0059.007 - @ nhani78 (Done WIKI)

19/11/15
0059.007 - @ nhani78 (Done WIKI)
  • PDF
    GoogleDocs



    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN III

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ

    Canh thìn, Minh Mệnh năm thứ nhất [1820], mùa hạ tháng 5, sai quan lễ tạ thần biển và đền Thai Dương phu nhân, vì cớ việc vận tải đường biển được yên ổn.

    Nhà quân Tiền phong cháy. Vua thân đem các quân Thị vệ đến dập tắt. Nhân dụ Tôn Thất Dịch và Võ Viết Bảo rằng : “Từ nay về sau phàm gặp cháy thì người trực ở tả vu tức thì đánh thanh la thổi tù và làm hiệu, đóng các cửa thành lại, quân thị vệ đều chỉnh bộ ngũ để đợi mệnh lệnh ở hai bên tả hữu điện Thái Hoà. Khi lửa tắt đánh chiêng thì thôi”.

    Chuẩn định từ nay trở đi các quan không có lệnh triệu vào chầu hầu thì không được tự ý vào Tiện điện. Chánh phó vệ uý vào cửa Tả Túc trở vào thì chính mình đeo lấy gươm, không được giao cho người đi theo.

    Ngày Kỷ mùi, đúc ấn vàng của Thế tổ Cao hoàng đế (vuông 2 tấc 7 phân, dày 3 phân 2 ly, núm rồng ngồi, khắc 6 chữ triện “Thế tổ Cao hoàng đế bảo” và ấn vàng của Cao hoàng hậu (vuông 2 tấc 3 phân, dày 2 phân 7 ly, núm rồng ngồi, khắc 4 chữ triện “Cao hoàng hậu bảo”). Sai Chưởng dinh Trương Tiến Bửu trông coi công việc.

    Tiết Đoan dương, miễn lễ chầu mừng cho các quan.

    Cho những cung nhân triều trước, người nào không có con thì về với người thân. Đầu là vua sai làm dãy nhà dài ở sau điện Hoàng Nhân cho cung nhân ở để đợi hết tang. Lê Văn Duyệt xin theo di mệnh của Tiên đế, ai muốn về thì cho về. Vua cho lời ấy là phải, ra lệnh cấp cho mỗi người 2 năm lương.

    Triệu các Hương cống khoa Kỷ mão về Kinh, phái làm hành tẩu ở sáu bộ để học tập chính sự, cấp lương tháng cho mỗi người tiền 2 quan gạo 2 phương. Rồi sai Nguyễn Hữu Thận chọn lấy vài người học hạnh thuần cẩn sung làm trực học cho các hoàng tử. Thận cử Trương Đăng Quế, Doãn Văn Xuân và Ngô Hữu Vĩ. Vua y cho.

    Vua nhân hỏi Thận rằng : “Nay đương cần cấp chuộng văn, để ý bồi dưỡng, mà nhân tài còn chưa được nhiều, ý giả sự cất nhắc người giỏi ở chốn quê mùa chưa được như đời cổ chăng”. Thận đáp rằng : “Phần nhiều người dạy chưa được người giỏi, nên ít người thành tựu”.

    Vua nói : “Phải, đó là điều trẫm rất giận. Gần đây như Cao Huy Diệu làm Đốc học Gia Định, không tuyên dương được phép dạy để mài giũa thói tập của học trò mà lại cùng học trò đánh bạc chơi bời, sư phạm mà như thế thì mong thành tựu được nhiều người chẳng cũng khó lắm sao !”

    Lấy Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt lãnh Tổng trấn thành Gia Định. Phàm truất thăng quan lại, hưng lợi trừ hại, tất cả việc thành và việc biên cương đều cho tuỳ nghi mà làm.

    Duyệt bệ từ. Vua cho rằng ký thác công việc ở biên khổn khó tìm được người, hai ba lần vỗ về yên ủi. Sai vệ Tả bảo nhất, vệ Tả bảo nhị, vệ Minh nghĩa và 2.000 người biền binh Bắc Thành, Thanh, Nghệ ứng triệu về Kinh đi theo. Lại sai cựu Lưu thủ Nguyễn Cửu An theo đi Gia Định để quản suất năm đội Bính ở thành cùng các đội Bính ở các trấn. (Biền binh Bắc Thành, Thanh, Nghệ còn ở Kinh 1.500 người, đến tháng 6 cho về ngũ).

    Lấy Vệ uý vệ Tín trực là Nguyễn Văn ứng làm Vệ uý vệ Trung bảo nhị, Cai cơ Trần Văn Hiệu làm Phó vệ uý vệ Tín trực, Phó vệ uý quản các đội Hữu sai thuộc Hữu quân là Phạm Văn Châu làm Vệ uý vệ Hữu bảo nhị.

