0071.00005 [Hán Nôm - @keodau - done - GD]

26/1/16
0071.00005 [Hán Nôm - @keodau - done - GD]
  • PDF
    GoogleDocs




    #0071.00005

    Đánh máy: LiemNT


    tiết, đón Tả-Ao Tiên-sinh về đến làm đất. Nhưng tiên-sinh tính khí khó quá, hay thử thách người ta xem có thành tâm hay không, rồi sau mới về đất. Bà mẹ hết sức chiều theo, dòng dã mấy tháng trời không có nản lòng.

    Một hôm, Tiên-sinh đi mua đất đến một quảng đường lội, người hầu theo xin cõng tiên-sinh đi qua. Tiên-sinh không nghe, bảo về nhà gọi bà mẹ ra cõng. Bà mẹ cũng hết lòng chiều đi ra cõng. Tiên-sinh ý muốn chòng ghẹo. Bà mẹ nói rằng: Tôi đón thầy làm đất, là việc phúc đức, nếu như thế này, thì tiết-nghĩa của tôi còn đâu ! Tiên-sinh khen ngợi rằng : Bà muốn tiết-nghĩa thì tôi lấy tiết-nghĩa cho Bà. Rồi tìm chọn cho một ngôi đất.

    Sau này ông đỗ Tiến-Sĩ, khoa Canh-Tuất niên hiệu Hồng-Đức (triều vua Lê-Thánh-Tôn) được dự vào Tao-Đàn-Nhị-Thập-Bát-Tú, phụng mệnh đi sứ Trung Hoa. Làm quan đến bực Tán-Trị công-thần, hết lòng phò-tá, được phong Thái-Bảo. Gặp khi nhà Mạc cướp ngôi, ông đón vua Chiêu-Tôn sang Giang-Bắc khởi binh, bị cô thế, rồi uống thuốc độc chết. Sau nhà Lê-Trung-Hưng ông được phong tiết-nghĩa Đại-Vương.

    Em ông là Thận-Giản 34 tuổi, đỗ Hoàng-Giáp khoa Kỷ-Mùi, niên hiệu Cảnh-Thống (triều vua Lê-Hiến-Tôn) được tặng Công-Bộ-Thượng-Thư, cũng phong Tiết-Nghĩa-Đại-Vương. Cháu ông là Đàm-Cư, 30 tuổi, cũng đỗ Hoàng-Giáp, khoa Mậu-Tuất (niên hiệu Đại-Chính-nhà-Mạc), làm quan đến Lục-Bộ-Thượng-Thư, Thế-Quận-Công, được tham dự triều-chính, tặng hàm Thiếu-Bảo Tri-Sĩ. Sau này nghe tin con cháu ông, cũng lại có một người được tập ấm làm quan. Gặp hồi ở Vương-phủ, Tiều-Vương mất, các con tranh nhau làm chúa. Người thì tư


    tình, người thì sợ thế lực, dây dưa kéo dài không quyết, Hoàng-Thượng liền sai ông cầm cờ tiết đến Vương-phủ, chọn người đề lập. Ông vâng lệnh đến Vương-phủ, triệu tập bá quan và các Vương-tử đến, rồi ông đích thân, quyết đoán chọn lựa lấy, không sợ quyền-thế, không theo tư-tình,xét trong các Vương-Tử, người nào đáng lập thì lập. Một người ái-phi của Tiên Vương ẵm con đến để xin lập. Ông nói rằng: giờ phút này đang nghiêm trọng, phải chọn lập người trưởng thành và hiếu thuận mới được. Các Vương-tử không ai dám tranh. Khi lập xong rồi, liền rước lên phủ-đường, đánh ba hồi trống, để nhận lễ chào mừng của bách quan. Hậu-Vương run sợ quá, ông đứng đỡ ở đằng sau nói rằng : « làm chúa thiên-hạ, còn sợ gì nữa ». Rồi đó, xong việc định-vị. Kể ra những việc khó khăn, như thế mà ông giàn xếp được, thì thực xứng đáng là bực « Thác cô ký mệnh», của triều đình.

