0061.0020

26/1/16
0061.0020
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    mở một đường dẫn quan quân, không phải là cách nhanh chóng. Cửa quân ta không ưng cho làm như vậy". Chờ chúng trả lời thế nào, sẽ tùy cơ hành động".


    Vua dụ : "Cơ hội rất có thể lợi dụng, nhưng các ngươi bảo chúng làm như thế, không được đúng khớp. Nay phải làm bản mật thư nữa, đại lược nói về việc trước đã khuyên dụ Vũ Vĩnh Lộc, cùng mưu giết tên Chắm, việc đó xem có thể làm được thì làm, nếu thấy tên Lộc không thể dụ được, thì thôi ngay, chớ nên tiết lộ. Lại nên tức thì dụ bảo những người trong đội Hồi lương, An lương, Bắc thuận rằng : bọn chúng trước kia bị dồn ép vào thế lửa bỏng, mà phải lầm lạc theo giặc, không phải bổn tâm, quân môn ta đã thấu rõ, cho đình chỉ việc tìm bắt vợ con họ hàng của họ. Nếu họ chịu hợp sức giết hết bọn nghịch phạm, đem thành ra hàng phục, thì triều đình tất khoan tha cho tội trước, lại hậu thưởng cho nữa. Như thế, không những bản thân được hưởng Phước mà cha mẹ vợ con cũng khỏi liên lụy. Cần phải cẩn thận, bí mật, cốt cho được việc. Rồi sai Nguyễn Văn Hân ra ám hiệu cho chúng nhớ lấy, liệu thời cơ mà hành động, cần nhất là chớ tiết lậu, lỡ làm lộ việc".


    Vua được tin ở bờ hào phía ngoài thành Phiên An cũ có để nhiều ván, gỗ, bèn dụ sai các Tướng quân, Tham tán và Lĩnh binh tìm cách lấy về. Tướng quân Nguyễn Văn Trọng liền thân đốc Quản cơ Trần Hữu Thăng, Phó quản cơ Lê Văn Do và Ngoại ủy suất cơ Vũ Điêu Long đem 80 hương dõng, ban đêm đào lũy vào lấy được 150 tấm ván ghép và 500 cái hoành đều bằng gỗ táu. Họ bàn với các Tướng quân, Tham tán tư giao cho tỉnh Gia Định để tu bổ thuyền rồi làm sớ tâu nói : "Xưởng gỗ tỉnh Gia Định ở chân bờ phụ quách, trước đã bị giặc đốt ; những gỗ này ở gần lũy tuần tiễu, hiện đương tiếp tục đốc sức lấy nữa".


    Vua phê : "Các tướng quân và tham tán gần đây đánh dẹp, chưa nghĩ được chước lạ gì, duy có việc này làm cho người ta hơi hả dạ", bèn xuống dụ thưởng cho Trần Hữu Thăng, Lê Văn Do mỗi người ngân tiền Phi long hạng lớn 10 đồng, kỷ lục 1 thứ ; Vũ Điêu Long được trao chức Cai đội, trật Tòng ngũ phẩm, vẫn làm ngoại ủy đốc suất Tả cơ Gia Định ; 4 người ngoại ủy suất đội, mỗi người được thưởng 3 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn ; hương dõng, chung nhau 300 quan tiền.


    Lại dụ bọn Tướng quân, Tham tán và Lãnh binh rằng : "Những ván gỗ ấy hiện vẫn để ở ngoài thành mà từ trước đến giờ coi là của bỏ đi ; vật liệu hữu dụng mà để hơn một năm nay, hầu như để mặc quân giặc cho một mớ lửa. Thực ra chẳng có một chút mưu lược gì cả ! Kịp khi trẫm biết tin, mới lập tức dụ sai tìm kế để lấy. Nay chỉ phái có 80 hương dõng, mà lấy được nhiều như thế, thì biết là việc cũng dễ dàng, chẳng qua trước kia chẳng chịu để tâm cố gắng đó thôi. Nguyễn Văn Trọng đáng lý không nên cho dự thưởng, nhưng nghĩ có làm được việc thì dù muộn cũng còn hơn không. Vậy, Trọng trước bị giáng 2 cấp ghi ở dưới tên, nay gia ân cho khai phục 1 cấp. Từ nay, phải tận tâm tìm cách thu lấy bằng hết, quyết sẽ được trọng thưởng. Những gỗ lấy được, tấm nào dài đến 4 - 5 trượng, phải tải về Kinh không được đem dùng phí".