    Lấy Tham hiệp Thanh Hoa là Trần Nhật Vĩnh làm Thiêm sự Hình bộ, theo thành Gia Định chuyên làm việc từ chương, Thiêm sự Hình bộ là Hoàng Quốc Bảo làm Tham hiệp Thanh Hoa.

    Quốc Bảo bệ từ. Vua dụ rằng : “Ngươi đến trấn nên cùng với bạn đồng liêu kinh dinh xếp đặt, phàm việc gì có thể ích nước lợi dân thì hết sức mà làm, chớ nên chỉ mưu cho mình tạm khỏi tội lỗi mà thôi”.

    Lấy Đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách là Trần Văn Năng, quyền coi ấn vụ Tiền quân. Vệ uý vệ Định võ Tả dinh là Nguyễn Văn Mân làm Chưởng cơ quyền coi ấn vụ Phó đô thống Hậu dinh, Quản cơ cơ Trung thắng Hậu quân là Nguyễn Đình Phổ làm Vệ uý vệ Định võ.

    Trấn Nghệ An đặt mua gỗ làm thuyền hiệu, những người lĩnh tiền của nhà nước phần nhiều chưa nộp gỗ. Đình thần bàn xin bắt nộp. Vua nói : “Trẫm nghe trấn Nghệ An đương khổ về thiếu ăn, dân ta làm sao lấy được gỗ để nộp cho nhà nước ! Vậy miễn cho”.

    Sửa đắp đài Trấn Hải. Sai Lê Chất trông coi công việc.

    Trước đây vua bảo Chất rằng : “Tiên đế đắp đài để giữ cửa biển Thuận An, gần đây sóng gió vỗ vào làm lở sụt. Muốn cho vững thì nên dùng chước gì ?”. Chất xin đóng nhiều cọc gỗ rồi lấp bằng gạch đá. Vua cho là phải, nhân đấy sai Chất làm. Sau vài tháng Vệ uý Lê Văn Chương từ Thuận An tâu rằng phía trước đài đất cát bồi dần. Vua mừng nói rằng : “Đài này gần sát sóng biển, thường lo vỡ lở, nay có cát để chắn thì đài vững được. Đấy là ý trời giúp cho, không phải sức người làm được”.

    Cho bốn người con công thần Vọng Các Cáp Văn Hiếu hằng tháng được chi tiền gạo.

    Định lệ khoá thanh tra cho cục Bảo tuyền Bắc Thành. Đầu là đại sứ cục Bảo tuyền Trương Văn Minh xin cho khám xét. Giao xuống đình thần bàn, đình thần tâu xin sai quan kiểm tra, từ tháng 4 năm Gia Long thứ 12 [1814], đến tháng 2 năm Minh Mệnh thứ 1 [1820], làm khoá năm Kỷ mão ; từ năm Minh Mệnh thứ 1 trở về sau, cứ 3 năm một khoá, lấy các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu làm khoá kỳ. Đều chọn phái một người thiêm sự Hộ bộ đem các lệnh sử ty sáu bộ mỗi ty 1 người đi kiểm xét, theo như lệ thanh tra lương tiền. Vua nghe theo. Bèn sai Thiêm sự Hộ bộ Vũ Văn Vượng trông coi công việc thanh tra cục Bảo tuyền.

    Thành Gia Định dâng chim hạc đen và lợn vàng nước Ma Ly Căn.

    Xuống chiếu tìm sách cũ. Chiếu rằng : “Trẫm nghĩ đế vương các đời dấy lên, tất có sách sử mỗi đời để chép lời nói việc làm và công việc chính trị mà để lại đời sau. Nhà nước ta, từ Triệu tổ hoàng đế mở đất dựng nước, Thái tổ hoàng đế chịu mệnh nối ngôi, các thánh nối nhau rỡ ràng sáng rạng hơn hai trăm năm, trong khoảng ấy đều có sự tích. Duy vương chế chưa đủ, sử cục chưa có sự biên chép của quan Trụ hạ((1) Trụ hạ : tên quan ở đời Chu Tần, tức là Ngự sử, đứng hầu ở dưới cột điện.1)hãy còn thiếu sót. Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, trung hưng nghiệp đế, dựng nên thái bình, nhớ lại công xưa, nghĩ tìm thực lục, nhưng muôn việc nên không kịp làm, sử chức vẫn còn bỏ thiếu. Trẫm để ý điển xưa, noi theo chí trước, ngửa nghĩ rằng nhờ công đức các đời mở đắp mới có ngày nay, càng muốn làm cho rõ rệt dấu xưa, giao cho sử quan soạn thuật. Nhưng từ lúc dấy quân về sau, kho sách không có bằng chứng, duy các nhà nhiều học thức hoặc còn ghi chép được chăng. Vậy chuẩn cho quan dân trong ngoài, phàm nhà nào cất được những bản biên chép điển cũ của triều trước, thì không kể tường hay lược, đem nguyên bản tiến nộp hoặc đưa cho nhà nước sao chép, đều có khen thưởng”.

