạnh Giai (tên trang, thuộc huyện Thanh Chương), chém được 6 thủ cấp giặc. Cai đội quyền Phó vệ úy vệ Diệu võ là Tăng Tháp, dẫn đầu quân lính, hết sức đánh, bị chết trận. Việc tâu lên. Vua cho truy tặng Quản cơ và thưởng thêm 20 lạng bạc.


    Sai các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận mua ván, gỗ với giá thỏa thuận chở về Kinh. Cho phép đều được trả tăng thêm giá và bỏ tiền công ra đặt trước.


    Hộ phủ Vũ Tuấn, án sát Doãn Văn Xuân tỉnh Quảng Yên phải tội, bị miễn chức. Dùng Bố chính Hải Dương là Trần Văn Tuân làm Bố chính Quảng Yên, tạm giữ ấn Tuần phủ ; Đại lý tự Thiếu khanh là Vương Hữu Quang làm án sát


    Quảng Yên.


    Trước kia, Vũ Tuấn đến thay làm việc tỉnh, thấy thuyền công bẩn thỉu mục nát, bèn gửi thư cho nguyên Tuần phủ Lê Đạo Quảng đòi súng và ngựa. Quảng cho là dọa nạt làm tiền, bèn hặc tâu. Vua sai Vương Hữu Quang đến nơi khám xét. Quang đến, xét thấy hơn 30 chiếc thuyền mọt nát, nhân đó tâu nói : “Lê Đạo Quảng bỏ hủy hoại của công, Tuấn thì dụng tình che giấu, còn Doãn Văn Xuân thì không chịu phát giác. Vậy xin nghị tội cả ba”.


    Vua dụ Nội các rằng : “Vũ Tuấn vốn là một chức quan nhỏ, được thăng chức lớn quá mau, thế mà không lo cố gắng báo đáp, trong sạch giữ mình, lại mượn việc công để mưu lợi riêng, giở ngón vẫy đuôi ăn xin như vậy, thực là không còn một chút tư cách quan tư, hành động giống như phường xáo chợ, há còn đáng nghiễm nhiên làm kẻ chăn dân một địa phương nữa ! Vậy lập tức cách chức, đòi về Kinh, giao bộ Hình nghị tội. Doãn Văn Xuân, trước đồng sự với Lê Đạo Quảng, không biết bàn bạc với nhau làm việc, đã là không hết trách nhiệm rồi. Về việc Vũ Tuấn đòi súng và ngựa, Xuân có dự biết, cũng điềm nhiên chẳng chịu can ngăn, thì sao thoát khỏi tội ? Vậy cũng cách chức ngay. Lê Đạo Quảng ở Quảng Yên lâu ngày mà ngồi nhìn của công hư hỏng như thế, thực đáng làm tội, nhưng vì trước đó y đã được điều đi việc khác, nên trước hãy giáng 2 cấp, cho tự bỏ của riêng, sai người hội cùng Doãn Văn Xuân ra sức sửa chữa cho xong sớm, thì sẽ liệu cho khai phục ; nếu không, sẽ trị tội nặng cũng chưa muộn. Đến khi bản nghị án của bộ Hình dâng lên, có xin khép Tuấn vào tội đồ. Vua đặc cách tha cho, và sai phát vãng đi quân thứ Thái Nguyên gắng sức chuộc tội.


    Ban cấp súng điểu thương máy đá cho lính người Nam ở các địa phương và các lính được huấn luyện ở sở tại. Nhân dịp, thông dụ cho các thống quản ở Kinh và các tổng đốc, tuần phủ, bố chính, án sát các tỉnh đều sức cho những người cai quản quân sĩ thuộc quyền mình kiểm xét súng lớn và khí giới, phải năng mài, cạo, cho được tinh sạch sắc bén, nếu để hư hỏng, cáu rỉ, sẽ có tội.