    Sau ông được phong là Quốc-sư và Tiết-Nghĩa Đại-Vương. Đó là ngôi đất Tả-Ao Tiên-Sinh đề cho. Vì mạch đi có chữ vương. Tiên thế nhà ông tuy chưa khảo sát được, nhưng khí tiết của bà Tổ-Mẫu như vậy, thì đức cũng hơn người ta nhiều. Con cháu phát phúc kể cũng là đáng.

    Khoa Bính-Thìn, niên hiệu Hồng-Đức, (Triều vua Lê-Thánh-Tôn) có 43 người trúng cách Hội-thí, được vào diện kiến, vua xét dung mạo lấy 30 người. Lúc đó ông Võ Văn Uyên, người Võ-Ninh, vào Hội-thí được thứ nhì, đến Đình-thí bị đánh hỏng. Ngày hôm Đình-thí , có ông Nguyễn-Viên, 21 tuổi, hai quyền ngang nhau. Vua nằm chiêm bao thấy hổ ăn đầu người, liền cho ông Viên đỗ thứ nhứt, được đổi tên là Viện, kết duyên với Công-chúa, vinh quy về nhà,


    vợ bị thuốc độc chết. Lại có ông Triệu-Bảo, người Đức-Hạp, Lập-Thạch, văn đáng đỗ Trạng-Nguyên, bị đánh xuống Hoàng-Giáp. Ôi! Khoa danh trúng hay không, thứ bực cao hay thấp, phải chăng có tiền định. Như vậy, ta thấy rằng việc phúc đức và hành nghĩa cũng quan-hệ lắm, chứ đừng chỉ cậy có văn chương và sức học của mình.

    Chú-Thích: Nguyễn-Viên con ông Nguyễn-nhân-Tiếp từ Hương-thí đến Hội-thí đều đỗ đầu.

    [] [] []

    ĐỖ-LÝ-ÍCH​

    Người làng Ngoại-Lãng, huyện Thư-Trì, tỉnh Nam-Định. Đời truyền rằng: Làng Nội-Lăng có ngôi đất to, Tả-Ao tiên sinh, Thần không cho, chỗ này thờ Thần-Bạch-Hạc; Thần hóa làm con cò trắng, ỉa cứt vào mắt. Ông bị đau mắt phải quay trở lại, thiếu tiền hành lý. Khi đi ngang qua làng Ngoại-Lãng, thấy có một ngôi đất tốt: Tiên-sinh bảo người quanh đó rằng: «Ai giúp cho tôi tiền hành lý, tôi sẽ cho ngôi đất Trạng-Nguyên», mọi người đều cười, cho là nói dối, không ai chịu cho. Bấy giờ bà mẹ ông, có một căn lều nhỏ ở bên đường bán nước trà, tiên-sinh đi ngang đấy, cũng nói câu đó. Bà mẹ nói rằng, « Nếu nhà tôi có, thì thực không tiếc tiền. Nhưng vốn bán nước trà, chỉ có quan sáu, đễ biếu tiên-sinh.>> ông Tả-Ao thấy thành tâm như thế, liền cho ngôi đất, và hỏi rằng : « Liệu có sắm được áo quan nhỏ hay không? » Bà thưa rằng: « Nhà nghèo lắm không biết vay mượn vào đâu, không thể sắm sửa được »