    Do đó trong ngoài đều đem các bản biên chép đến dâng. Thượng thư Trịnh Hoài Đức dâng sách Gia Định thông chí (3 quyển) và sách Minh Bột di ngư văn thảo, Chiêm hậu Hoàng Công Tài dâng sách Bản triều ngọc phả (2 bản) và sách Kỷ sự (2 bản), người Quảng Đức là Cung Văn Hi dâng sách Khai quốc công nghiệp diễn chí (7 quyển), người Thanh Hoa là Nguyễn Đình Chính dâng sách Minh lương khải cáo lục (34 điều), người Quảng Ngãi là Võ Nguyên Biều dâng sách Cố sự biên lục (1 quyển). Vua khen, thưởng cho vàng lụa theo các bậc khác nhau.

    Quan Bắc Thành tâu nói : “Đồn Bạt Thái ở Sơn Tây (thuộc huyện Bất Bạt) đất giáp huyện Tam Nông, thực là quan yếu. Thủ bảo là Nguyễn Đình Lương mộ được 50 người đinh lậu tịch từ Nghệ An trở vào, xin lập làm đội Hùng oai, hằng tháng cấp gạo lương để cho đóng giữ đất ấy”. Vua y cho.

    Định lệ cấp tiền tuất cho các đội thị vệ. Binh ở mười đội Túc trực, hai đội Trường trực và Thường trực mỗi người tiền tuất là 5 quan ; ngũ trưởng các đội Tả hầu, Hữu hầu, Trung hầu nhất, mỗi người đều 10 quan .

    Sai bọn Hữu Tham tri Binh bộ là Trần Minh Nghĩa, Thiêm sự là Ngô Bá Nhân kiểm tra phủ Nội vụ.

    Đổi dựng kho Nội tạng (kho ở bên hữu trong hoàng thành).

    Ngày Tân mùi, yết lăng Thiên Thụ.

    Bắt đầu định lệ thuế đinh cho người Thanh Hoa, Nghệ An và Thanh Bình. Trước kia ba trấn đạo ấy chỉ theo số người ở sổ thường hành mà nộp. Đến nay sổ đinh đã thành, mới định lệ thuế, cũng bằng các trấn ở Bắc Thành. (Dân thực nạp, tráng hạng từ 20 tuổi trở lên hằng năm nộp tiền dung 1 quan 1 tiền, tiền đầu quan 1 tiền, gạo cước 2 bát, dân đinh 18 tuổi nộp tiền dung 5 tiền 30 đồng, tiền đầu quan 30 đồng, gạo cước 1 bát. Dân biệt nạp cũng nộp như thế. Quan viên tử con quan từ Chánh tứ phẩm đến Chánh lục phẩm và các hạng biệt tính cũng nộp giống như tráng hạng. Chức sắc thì quan viên tử con quan các bộ viện ty Tòng tam phẩm trở lên và hương cống, sinh đồ, cai hợp, thủ hợp ở nhà, nhiêu thân, nhiêu ấm, tấn thân khoa mục đời Lê trước, giản binh ở dinh vệ đội các quân ; binh ở dinh cơ vệ đội các quân, giáo phường, nội giám, lính kho, lính trạm, đều là hạng ngoại tiêu sai, chuẩn cho miễn thuế).

    Xây cầu Ngự Hà. Cầu ở phía bắc kho Thái Thương và kho Vũ Khố. Năm đầu Gia Long mới bắc cầu gỗ gọi là cầu Thanh Câu, lâu ngày cầu hư, vua mới sai các quân chồng đá xây ở dưới, để ba khoảng trống, trên lát đá xanh, hai bên có lan can bằng đá. Hơn một tháng cầu xong, vì tên sông là Ngự Hà cho nên đặt tên cầu là cầu Ngự Hà. Thưởng cho các quân hơn 2.400 quan tiền. Từ đấy về sau có công việc dựng làm, không việc gì là không hậu thưởng.

    Tả Tham tri Công bộ là Nguyễn Đức Huyên có bệnh cáo về. Vua dụ rằng : “Trẫm mới lên ngôi, cần tìm người cũ, khanh ở bộ Công đã lâu, vừa được uỷ việc công chính, hễ bệnh khỏi là làm việc ngay. Đặc cách cho nghỉ 6 tháng”.