    Đảng giặc ở Lục Yên tỉnh Tuyên Quang tràn xuống địa phận xã Bảo ái thuộc Thu Châu. Thổ tri châu Lương Bá Tuyển xin quân cứu ứng. Bố chính Trần Văn Trung, án sát Nguyễn Huy Chiểu nói với Tổng đốc Lê Văn Đức, Tham tán Nguyễn Công Trứ, phái 300 biền binh đang trú phòng, đi ra ngăn chặn, rồi làm sớ tâu.


    Vua dụ bộ Binh rằng : "Lũ giặc ấy đã nhiều lần bị quan quân đánh tan, mà bọn còn sót lại ở Lục Yên lại vừa bị Nguyễn Công Trứ đánh phá một chuyến, tưởng chúng đã khiếp oai xa trốn, ẩn tích núi rừng ; thế mà, nhân lúc quan binh rút khỏi, lại dám lẻn đến sinh sự, thực rất đáng ghét ! Tuyên Quang là một kiêm hạt dưới quyền thống trị của Lê Văn Đức. Hiện nay Đức còn đương ở đó, lại không nhận việc đó là trách nhiệm mình mà tự đệ tập tâu, là thế nào ? Phải dụ sai Đức hãy ở lại Tuyên Quang, phái thêm binh dõng sung sức để hiệp lực đánh giết toán giặc ấy, bao giờ cho thực hết mới được tuân dụ trước, về lỵ sở nhận chức".


    Sau đó, Trần Văn Trung lại có sớ tâu báo rằng : "Vị Xuyên có tướng giặc là Ma Tường Quỳ họp tập hơn 500 đồ đảng, chiếm giữ đồn Phù Loan, sách nhiễu bắt tống lương thực. Châu Đại Man cũng có đồ đảng giặc tràn lan, phao ngôn sẽ định ngày đến đánh tỉnh thành. Dân đều trốn chạy. Bọn Cai đội Ma Tường Huy và Thổ ty Nguyễn Bá Cần ở Vị Xuyên có 8 người, đều mang gia quyến về tỉnh thành cư trú, chờ đại binh trở lại, thì sẽ lại theo đi ra sức đánh giặc.


    Vua lại sai bộ Binh truyền dụ cho Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ rằng : "Toán giặc ấy chưa trừ, cũng là công việc các ngươi chưa xong. Vả, trước đã ủy cho việc quân, hai lần cầm quân đi đánh dẹp đều không trừ được hết giặc ! Nay nhân có việc, mang quân về, hiện còn ở Tuyên Quang, thế mà đã phó mặc ngoài tai, không để bụng nghĩ đến, là ý nghĩ thế nào ? Giả sử nói rằng vừa mới về đến tỉnh, còn chờ Chỉ, chưa dám tự tiện sai phái, nhưng ngày nào chưa rời cái ấn quan phòng tổng đốc, tham tán ra thì ngày ấy vẫn còn trách nhiệm, sao được ngồi nhìn giặc cướp tràn lan, điềm nhiên không lo nghĩ, mơ hồ thực chẳng có định kiến gì !


    "Vậy nay cho phép đều kiểm điểm lại số binh dõng thủ hạ của mình, hẵng lưu lại đó mà tùy cơ đánh dẹp. Nếu bọn giặc tràn xuống, cách tỉnh thành không xa, thì hoặc nên phái một đạo kỳ binh ngầm chặn phía sau, rồi đại binh thẳng xông phía trước, làm chúng đầu đuôi không cứu được nhau, không lối thoát chết ; hoặc nên làm thế nào mà ra quân kỳ chiến thắng địch, đánh giết một trận thực dữ. Giả sử chưa đến thẳng được Vân Trung, san phẳng sào huyệt, thì cũng nên hết lòng xử trí, tìm mọi cách chiêu dụ vỗ về những người dân quy thuận với mình ở gần miền và phái binh dõng đi phòng ngự, để chúng không dám trở lại quấy nhiễu. Có như thế mới tạm chuộc được lỗi trước. Thảng hoặc tự liệu không làm nổi, cũng cứ thực tâu bày, ta sẽ cử viên khác thay thế. Lũ ngươi thì nhất định khó lòng còn mong khoan thứ được.


    "Còn như bọn Ma Tường Huy, trước sau một lòng quy thuận, tòng quân sai phái, không ngại gian lao, nay mang gia quyến đến nương tựa, tình thực đáng thương ! Vậy cho phép quan tỉnh lấy ra 200 quan tiền, 100 phương gạo, truyền Chỉ thưởng cấp cho chúng, rồi liệu nơi chiêu tập thổ dõng đi tòng chinh. Khi thành công, sẽ lại có hậu thưởng".