    Quan tỉnh Quảng Bình tâu nói : "Ba tấn sở Nhật Lệ, Linh Giang, Tiến Giang thuộc hải phận Quảng Bình đều có lệ thuộc theo vào tấn sở để đi tuần biển. Vậy xin ra lệnh cho mỗi tấn sở chuẩn bị lấy vài ba chiếc thuyền đánh cá nhanh nhẹ, chế tạo và phát cho các trường thương và dao nhọn dài chuôi, mỗi thuyền mỗi thứ 10 chiếc để tuần tiễu". Vua y cho.


    Đóng cửa các mỏ diêm tiêu, lưu hoàng ở Bắc Kỳ. (Mỏ diêm tiêu : Bắc Ninh, Tuyên Quang, Hưng Hóa mỗi tỉnh 2 sở : Lạng Sơn, Thái Nguyên mỗi tỉnh 1 sở. Mỏ lưu hoàng : Hưng Hóa 1 sở). Sắc cho các quan tỉnh, nghiêm cấm không cho khai thác. Ai dám khai trộm sẽ bị tội mãn lưu((1) Tội lưu nặng nhất : phải đày đi 3.000 dặm, làm lực dịch 10 năm.1). Cấm chợ búa và các nhà dân từ Hà Tĩnh trở ra Bắc không được tàng trữ mua bán từ 1 cân trở lên, ai không tuân sẽ bị khép vào tội trái lệnh và nặng thêm một bậc nữa.


    Nguyễn Trù, Đồng tri phủ Vĩnh Tường, Sơn Tây, thông đồng với tên giặc trốn tránh là Nguyễn Thậm, cho tiền, sai nó bắt trói người thường dân, ban đêm mang để ở ngoài thành phủ, giả làm như cướp, đem giết đi, rồi báo gian là chém được tướng giặc để được thưởng hậu. Không bao lâu, việc phát giác, Trù bị giam vào ngục, bèn uống thuốc độc chết.


    án sát Hà Tiên là Trần Nguyên Tưởng chết. Thăng Viên ngoại lang bộ Binh, Hồ Công Chỉ, hiện đương làm việc ở thành Nam Vang, làm án sát Hà Tiên.


    Phó Lĩnh binh tỉnh Sơn Tây, Tống Văn Uyển, chết. Uyển đi trận mạc đã nhiều, có chút công lao. Đặc cách cho cấp tiền tuất gấp đôi, và cho Hồ Bôi, Phó vệ úy, trật Tòng tam phẩm, làm Phó Lĩnh binh Sơn Tây.


    Bố chính Hoàng Văn Tú, án sát Trương Sĩ Quản tỉnh Cao Bằng tâu nói : "Đồn núi với thành tỉnh cách nhau hơn 100 trượng, là một chỗ giữ hiểm không đâu hơn. Sau này sửa đắp tường thành, nên cho hợp vào thành làm một. Nếu nay nhân việc sửa chữa nhỏ nhặt mà cho dời lập kho tàng về trong thành, thì không những thêm phiền bận ra, mà việc chuẩn bị phòng ngự cũng khó được kiên cố. Vậy xin nên cứ để nguyên như cũ, thành và đồn chỗ nào khuyết thì bồi bổ, chỗ nào thấp thì tăng cao lên. Như vậy đã có thể dựa vào địa hình địa thế mà lại đỡ tốn nhân lực". Vua y lời tâu.


    Thảo nghịch Tả tướng quân Nguyễn Xuân và Tham tán Trương Phước Đĩnh đem quân đến quân thứ Nam Vang, hội với Trương Minh Giảng, Lê Đại Cương, đứng tên chung trong tờ sớ, tâu rằng : "Trước kia có Chỉ nói những tướng sĩ và quan Phiên đi tòng chinh, ai có công trạng rõ ràng, thì đem số gấm và hàng dệt được ban đến mà thưởng cấp cho. Nhưng các tướng sĩ từ khi tòng chinh đến nay, hễ có tin thắng trận thì đã được hậu thưởng rồi. Nay chỉ xin xét kỹ công trạng của các quan Phiên để liệu cấp phát".


    Vua dụ : "Những của đó là thứ dùng thưởng ở trong quân, để khuyến khích


    về sau, há nên sẻn tiếc ? Nay thưởng cho Nguyễn Xuân, Trương Minh Giảng, Trương Phước Đĩnh mỗi người một áo, còn thì may làm quần áo, thưởng khắp cho các tướng dự việc bình Xiêm từ suất đội trở lên, để yên ủi tướng sĩ ta có lòng căm thù giết giặc.