    Truy lục những người có công Vọng Các. Phàm người khi sống chưa có chức thì tha phú dịch cho cả nhà để giữ việc thờ cúng.

    Người Man bảy sách Cam Lộ đến hiến sản vật địa phương (Lễ tiến hương : sáp ong 70 cân, trâu 7 con ; lễ khánh hạ ; hai con voi đực). Khi đến Kinh vào chầu, vua sai bộ Lễ đem đồ tang phục cấp cho các sai trưởng. Nhân tế điện lớn, đến điện Hoàng Nhân làm lễ tiến hương. Khi trở về, cho sắc thư khen thưởng.

    Cấp cho công thần Vọng Các là Chưởng cơ Lê Phước Điển 4 người mộ phu. Lại cho sáu người con hằng tháng được chi tiền gạo.

    Định chức vụ của phủ Nội vụ, chia làm bảy kho (kho bạc vàng, kho gấm đoạn, kho the lĩnh, kho hàng Nam, kho đồ sứ, kho dầu nến, kho vị thuốc), mỗi kho đặt chủ thủ 12 người. Những lệnh sử sáu bộ trước sung chức hiệp sự Nội vụ đều bãi. Rồi hạ lệnh đem sổ sách các kho cứ 5 ngày một lần đóng ấn ở Văn thư phòng Thanh Phong đường, ai đóng ấn thì đều ghi họ tên ở dưới để tiện kê cứu.

    Cho con cháu các công thần Vọng Các được tập ấm.

    Trước là Thượng thư Lễ bộ Phạm Đăng Hưng đem danh sách tập ấm đã dâng mùa đông năm trước tâu lại, cộng hơn 300 người. Vua sai cấp cho sắc thị theo bậc khác nhau.

    Đặt đường phố ở Kinh thành. (Từ cửa Thể Nguyên về bắc đến mặt nam Hoàng Thành làm đường cái Thể Nguyên ; từ cửa Quảng Đức về bắc đến mặt nam Hoàng Thành làm đường cái Quảng Đức. Đều khắc biển để ghi).

    Dựng xưởng tướng quân((1) Xưởng để các súng lớn, gọi là xưởng tướng quân.1).

    Sai Thuộc nội vệ uý vệ Tả nhất quân Thị trung là Phan Văn Mân kiêm quản mười đội Túc trực.

    Bộ Hộ tâu dâng các án đinh điền lậu sổ ở Bắc Thành, xin truy thu thuế. Vua chuẩn y lời đình thần bàn, phàm phác giác từ lúc mờ sáng ngày mồng 1 tháng giêng năm Minh Mệnh thứ 1 trở về trước thì không bàn, từ tháng giêng về sau mới truy thu. Những dân xiêu giạt và tù được tha mới về vào sổ thì đều miễn thuế thân năm nay.

    Chuẩn định từ nay trở đi hễ gặp ngày kỵ các miếu thì sai hoàng tử tước công tế thay.

    Tháng 6 dựng viện Đoan Chính.

    Sai Nội hàn Trần Vĩnh Hựu và Phan Khắc Tỵ, Nội vụ phủ Lương Phước Đồng và Vũ Hữu Lễ sang nước Thanh mua hàng hoá.

    Sửa Nguyên miếu. Đầu là sai trấn Thanh Hoa mộ khoán phu, mua gỗ giá gấp hai trước, trấn thần đem việc tâu lên, vua dụ rằng : “Trẫm nghĩ ơn của tổ tông để lại, cho nên mở rộng quy chế. Gỗ quý bền chắc, dẫu có phí nhiều cũng không tiếc”. Hạ lệnh cứ theo giá mà cấp cho. Rồi sai làm đồ thờ, trang sức bằng vàng bạc gấm vóc.

    Sai Chánh quản cơ Tả kiên ở Quảng Ngãi kiêm coi cơ Lục kiên, hợp cùng trấn thần mà ngăn chặn người Man núi. Lại ra lệnh cho quản cơ Lục kiên mộ dân dời đến ở miền đất trống ven núi, lập làm thôn ấp, miễn thuế thân và dao dịch để sai phụ giữ.

    Con cháu nhà Lê là Lê Duy Thản ốm chết. Lấy Lê Duy Cát làm Cai cơ (trật Chánh tam phẩm) để coi giữ việc thờ tự nhà Lê, hằng năm cấp tiền gạo vẫn như cũ.

    Dựng hành cung Thanh Hoa (một chính đường, một tiền đường. Trước gọi là hoàng cung quy vọng đường, đến nay gọi là hành cung).