    Truy xét tội của Phạm Phổ, Lê Bỉnh Trung, Trần Hữu án ở Tuyên Quang.


    Vua dụ Nội các rằng : "Nguyên Tuyên Quang, Bố chính, án sát là Phạm Phổ và Lê Bỉnh Trung trước kia vỗ về dân, phòng ngự giặc có nhiều sai trái, gây nên vụ án quan trọng. Huống chi ngày giặc Vân chống cự người công sai, đã từng thích vào mặt người ấy những chữ : "Quan tỉnh thiên tư, ăn hối lộ", thì rõ ràng là chúng đã tham tang, gây thành cuộc biến, tội không thể tránh được. Kịp khi ủy đi đốc quân đánh dẹp, và hộ vệ vận chuyển quân lương, để "đới tội lập công", chuộc lại lỗi trước, thì lại không thi thố được mảy may để đến nỗi giặc giã tràn lan, mà quân nhu lương hướng cũng không đốc vát tiếp tế được đầy đủ. Nguyên Lãnh binh Trần Hữu án thì đánh dẹp từ trước đến giờ hoàn toàn không có thực trạng gì đáng ghi, lại bị thổ mục tố giác về việc sách nhiễu tiền bạc, mà việc đốc tải thuyền lương lại để giặc cướp mất. Hạng bề tôi ươn hèn làm lỡ công việc như thế, phép nước không thể khoan thứ. Phạm Phổ đã tự tử trước rồi và đã bị truy đoạt chức hàm, không cần phải xét nữa. Còn Lê Bỉnh Trung, Trần Hữu án chỉ mới cách chức, chưa đủ che kín được tội. Vậy cho phép bắt xích ngay lại, giao cho Tổng đốc Lê Văn Đức hiệp cùng hai ty bố chính, án sát, đôn đốc việc tra xét, nghị xử cho nghiêm minh".


    Cuối cùng, Trần Hữu án bị trảm quyết, Lê Bỉnh Trung bị án trảm giam hậu.


    Lại cho bổ Phạm Phổ là kẻ thủ phạm gây biến, bèn sai bộ Hình lại nghị tội. Bộ xin tịch biên gia sản, và bắt tội lây cả vợ con. Vua đặc ơn tha cho, nhưng cho tỉnh Thanh Hoa điều tra những con trai của Phổ từ 15 tuổi trở lên đều phát phối làm lính đi quân thứ Tuyên Quang, ra sức đánh giặc để che lấp cái lỗi của cha.















    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển cxxvii



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Giáp Ngọ, Minh Mệnh năm thứ 15 (1834), mùa hè, tháng 5. Cho : Tô Văn Trực làm Vệ úy vệ Nghĩa võ, dinh Thần sách ; Nguyễn Xuân Trị làm Phó vệ úy ; Nguyễn Tiến Tá làm Vệ úy vệ Túc võ.


    Dùng : Vệ úy Tiền vệ dinh Hổ uy là Lê Văn Phú làm Phó vệ úy vệ Cẩm y, chuyên coi các đội Túc trực và ty Trấn phủ kiêm lãnh Thị vệ ; Phó vệ úy vệ Cẩm y là Nguyễn Trọng Tính làm Vệ úy Tiền vệ dinh Hổ uy, vẫn lĩnh Thị vệ kiêm lãnh viện Thượng tứ.


    Chuẩn định : Từ nay những nhân viên hậu bổ ở các tỉnh, nếu có tang bố mẹ, xin về quê lo việc tang, hết hạn 3 tháng lại do tỉnh hậu bổ.


    Vua nhân thế, bảo quan Nội các là Thần Văn Quyền rằng : “Gần đây, những người hậu bổ có đến 2, 3 năm chưa được bổ dùng. Họ, nhà cửa xa, lương tháng ít, lấy gì mà chi dùng ? Vậy, nên làm danh sách kê rõ tâu lên, ta sẽ liệu cho


    cất nhắc”.