    "Lại nữa, từ nay, hễ có tâu báo về công việc đánh dẹp, có ai bắn đại bác giết được giặc, hay điều khiển voi phá trận, khiến quan quân nhân đó mà thắng, cho đến ai chặt được đầu giặc khi chúng bị thương, và trước khi chúng chết, mặc dầu so với người ra trận, chém chết hoặc bắt sống được giặc, có kém đôi chút, nhưng cũng đều tâu rõ liệu khen thưởng, một là để tỏ rằng giết được nhiều giặc tại trận, [hai là tỏ rằng] những công trạng của họ dù nhỏ đến đâu cũng không bỏ sót. Đó là một chước rất trọng yếu để khuyến khích những người tòng chinh".


    Lại cho rằng giặc ngoài biên đã bình định, nên dụ cho phép những viên bị cách mới được khai phục là Tư vụ Tô Trân, Nguyễn Văn Bính và những viên phạm tội, quán từ Hà Tĩnh trở ra Bắc, được gắng sức chuộc tội ở quân thứ Gia Định, An Gang đều do các Tướng quân, Tham tán cấp giấy cho dẫn về Kinh, chờ Chỉ.


    Sai thị vệ đem đến ban cho Nguyễn Xuân, Trương Minh Giảng : thơ vua làm, quạt đàn hương, cái đeo quạt bằng ngọc trắng có khắc chữ "thọ" và khăn mặt bằng là lượt Hàng Châu có hoa màu đỏ, mỗi người mỗi thứ một chiếc ; Trương Phước Đĩnh : quạt đàn hương và khăn mặt bằng nhiễu đỏ, mỗi thứ 1 chiếc.


    Dụ rằng : "Nay đương kỳ gió nồm giải nóng, dùng [quạt] để lấy mát. Ta thực mong các ngươi mạnh khỏe, lâu dài hưởng thụ lòng yêu của ta". Rồi lại phát quạt và khăn mỗi thứ 100 và 50 cái đeo quạt bằng gỗ thơm, giao cho Trương Minh Giảng xét trong các tướng và quan Phiên đi bình giặc Xiêm, ai là người nổi tiếng thì cấp phát cho.


    Bọn Tướng quân, Tham tán, Lãnh binh ở quân thứ Gia Định tâu nói : "Có tên Nguyễn Văn Hân ở trong thành ra thú. Nó nguyên là thuộc hạ của Phạm Hữu Nguyên, thự Tri huyện Vĩnh Trị cũ (trước kia Vĩnh Long thất thủ, Nguyên bị giặc bắt, nhận chức Phó tướng của giặc, đóng ở cửa Tuyên Hóa), mang mật thư của Nguyên nói : "Số người Bắc Kỳ lầm lạc theo giặc cũng nhiều kẻ lương thiện, họ nói phẫn nộ ra miệng, xin cùng mưu với nhau giết tên đầu tội ác là Nguyễn Văn Chắm, rồi mở riêng một đường, dẫn quan quân vào thành. Nay Nguyên xin cho lời mật truyền để hiểu dụ cho mọi người khỏi nghi ngờ, mà định ngày khởi sự". Bọn thần hiện đã mật bảo chúng, đại lược nói : "Cái mưu đánh hãm thành trì, trong ứng ngoài hợp, là việc rất to lớn khó khăn, cần phải được kẻ đắc lực giúp cho một tay mới có thể thành sự. Nay tên đồng đảng giặc, Vũ Vĩnh Lộc, ở trong thành, là một tay cừ khôi, nếu ngươi có thể hiểu dụ nó bằng lẽ thuận nghịch để nó sớm biết quay đầu lại, đồng mưu ám sát tên giặc Chắm, rồi đốt các chỗ chứa thuốc súng ở trên thành để làm hiệu, thì quan quân lập tức leo thang lên thành, dễ như trở bàn tay. Hà tất phải
  • Chia sẻ trang này