    Tả-Ao liền nói : «Tôi lấy một quan, còn sáu tiền đây mua cái nồi đất, để hài cụ-tổ vào trong: tôi sẽ táng cho» Bà mẹ theo lời, sửa soạn rồi ra nói với tiên-sinh đề giùm. Bà tưởng chắc sẽ táng chỗ khác, không ngờ tiên-sinh lại táng ngay bên cái quán bán nước trà đó. Nguyên đất này hành long rất xa, đến chỗ quán đây nổi lên một ngọn bút kinh thiên, khai oa kết huyệt. Trước oa có một con bút lớn nằm ngang, đinh mạch nhập thủ, nên tiên-sinh có dặn rằng : « Ngoại thân cây bút lớn là Trạng-Nguyên, nội Thân cây bút nhỏ là Hội-nguyên. Có hai cây bút, thì trùng khoa trùng bảng. Anh em làm quan cùng triều, chỉ hiềm ngựa không quay đầu lại, sẽ chết ở làng khác». Ngựa không quay đầu, không ai hiểu là ý thế nào. Về sau ông đỗ Trạng-Nguyên khoa Kỷ-Mùi, niên hiệu Cảnh-Thông (triều vua Lê-Thánh-Tôn) làm quan đến Phó-Đô-Ngự-Sử phụng mệnh đi sứ Trung Hoa, rồi mất ở dọc đường vào năm Canh-Ngọ, niên-hiệu Hồng-Thuận thứ hai triều vua Tương-Dực-Đế.

    Em ông là Đỗ-Oánh, đỗ Tiến-Sĩ, khoa Mậu-Thìn niên hiệu Đoan-Khánh; (triều vua Uy-Mục-Đế nhà Lê) làm quan đến chức Thượng-Thư, đi đánh giặc bị hại, được phong phúc thần, đúng như lời trong kiều đất đã nói. Tả-Ao tiên-sinh đến vùng này, chỉ vì tìm đất làng Nội-Lãng, không được vừa lòng, rồi rút cuộc chọn được ngôi đất này. Như vậy, há chẳng phải là do lòng trời xui khiến hay sao: còn về âm đức thì tôi chưa khảo sát được.

    Chú-Thích: Bà mẹ sinh ra ông thường đi múc nước, thấy có hai vì sao rơi vào trong lu nước, cho là điềm hay, khi uống nước ấy, sinh được một con đỗ Đình-Nguyên, một con đỗ Hội-Nguyên.


    [] [] []

    LÊ-ÍCH-MỘC
    Người làng Thanh Lãng, huyện Thủy-Đường, tỉnh Hải-Dương. Lúc trước làm Đạo sĩ (thầy chép sách trong chùa) xem thêm kính Phật có hiểu đôi chút. Đến khoa Nhâm-Tuất, niên hiệu Cảnh-Thống (triều vua Lê-Hiến-Tôn) ông 44 tuổi, đỗ-cập đệ. Bài thi văn sách hỏi kiêm về kinh-phật có câu : « 18 bộ Kim-Cương thì bộ nào không có câu Nam-Võ, 20 thiên-Luận-Ngữ, thiên nào không có chữ Tử-Viết. » Văn ông rất đắc-lực, được đỗ Trạng-Nguyên. (Không biết vì sao kì thi ấy lại hỏi như vậy ? ). Tương truyền rằng, nhà vua ngẫu nhiên dở kinh-phật ra coi, rồi sai các quan ra đầu bài, không riêng gì ông mà có lẽ khoa đó, hai ông Bãng-Nhản, Thám-Hoa, và Hoàng-Giáp, Tiến-Sĩ, tất cả 24 người thi đậu, đã từng xem kinh-Phật cả chăng ? Như thế đủ thấy rằng vào lúc văn học thịnh hành, có những nhân tài thông-minh uyên bác, xem rộng các sách (không sách gì là không đọc) so với các học giả đời sau, khác nhau một trời mọt vực vậy.

    Khoa đó, có ông Nguyễn-Văn-Thái, 54 tuổi, người làng Tiền-Liệt, huyện Vĩnh-Lại, đậu Thám-Hoa, sau làm quan nhà Mạc đi sứ Trung-Hoa bị giữ ở lại, lấy vợ người Trung-Hoa, sinh một người con, tên gọi là Ngạn-xán, theo họ mẹ là họ Trương cũng đỗ Tiến-Sĩ,

    [] [] []