    Thái trưởng công chúa Ngọc Du mất (Chúa là con gái thứ hai Hưng tổ Hiếu Khang hoàng đế ((1) Hưng tổ Hiếu Khang hoàng đế là Nguyễn Phước Huyên.1), gả xuống cho Chưởng Hậu quân tham thặng Bình tây đại tướng quân Võ Tánh). Vua vì thế nghỉ chầu. Cho thuỵ là Nhu Gia. Sai chi của công để sửa việc tang. Lại cho thêm 1.000 quan tiền và 1.000 phương gạo. Ngày an táng tứ tế một đàn. (Năm Minh mệnh thứ 10 [1829], truy phong là Phúc Lộc thái trưởng công chúa).

    Sai đình thần tham chước bàn bạc luật lệ quốc triều . Vua muốn định lại luật lệnh, cho rằng Nguyễn Văn Thành, Vũ Trinh và Trần Hựu là ba người có tội, không nên để làm nhơ nhuốc sách luật, sai bỏ ba tên ấy đi. Dụ bầy tôi rằng : “Hình để đe răn kẻ gian, luật thì theo ý đời xưa mà lệ thì lựa cho hợp sự nghi đời nay, theo đổi biến thông chứ không thể gắn chặt mãi được. Buổi quốc sơ soạn định luật lệ, trong ấy điều mục hoặc có chỗ hợp với cổ mà không hợp với kim, thích với pháp mà chưa thích với tục, hữu ty phụng hành phần nhiều câu nệ cố chấp . Đức Tiên đế thánh minh, thấu hết những lệ ấy nên mỗi khi nhân có việc lại do đấy mà thêm bớt, như các điều ăn trộm xử trượng lưu thì chuẩn cho lưu làm đồ, đều là thông biến cho hợp với dân, để bổ vào chỗ điều lệ chưa kịp đến, nhưng chưa có rỗi để sửa chữa một phen. Trẫm vâng nhận cơ nghiệp lớn, trau dồi điển chương cũ, càng nghĩ rằng sách luật là đồ để giúp việc trị, điều mục hoặc giả còn thiếu, hữu ty sai về nhẹ nặng, thì dân biết đặt chân tay vào đâu. Các khanh nên kê cứu luật cũ, bàn kỹ những điều nên theo nên đổi, nên bớt nên thêm, trẫm sẽ xét định thi hành”.

    Đổi hai đội Yến oa ở Quảng Nam làm Yến hộ, đội trưởng làm hộ trưởng (trật Tòng cửu phẩm).

    Lấy Hàn lâm Thị độc Nguyễn Hựu Bình làm Hàn lâm Thị độc học sĩ.

    Bắt đầu dựng Quốc sử quán. Vua dụ bầy tôi rằng : “Nhà nước ta từ khi mở mang đến nay, các thánh nối nhau, hàng 200 năm. Kịp đến Thế tổ Cao hoàng đế ta trung hưng thống nhất đất nước, trong khoảng ấy sự tích công nghiệp nếu không có sử sách thì lấy gì để dạy bảo lâu dài về sau. Trẫm muốn lập Sử quán, sai các nho thần biên soạn quốc sử thực lục, để nêu công đức về kiến, đốc, cơ, cần, ((2) Kiến, đốc, cơ, cần : xem chú thích ở biểu dâng sách Thánh tổ Nhân hoàng đế thực lục chính biên ở trên.2) làm phép cho đời sau, cũng chẳng là phải sao”.

    Bầy tôi xin như lời dụ.

    Bèn sai chọn đất ở bên tả trong Kinh thành, họp thợ xây đắp, hơn một tháng thì xong.

    Sai dinh Quảng Bình sửa đắp đường quan (từ huyện Lệ Thuỷ đến châu Bắc Bố Chính hơn 20.000 trượng). Dân hạt đi ứng dịch hàng tháng được cấp tiền gạo. Đường có mở vào phần mộ của dân thì cấp tiền cho để di táng.