    Bố chính Thanh Hoa, Nguyễn Đăng Giai đem binh dõng đi 2 huyện Thạch Thành và Quảng Địa bắt được thổ phỉ là lũ Quách Công Thạch hơn 20 tên. Địa phương do đấy được yên tĩnh. Liền để lại 300 lính thổ đóng giữ đồn Phố Cát và 200 đóng giữ đồn Kim Tân, rồi về. Tuần phủ Nguyễn Khả Bằng đem việc tâu lên và nói : “Lúc Nguyễn Đăng Giai mới đến Quảng Địa, đã sai thổ mục sở tại đi khắp những nơi rừng rú, chiêu dụ bọn giặc trốn là mấy anh em Nguyễn Đình Bang, Nguyễn Đình Phát


    và Nguyễn Đình Lung. Sau đó, em Đình Bang là lũ Nguyễn Đình Lỗ đến cửa quân xin gia hạn để cùng rủ nhau lục tục ra thú. Vả lại, tình hình và địa thế giữa thổ phỉ Quảng Địa, Thạch Thành với thổ phỉ các huyện Thiên Quan thuộc Ninh Bình có quan hệ với nhau, nay chúng trước tự hướng theo giáo hóa, đem nhau quay đầu về hàng. Vậy xin cho đối xử cũng như lũ giặc trốn là Đinh Thế Đội ở Ninh Bình được miễn tội khi ra thú”.


    Vua dụ rằng : “Lũ kia trước nhân lầm lạc theo giặc, trốn lủi vào rừng núi để sống, nay lương tâm đã cảm xúc, đến cửa quân thú tội, cũng có thể cho được một phen gột rửa tội lỗi, theo đường đổi mới. Lũ Nguyễn Đình Lỗ đều được gia ơn tha thứ, và nên hiểu dụ tận mặt về uy đức của triều đình, để cùng bảo nhau hẹn trong 2 tháng, phải đem những giặc trốn là lũ Nguyễn Đình Bang, Nguyễn Đình Phát, Nguyễn Đình Lung ra thú, sẽ được miễn tội một loạt. Nếu ngoài mặt nghe theo, trong lòng làm trái, chẳng chịu đúng hẹn, thực lòng quy phục : ấy là tự cam nhận lấy cái vạ diệt vong. Sau đó dẫu muốn hối lỗi, đổi mới, cũng không bao giờ chuẩn cho ra thú nữa”.


    Tổng thống đạo Cao Bằng là Tạ Quang Cự, Tham tán Vũ Văn Từ, Tuần phủ Lê Đạo Quảng tâu nói : “Nay cả tỉnh Cao Bằng đều đã yên ổn, nhân dân dần đã trở về an cư lạc nghiệp. Dò thám ra, ở Mật Lũng, Chử Lĩnh, thuộc địa phận châu Bảo Lạc, và các xứ Long Lũng, Na Miêu ở trong khoảng Tuyên Quang, Thái Nguyên giáp nhau, còn có 1, 2 giặc tàn ẩn núp từ khi quan quân rút về đến nay, chúng đều chẳng dám trở lại gây sự. Duy có dân châu Bảo Lạc chịu để giặc Vân sai khiến, nên nó còn được thủ hiểm ở Vân Trung, Ngọc Mạo. Sau khi quân 3 đạo rút về, tất nó lại thừa cơ, lẻn ra cướp bóc những dân thung lũng gần đó để lấy thêm lương ăn và đồng lõa, cũng là cái thế tất nhiên. Nên phải có một số quân khá nhiều mới đủ phòng giữ. Bọn thần đã bàn cùng nhau, để lại 2.000 biền binh và 4 thớt voi chiến, 40 cỗ súng lớn và 800 thổ dõng, ủy cho Vệ úy Nguyễn Tiến Lâm coi quản, hiệp cùng quan tỉnh phòng giữ tỉnh thành, chia đóng đồn trại. Đến như việc sửa đắp thành quách, trong khoảng một tuần nữa, cũng sẽ làm xong và được kiên cố”.


    Vua dụ : Cho theo Chỉ trước, để Phó Lãnh binh Văn Hữu Xuân coi quản binh dõng mà rút Nguyễn Tiến Lâm về. Sau đó bổ Xuân làm Chưởng cơ sung Lãnh binh Nghệ An, chuẩn cho vẫn được ở lại Cao Bằng, hiệp cùng quan tỉnh xếp đặt công việc. Khi xong việc, về ngay Nghệ An cung chức.


    Ngày Kỷ Sửu, vua thân đi cày ruộng tịch điền. Trước hôm ấy một ngày, vua ra chơi cung Khánh Ninh, thấy trong cung treo đèn, kết hoa rất rực rỡ. Vua bảo : “Ta thấy rằng từ mùa thu năm ngoái, bỗng gặp tai thương, ta phải xét mình sửa nết : phàm những đồ châu báu vàng ngọc bày ở trong cung cũng đều bỏ bớt đi nhiều ; huống chi cung này chỉ là chỗ tạm trú một đêm, thì dùng các thứ ấy làm gì ? Từ nay không nên bày đặt nữa”. Kịp khi xem xét những đồ làm ruộng, thấy có nhiều thứ trang sức bằng vàng, vua bảo : “Ta hằng năm thân đi cày ruộng tịch điền, ý muốn chăm việc gốc, trọng nghề nông, lấy mình làm gương cho dân, cho nên không ngại khó nhọc. Đã gắng sức làm việc ở đồng ruộng, lại còn thích gì đến vàng ? Huống chi cái cày, cái bừa mà trang sức bằng vàng thì thật vô vị mà lại tỏ ra xa phí. Cái gì thôi được thì thôi đi, chẳng hạn như cái tay cày thì chớ trang sức. Cái gì không nên thôi được, như loại roi trâu thì nên trang sức bằng đồng hay thiếc để thay vàng, khiến cho cái danh xứng với cái thực, tỏ rõ được sự cần kiệm”. Ngày hôm ấy, đến giờ cử hành, ngự giá từ cung Khánh Ninh ra đi. Theo lệ, ở lầu Ngọ Môn, hồi canh 5, có đánh 3 hồi trống. Vua ra lệnh đình chỉ.


    Điệu bổ Tả tham tri bộ Lại là Hà Duy Phiên làm Tả tham tri bộ Công.


    Cho Nguyễn Khả Bằng làm Thống chế, lĩnh chức Tuần phủ Thanh Hoa ; Lê Đức Ngạn làm án sát Thanh Hoa.


    Quyền thự Tuần phủ Hưng Yên, Trịnh Quang Khanh, tâu nói : “Nước sông lên to, tràn qua đê Nghi Xuyên (tên xã, thuộc huyện Đông An). Chỗ đê cũ vỡ, lúa muộn bị ngập độ trên dưới 1 phần. Và 2 mặt tả, hậu tỉnh thành đều là đồng chiêm, địa thế trũng thấp, đã từng đắp một đê Tràng Nhai để hộ vệ, còn chưa xong thì gặp ngay mưa lụt, nước đến nhanh quá tràn vào chân thành sâu đến 2, 3 tấc”.


    Vua dụ Nội các rằng : “Việc phòng đê tỉnh Hưng Yên, trước kia, cứ theo ý muốn của dân, đình lại không đắp. Nay là mùa nước lên, nhân theo chỗ vỡ năm ngoái, tràn qua, ứ đầy đồng ruộng, cũng là tình thế phải đến thế, mà số lúa bị ngập, cứ theo lời tâu, chỉ độ trên dưới 1 phần, cũng chẳng lấy gì làm hại lắm ! Duy có việc tỉnh thành mới xây đắp là một việc to lớn, sao chẳng phòng bị trước như chim giàng tổ lúc chưa mưa ? Mới một lần nước dẫy, đã tràn đến chân thành. Thực là không đúng. Vậy sai Tổng đốc Đặng Văn Thiêm hội với Trịnh Quang Khanh, hết lòng bàn bạc, nên làm cách nào để giữ gìn cho cửa thành và thân thành không đến sụt đổ và sớm phải đem việc tâu lên”. Lũ Văn Thiêm liền xin ở đầu phụ quách 4 mặt thành, lấy cái ngấn nước năm ngoái làm mức, liệu đắp bao thêm chung quanh (trên mặt rộng 2 thước, dưới chân và bề cao đều 4 thước) để cùng với một dải đường dài, trong ngoài cùng dựa lẫn nhau, mới có thể giữ được, không lo sụt đổ. Vua y cho.


    Vua lại dụ bộ Công rằng : “Công việc đắp đê chống lụt rất quan hệ đến lợi, hại. Từ trước đến nay, ta đinh ninh dạy bảo, nói chẳng ngại phiền ; các quan trong ngoài đều đã nghe biết. Vả, mùa thu năm ngoái, ở Bắc Kỳ, báo tin bị thủy tai nhiều phen cũng bởi quan lại địa phương lười biếng, chưa thể đổ cả cho nước sông vì lên to gấp bội mực thường. Nay kỳ nước lụt còn dài, cần phải phòng bị trước, mới mong giữ vững. Trừ ra các tỉnh Hưng Yên và 7 huyện thuộc Hà Nội đã cho đình chỉ việc đắp đê, còn những tỉnh nào có đê thì nên dụ sai đốc, phủ, bố, án thân đi xem xét tại chỗ, rồi nghiêm sức phủ, huyện đều chiếu những nơi nguy hiểm xung yếu, gia tâm sửa chữa, phải làm một lượt cho vững bền trước ngày sơ phục. Nếu năm nay báo tin không bị vỡ đê thì nhất định sẽ được hậu thưởng. Nếu làm qua loa cho xong việc, hễ có một chỗ nào không chu đáo thì cũng nhất định sẽ phải trị tội nặng”.