    Ngày Tân mão, dâng thêm tôn thuỵ cho Hoàng tỷ Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên hoàng hậu là Thừa Thiên Tả Thánh Hậu Đức Từ Nhân Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Cao Hoàng hậu. Trước kỳ sai quan kính cáo ở các miếu. Trước một ngày vua mặc áo tư thôi kính cáo ở bàn thờ Tiên đế. Rồi đổi mặc thường phục, đến trước thần vị Hoàng tỷ cáo về việc ấy. Đến ngày, vua mặc lễ phục, đem bầy tôi dâng kim sách, kim bảo, rước thần chủ phối với Hoàng khảo (Năm Kỷ mão mùa đông đã rước thần chủ dời sang gian bên hữu điện Hoàng Nhân, đến nay đổi đề thần chủ thờ chung ở gian giữa). Sách văn rằng : “Lễ không gì lớn bằng tôn dâng danh hiệu ; hiếu không gì trước hơn ghi chép đức xưa. Khuôn phép tốt vẫn còn nhớ hoài ; xưng tụng to cần phải nêu rõ. Kính nghĩ, Hoàng tỷ Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên hoàng hậu, tư chất từ hiếu, tính nết đoan trang. Trong nhà cùng gánh vác cơ nghiệp gian nan, tu tề nối đầu vương đạo ; thờ trên chăm giữ gìn dung nghi hoà thuận, sau trước rất mực hiếu tâm. Khắp trong nước nhuần giáo hoá mẹ hiền ; cả cung đình được yêu như con cái. Tuy xe mây quê trời về trước, mà bút đỏ((1) Bút đỏ : chữ Hán là đồng quản ( ) nghĩa là quản bút đỏ, người nữ sử cầm để ghi chính lệnh ở trong cung và việc làm của hậu phi.1) khuôn phép vẫn ghi. Nên đức mọn mối lớn mới vâng, truy tôn thuật rõ công thánh ; nghĩ khôn nghi sánh cùng càn đức, tán tụng ghi ở điển to. Nay mới xin mệnh ở Tôn Miếu, thân đem bầy tôi, kính tiến kim sách kim bảo, dâng thêm tôn thuỵ là Thừa Thiên Tá Thánh Hậu Đức Nhân Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Cao hoàng hậu. Cúi mong nhận lấy danh hiệu tốt , lên phối với Nễ cung((2) Nễ cung : miếu thờ cha.2) Ôi ! kính người vẫn tôn, đức dày khó xưng ra được ; khí thiêng vòi vọi, phước lớn để lại lâu xa”.

    Ngày hôm sau ban chiếu cho trong ngoài.

    Chiếu rằng : “Mảng nghe, trời đất hợp đức, theo thế thì thịnh cả hai ; đế hậu đều tôn, sùng báo thực là việc trước. Cả nghĩ Hoàng tỷ Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên hoàng hậu ta, ơn huệ rõ ràng, tiếng tốt đầy rẫy. Giúp Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, làm rõ rệt công việc trong nhà, giúp sửa trị mối giềng âm hoá. Đức sánh Thái Nhâm Thái Tự ; nết hơn Hữu Sần, Đồ Sơn. Phúc chốn khắp cung vi ; lợi đến cả tôn xã. Trẫm khi còn bé, sớm được yêu đương. Nuôi ở trong cung, ơn như ruột thịt. Bảo ban dạy dỗ, cho đến trưởng thành, đội đức nối danh, ánh sáng soi chiếu. Ghé tận tai bảo tận mặt toàn nhờ thánh mô ; ngày càng tới tháng càng lên đều nhờ ý phạm. Khôn nghi lâu vắng thổn thức nỗi lòng ; cưỡi rồng bay đi, bỗng ôm đau đớn. Mơ màng vẫn nhớ đến mờ sáng ; suy tôn càng dốc hiếu một lòng. Nay đã dâng thuỵ hiệu, miếu hiệu Cao hoàng đế rồi. Theo lễ thì đã bàn soạn từ trước ; về tình thì tôn thân không cách nhau. Kính cẩn lấy ngày mùng 4 tháng này, sai quan kính cáo Tôn Miếu, thân đem các tước công và đại thần, xin mệnh lệnh ở trước thần ngự Hoàng khảo, ngày mồng 7 kính dâng kim sách kim bảo và dâng thêm thụy hiệu của Hoàng tỷ là Hoàng tỷ Thừa Thiên Tá Thánh Hậu Đức Từ Nhân Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Cao hoàng hậu, để rõ rệt từ đức, phối hưởng lâu dài ở Nễ cung. Để nêu tiếng lớn cao vòi vọi rộng mênh mông, để rõ nghĩa lớn tôn người tôn quý người quý. Ôi ! Đứng vào ngôi, làm lấy lễ, một mình ta yêu quý không quên ; gốc ở mình, nghiệm ở dân, muôn họ ngươi hưởng phước mãi mãi. Khắp nơi báo cáo, để khiến đều hay”.

    Ban bạc thay ăn yến cho các quan ở Kinh và ở ngoài.