    Điệu bổ Vệ úy Tả vệ dinh Tiền phong là Nguyễn Văn Tình làm Vệ úy Trung vệ dinh Long võ. Thăng Phó vệ úy vệ Uy võ dinh Thần sách là Trần Nhữ Đoan lên thự Vệ úy vệ Minh võ.


    Chuẩn cho Vệ úy vệ Hậu thủy là Đoàn Văn Suất, do nguyên hàm, thăng trật Chánh tam phẩm (nguyên định trật tòng tam phẩm). Suất theo hầu lâu ngày, làm việc nhanh nhẹn giỏi giang, nên được đặc cách cho như vậy.


    Quy định lại những người vào việc ở các đàn phân hiến((1) Bàn thờ phụ ở hai bên, khi tế, được chia rót rượu để dâng cúng.1) theo cúng trong lễ tế Nam Giao. Lệ trước, ngày tế Giao, có 3 đàn phân hiến, dùng các hoàng tử tước công và các đại thần văn võ, đều 4 người. Vua cho rằng phần nhiều hoàng tử đều đã lớn tuổi, có thể đủ người làm lễ. Vậy chuẩn định từ nay các đàn phân hiến, dùng các hoàng tử tước công ; các quan to văn võ không phải làm nữa.


    Bộ Lại tâu xin : Phàm những nhân viên mới được thăng thự rồi lại đổi bổ, chức ngang với phẩm cũ, thì xin cứ làm sắc văn theo chức hàm bổ sau. Còn chiếu văn về thự hàm thì đình lại không cấp. Vua y theo.


    Cai đội Kinh phái là Phạm Văn Linh đáp thuyền Hải đạo, đi Nam Kỳ làm việc công , gặp bão trôi đến nước Xiêm, tình thế rất nguy hiểm, có gặp người lái buôn ở đảo Phú Quốc là Hoàng Văn Kế giúp đỡ gạo ăn, rồi bỏ thuyền mình, tự làm lái, chở giúp thuyền quan, đưa về Hà Tiên. Quan tỉnh đem việc tâu lên. Vua khen là người chuộng nghĩa, cho Kế làm Đội trưởng theo tỉnh sai phái, lại thưởng thêm cho 1 chiếc áo sa và 100 quan tiền.


    Các tỉnh Nam Kỳ thiếu nhiều chức huấn đạo. Vua sai các đốc, phủ, bố, án ở Vĩnh Long và Định Tường chọn lấy những tú tài từ 40 tuổi trở lên ở trong tỉnh mình, có học và hạnh kiểm tốt, xếp thứ tự tâu lên, đợi Chỉ bổ dùng.


    Tỉnh Hải Dương mộ được hơn 50 người dân ngoại tịch từ Quảng Bình trở vào Nam, chuẩn cho đặt làm đội Tuần thành thuộc tỉnh.


    Bộ Hộ tâu nói : “Kỳ thu thuế vụ chiêm, vụ mùa ở các tỉnh Bắc Kỳ, phái ủy thuộc viên sung làm việc thu thuế, chứ không phải là việc đặt quan lại, thế mà từ trước đến giờ, nhất nhất lại cứ tâu trình, rất nhàm. Vậy xin từ nay chỉ đem tên họ người được phái đi tư Bộ, để phòng sau có kiểm tra, chứ không phải làm tập tấu dâng lên”. Vua chuẩn y lời tâu.


    Vua ra chơi Mộc thương((1) Xưởng chứa gỗ.1), hỏi biết nhân dân chở bán các thứ gỗ rất nhiều,


    hỏi bộ Hộ, thì bộ tâu rằng : “Năm ngoái, cứ theo bộ Công tư báo thì gỗ là hơn 7900 cây, trị giá hơn 19000 quan”. Lại hỏi bộ Công thì số gỗ ấy đã làm hết hơn 3700 cây.


    Vua bảo Nội các rằng : “Gỗ này chỉ dùng làm việc vặt. Gần đây không có công trình gì to lớn như xây dựng cung điện, chỉ dùng làm những việc lặt vặt thôi, sao lại dùng phí nhiều gỗ đến thế ! Tóm lại, chỉ bởi bộ Công không chịu để ý, mặc cho đốc công và thợ thuyền tùy ý pha phí, dựa vào việc công mà chấm mút xẻo xén. Tức như việc mới rồi, những hòm đựng súng điểu sang còn thừa, không lấy làm hòm đựng thuốc đạn, mà lại làm mấy trăm cái hòm khác. Lại nữa, bầu thuốc súng điểu sang chỉ thiếu vài nghìn cái, thế mà làm đến hàng vạn. Việc nhỏ còn như thế, việc khác chẳng hỏi cũng đủ biết. Như vậy muốn không hao tốn của kho, sao được ? Ta làm vua, đối với mọi việc, thảy đều yêu tiếc công của và sức lực, chỉ muốn tỉnh giảm, tiết kiệm cho đỡ tốn. Vậy mà lũ kia không thể theo ý ta, coi của công Nhà nước như phân tro, bùn đất, thật không biết bụng họ ra sao ! Vậy sai bộ Hộ và Viện Đô sát tra xét kỹ xem có chi lạm, ăn bớt hay không ? Và việc làm sai lầm càn rỡ ra sao, nhất nhất tâu lên”. Sau đó, các quan ở Bộ, ở Viện trích ra việc nhận lĩnh và phát ra mập mờ không rõ, rồi chỉ đích tên mà tham hặc. Bọn Đốc công Trần Văn Hiệu, quản Mộc thương Hồ Văn Hạ đều bị cách chức. Lại sai các nha Lại bộ, Lễ bộ, Binh bộ, Hình bộ, Thái thường tự, Quang lộc tự, Đại lý tự và Tào chính, chọn lấy chủ sự, tư vụ hoặc bát, cửu phẩm mỗi hạng một người, sai theo làm việc tra xét. Lại cho rằng các khoa, các đạo đều có chuyên viên, thế mà không chịu tham hặc, vậy ra lệnh cho sau khi kết án rồi cũng đem cả ra


    bàn xét.


    Vua nhân bảo thị thần rằng : “Ngôn quan((1) Quan giữ nhiệm vụ can ngăn, đàn hặc.1) là tai mắt của triều đình. Từ hoàng thân, quốc thích cho đến trăm quan, nếu ai không giữ công bằng, pháp luật, ngôn quan đều được hặc tâu. Ta cho rằng vua có bề tôi nói thẳng, cũng như cha có người con biết can, tưởng nên nói hết mọi điều, không giấu giếm để khỏi phụ trách nhiệm đã ủy thác. Nếu vì sự can ngăn mà phải tội thì cũng chẳng thẹn với Long Bàng và Tỷ Can((2) Long Bàng là trung thần của Hạ Kiệt. Tỷ Can là trung thần của Thương Trụ, hai người này đều tận tụy trong việc can ngăn nhà vua.2) ngày xưa. Chẳng dè lũ khoa đạo trước kia còn biết cố gắng khuyên can đôi chút, gần đây hèn nhát, luôn luôn có án vỡ ra ! Như vậy thì chức ngôn quan của triều đình đặt ra chỉ là có danh không thực”. Đến lúc án làm xong, Hồ Văn Hạ vì tội thông đồng với thợ thuyền, xẻo xén của kho Nhà nước, tang vật đến hơn 3000 lạng, phải tội chém ngay ; Trần Văn Hiệu không để ý xem xét, cũng bị cách chức, phát vào công sở, gắng sức làm việc để chuộc tội. Các tuần tra khoa đạo cũng phải phạt.


    Dùng Viên ngoại lang bộ Lễ là Nguyễn Đức Trinh sung làm Tham biện trông nom công việc công sở Vũ khố. Phàm những việc nên tâu đều chuẩn cho cùng với Giám đốc Hoàng Văn Lịch liên danh ký chung vào tờ tấu.


    Định lại phẩm trật cơ, đội các tỉnh.