    Chiếu rằng : “Lúc mới lên ngôi vua, tất phải ra ơn cho khắp, yến hưởng bầy tôi, để mừng vua sáng tôi lành, mà tin trên hoà dưới thuận. Trẫm nhờ trời thương, trên vâng nghiệp nặng của Tiên đế phó thác, dưới hợp lòng thành của quan dân suy tôn. Khi mới lên ngôi, Tiên đế mới mất, nên lòng thương, sửa tang lễ, rối rít không kịp bàn làm. Nay đã núi Kiều((1) Kiều : cây kiều là chỉ cha. Thượng thư đại truyện có câu : “Kiều giả phụ đạo dã”.1) yên chỗ, miếu Nễ hợp tôn, phép thường là việc tôn sùng báo đáp, đều đã lần lượt làm xong, nhưng âm nhạc còn lặng, cung kiếm chưa nguội, trẫm còn đau thương, há phải là lúc vua tôi yến tiệc vui mừng ! Lễ không thể vượt mà việc lại không thể bỏ. Vậy cho bạc thay yến theo thứ bậc khác nhau. (Trên nhất phẩm bạc 20 lạng, Chánh nhất phẩm 15 lạng, Tòng nhất phẩm 10 lạng, Chánh nhị phẩm 8 lạng, Tòng nhị phẩm 6 lạng, Chánh tam phẩm 3 lạng, Tòng tứ phẩm 2 lạng. Quan ở Kinh từ tứ phẩm trở lên, quan ngoài từ tam phẩm trở lên).

    Sai Tôn Thất Dịch chọn các quan tôn thất ai có đức hạnh cho dạy con em trong tôn thất.

    Sai Tôn Thất Bính kiêm quản vệ Nội hầu. Dụ rằng : “Thân binh cậy thế trái phép, người quản lãnh phần nhiều không hay ngăn giữ, ngươi nên nghiêm bảo đe nạt, nhất thiết lấy quân pháp mà trị, khiến cho đổi tệ trước đi”.

    Chuẩn định cho Tượng quân mỗi năm được cấp 100 quan tiền để thờ thần ở miếu Long Châu. (Miếu ở xã Nguyệt Biều huyện Hương Trà, hằng năm đến tháng 2, tháng 5, tháng 8, tháng 11 thì chọn ngày tốt để tế).

    Khởi phục cho Lê Cao Cơ làm chức Hàn lâm viện Tu soạn. Cao Cơ là con Thị giảng Lê Cao Kỷ, trước đây làm Tri châu châu Bố Chính ngoại có tội mất chức. Vua nói : “Lê Cao Kỷ hầu Hoàng tổ Hiếu Khang hoàng đế ta, trung tiết đáng khen, nên lục dụng con cháu”. Bởi thế có mệnh này.

    Ngày ất mùi, vua đến điện Hoàng Nhân, rước thánh vị Cao hoàng hậu lên thờ chung ở điện Minh Thành.

    Ngày Bính thân, yết lăng Thiên Thụ. Thưởng các quân đi theo hơn 900 quan tiền.

    Tha thuế ruộng đất bị lở ở xã An Lãng (thuộc huyện Nam Xang) trấn Sơn Nam. Từ đấy về sau các địa phương có nơi nào đem việc ruộng đất bị lở tâu lên cho đều miễn thuế.

    Triệu Thượng thư Lại bộ hành Hiệp tổng trấn Gia Định là Trịnh Hoài Đức về Kinh, lại cho lĩnh việc Lại bộ. Thượng thư Lại bộ Nguyễn Hữu Thận thì điều sang lĩnh việc Hộ bộ.

    Cho các quan ở ngoài theo hầu trong lễ Ninh lăng, đều về nơi làm việc. Hà Công Thái bệ từ. Vua nói rằng : “Ngươi ở đạo, phàm mọi việc nên cùng với đốc trấn bàn bạc xét kỹ cơ nghi sao cho giặc cướp lặng yên, trấn đạo thanh tĩnh, để đền đáp ơn hậu đãi của triều đình. Phải cố gắng đấy”.

    Triệu Ký lục Phiên An là Lê Chấn, Cai bạ Bình Định là Vũ Xuân Cẩn, Tham hiệp Hà Tiên là Lê Đăng Doanh về Kinh. Trước là đình thần tâu cử quan trong, quan ngoài hơn 30 người. Vua chấm 3 người là bọn Chấn, nên sai triệu về.

    Lấy Cai bạ Phú Yên là Hoàng Văn Quyền làm Cai bạ Bình Định, Thiêm sự Lễ bộ là Đoàn Đức Khánh làm Ký lục Phiên An, Tham luận Tượng quân là Trần Văn Tam làm Tham hiệp Hà Tiên. Khánh chưa kịp đến chỗ làm việc thì chết.

    Trấn thủ Yên Quảng là Vũ Văn Kế vì có bệnh xin về nghỉ. Vua y cho.