    Cai đội trật chánh lục phẩm, thăng tòng ngũ phẩm ; chánh đội trưởng suất đội, trật tòng lục phẩm, thăng chánh lục phẩm ; đội trưởng, trật chánh bát phẩm, thăng tòng thất phẩm, xếp ở dưới bậc các quân dinh tỉnh Quảng Nam, cơ Quảng Nam ; tỉnh Quảng Ngãi, cơ Quảng Ngãi và 6 cơ Tĩnh man ; tỉnh Bình Định, cơ Bình Định; tỉnh Phú Yên, cơ Phú Yên ; tỉnh Khánh Hòa, cơ Khánh Hòa, cơ Hòa thắng ; tỉnh Bình Thuận, cơ Bình Thuận và Thuận nghĩa Tả, Hữu 2 cơ ; tỉnh Quảng Trị, cơ Quảng Trị, cơ Định man ; tỉnh Quảng Bình, cơ Quảng Bình ; tỉnh Hà Tĩnh, cơ Hà Tĩnh ; tỉnh Nghệ An, cơ An vũ ; tỉnh Bắc Ninh, cơ Bắc thiện ; tỉnh Lạng Sơn, cơ Hiệu thuận ; các tỉnh có Tượng cơ, Thủy cơ, đội Pháo thủ, đội Tuần thành). Duy có cơ Tuần thành của tỉnh Quảng Bình khác với đội lẻ tẻ ở các hạt, đổi thẳng làm vệ Quảng dũng, phẩm trật lương bổng đều xếp dưới Ngũ bảo((1) Ngũ bảo trong Ngũ quân, tức là Trung bảo, Tiền bảo, Hậu bảo, Tả bảo, Hữu bảo.1). Sau đó, lại thăng cho phủ binh Thừa Thiên và cai đội, chánh đội trưởng, đội trưởng các cơ đội Nam tráng, Nghĩa tráng, Định tráng, Phú tráng, Hòa tráng, Thuận tráng, Trị tráng, Bình tráng, phẩm trật cũng như mọi cơ đội trên.


    Thự án sát Phú Yên là Vũ Đức Mẫn làm việc tầm thường, đã bị cách lưu, nay bắt triệt về, dùng làm quan dạy học. Cho thự Phó trưởng sử là Nguyễn Văn Hảo làm Viên ngoại lang bộ Hình, thăng thự án sát tỉnh Phú Yên.


    Truy tặng Tư vụ Hoàng Sĩ Quang làm Chủ sự. Quang, trước đây, đi theo quân thứ Lạng Sơn, làm việc từ hàn, nhân bị bệnh chết. Tổng thống Tạ Quang Cự đem việc tâu lên. Đặc cách truy thụ chức Chủ sự và thưởng cho 10 lạng bạc.


    Đặt tên gọi cho Nam Bắc trực, Tả Hữu kỳ và Nam Bắc kỳ (Quảng Nam, Quảng Ngãi là Nam Trực ; Quảng Trị, Quảng Bình là Bắc Trực ; Bình Định đến Bình Thuận là Tả Kỳ ; Hà Tĩnh đến Thanh Hoa là Hữu Kỳ ; Biên Hòa đến Hà Tiên là Nam Kỳ ; Ninh Bình đến Lạng Sơn là Bắc Kỳ).


    Tổng đốc đạo Tuyên Quang là Lê Văn Đức, Tham tán Nguyễn Công Trứ tâu nói : “Theo sự dò xét nhiều lần, thì thổ phỉ các tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng đều có kẻ hùng trưởng mà đều lấy nghịch Vân làm chủ, châu Bảo Lạc thì Ma Sĩ Huỳnh, Nguyễn Doãn Cao, Nông Văn Nghiệt, Nông Văn Hải, Nông Đình Bành ; Vị Xuyên thì có Nguyễn Thế Nga và con là Nguyễn Thế Khôi, Nguyễn Thế Thọ, Nguyễn Thế Ngũ cùng đồng đảng là Nguyễn Thế Chiến, Nguyễn Thế Nho, Ma Tường Quỳ ; Đại Man thì có Nguyễn Quảng Khải và em là Nguyễn Quảng Thiêm, cùng tên giặc Thái Nguyên đang trốn là Nguyễn Đình Chu ; Lục Yên thì có Lưu Trọng Chương, Hoàng Trinh Tuyên, Hoàng Kim Quỹ. Đó là chỉ kể những đứa kiệt hiệt ở trong bọn giặc, còn bọn thổ ty, thổ mục không ra thú để theo đi đánh trận thì đều là vây cánh của chúng. Lại có những người Kinh phải tội, trốn đi các châu, làm chim mồi chó săn cho giặc. Đã tìm nhiều cách hiểu dụ mà chúng vẫn một mực ngoan ngạnh mê muội, cuối cùng vẫn không tỉnh ngộ hối cải, cho nên những người dân mọn không thể không theo được. Còn những đồ khí giới chúng dùng thì lại do thói quen hung ác của thổ dân : phàm là trai tráng đều
  • Chia sẻ trang này