    Sai Đào Văn Lương coi chở 200.000 đồng tiền ở kho Kinh đến thành Gia Định. Lương trước làm Thống chế Thuỷ quân bị tội phải bãi, dâng biểu xin về, vua yên ủi dụ rằng : “Trẫm biết khanh là người đốc hậu, thành thực, chất phác, tuy vì lầm lỗi bị bãi, nhưng hãy nên ở lại, trẫm còn có chỗ dùng khanh”. Đến nay nhân có việc vận chở bèn sai đi.

    Lấy Vệ uý vệ Tuyển phong tả Tả dinh quân Thần sách là Đặng Văn Lung làm Chưởng cơ, vẫn coi việc vệ.

    Lấy Thuộc nội vệ uý vệ Hữu nhất quân Thị trung là Hoàng Đức Tùng làm Vệ uý vệ Kỳ võ quân Thị nội, Cai đội Loan nghi quân Thị nội là Nguyễn Văn Tự làm Phó vệ uý Hậu vệ dinh Thần cơ.

    Dụ rằng : “Từ nay về sau, những quan chức ở Thị trung Thị nội có đeo chữ thuộc nội thì bớt đi, để khỏi trùng điệp”.

    Sai Tôn Thất Bính xét hỏi trong tôn thất ai là người trung hậu thành thực có thể dùng được, đem tên tâu lên.

    Đổi thuyền Toàn súng ở Chính dinh làm đội Tuần bạc.

    Đắp trường súng (ở mặt sau trong Kinh thành). Sai quân lính tập bắn. Làm nhà vuông làm chỗ vua ngự xem.

    Sai Vệ uý vệ Oai võ quân Thần sách là Lê Mậu Cúc coi quân ba vệ Dương võ, Toàn võ và Oai võ, Án thủ bảo Hà Trung, kiêm hành việc quản thủ Hà Hoa. Bảo đặt ở địa hạt Hà Hoa, cho nên bớt chức quản thủ mà lấy chức án thủ kiêm làm, như lệ bảo Tiên Lý (bảo Tiên Lý ở hạt phủ Diễn Châu, án thủ kiêm hành việc quản phủ).

    Thành Gia Định theo đường biển vận chở gỗ đến Kinh. Thưởng cho những người quản lĩnh áo quần và tiền thưởng theo thứ bậc.

    Chuẩn định các dinh vệ cơ đội kinh binh đều cử đến mồng 1 tháng 7 thì thay phiên để nghỉ.

    Ở Hà Tiên, Vĩnh Thanh, Định Tường bệnh dịch phát to. Dụ cho sở tại làm lễ cầu đảo. Người bị bệnh không kể quan, quân hay dân đều cho thuốc men. Người chết, quân lính thì theo lệ cấp tiền tuất và cấp thêm một tấm vải ; dân thì đàn ông đàn bà, người già người trẻ, mỗi người cấp 3 quan tiền. Người nào hài cốt bộc lộ thì nhà nước liệm táng cho. Lại sai trung sứ tuyên dụ cho quan địa phương phải thân đi cấp tiền tuất, hỏi thăm dịch khí nhẹ hay dữ, và số quân dân bị ốm chết, cứ ngày một lần tâu.

    Vua lại nghe biền binh các vệ Thị nội đi thú ở Thanh Hoa, Nghệ An. Thanh Bình, Bắc Thành nhiều người vì không quen thuỷ thổ nên bị ốm. Dụ cho sở tại gia tâm hỏi han, chữa thuốc, để cho đều được lành mạnh.

    Định ngạch thuộc lại cho các hạt Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận và Biên Hoà.

    Vua thấy số hộ khẩu ở các hạt ấy so với hạt khác rất ít (Quảng Bình hơn 13.400 người, Quảng Trị hơn 17.000 người, Quảng Ngãi hơn 15.400 người, Phú Yên hơn 5.000 người, Bình Hoà hơn 5.100 người, Bình Thuận hơn 9.600 người, Biên Hoà hơn 11.000 người), chuẩn y lời đình thần bàn, chiếu theo lệ sáu trấn ven biên giới ở Bắc Thành, mỗi hạt tả thừa ty, hữu thừa ty, câu kê, cai hợp đều 1 người, thủ hợp 3 người, tư lại 25 người, còn dư thì thải đi, bắt đầu thi hành từ năm sau.

    Cấm người quản quân lấn xén của quân lính.

    Vua bảo thị thần rằng : “Triều đình nuôi quân lính không có tiếc phí, khi có việc xây dựng thì thưởng cho thêm. Người quản quân có người không thể tất đức ý của bề trên, làm nhiều cách bóc lột, khiến người ta không được nhờ ơn thực, trẫm
  • Chia sẻ trang này