    HỨA-TAM-TỈNH​

    Người làng Như-Nguyệt, huyện Yên-Phong, tỉnh Bắc-Ninh,


    năm 33 tuổi, đỗ Bảng-Nhãn, khoa Mậu-Thìn, (triều vua Uy-Mục nhà Lê). Khoa này ông Nguyễn-Giản-Thanh người làng Ông-Mặc, huyện Đông-Ngạn, đỗ Trạng-Nguyên. Ông Nguyễn-Giản-Thanh mặt mũi xấu xí, còn ông thì mặt-mũi tươi đẹp. Khi vào triều bái sân rồng, vua yêu ông đẹp, nói rằng : «Người này không cho đỗ Trạng-ư ?» và cho ông được đỗ trên ông Nguyễn-Giản-Thanh vì thế đời gọi là Mạo-trạng-Nguyên. Trước kia Tả-Ao tiên-sinh có để đất cho ông Nguyễn-Giản-Thanh, hứa rằng đất này sẽ đỗ Trạng. Sau Tiên-Sinh lại chu du xem đất, đến xã Như-Nguyệt, thấy mộ tổ nhà ông Hứa lại nói rằng : Đất này khoa này cũng phát Trạng-Nguyên. Người ta hỏi rằng; « Lẽ nào một khoa lại có hai Trạng-Nguyên? » Tiên-Sinh nói rằng : « Trạng My đè Trạng Ngọt ». (làng Ông-Mặc tục gọi là làng Ngọt, làng Như-Nguyệt tục gọi là làng My). Người ta đều không tin, đến lúc đó biết là đúng.

    [] [] []

    NGUYỄN-ĐỨC-LƯỢNG​

    Người làng Canh-Hoạch, huyện Thanh-Oai, tỉnh Hà-Nội. Đời truyền: « khi ông đã luống tuổi rồi, mà chưa đỗ được, có rước một thầy địa-lý Trung-Hoa, về nuôi để nhờ tìm đất. Vừa đúng một năm, mới tìm được một ngôi đất, nhưng chưa tìm được ngày

    Sách Công-Du-Tiệp-Ký cũng có chép việc Mạc-Thủ-Khoa.


    táng nên còn phải đợi. Gần đấy có một cái chợ lớn, có một người điên và cùi, hay ở đó ăn xin. Trước ngày sắp táng nửa tháng, người cùi lại chỗ định huyệt, làm cái lều nhỏ ở đó, đuổi cũng không chịu đi, ông tìm hết cách, cho tiền gạo và dỗ dành, cũng không nghe; ông lại bảo: tôi sẽ cho anh ruộng, đất và nhà cửa, để anh đi chỗ khác, chả hơn chỗ này đi ăn xin. Và tôi nuôi thầy tìm đất đã hơn một năm, nay sắp táng ở đây, mà anh làm như vậy chỉ hóa ra thiệt thòi cho tôi lắm sao ?

    Xét ra người ấy tàn tật đau yếu, mà ông không hề lấy thế lực đuổi đi, chỉ một niềm an ủi như thế ?

    Không ngờ người ấy có tính cố chấp, khăng khăng một mực, bảo cũng không nghe, ông có một người con gái nhan sắc rất đẹp chưa lấy chồng, còn đóng cửa kén người xứng đôi vừa lứa. Người ở vùng đó ai cũng biết tiếng. Người cùi liền bảo với ông rằng : « ông có người em gái, nếu cho tôi được giao-hợp một lần, thì không cần phải tiền, tôi sẽ nghe ngay, ông không biết làm thế nào được, mà ngày táng đến rồi. Một đêm khuya, ông liền bảo người em gái rằng : « nay anh sắp làm ngôi đất này mà thằng cùi ấy có chấp một mực không đi, muốn chuyện như vậy thì ý em thấy thế nào : » Người em liền nói rằng : « Nếu yên được hồn phách của cha, thành được tiếng của anh, thì anh bảo làm sao, em xin nghe làm vậy. Em quả không dám tiếc gì cái thân này nữa. » Ngày hôm sau, liền tắm rửa sạch-sẽ, chờ đến đêm khuya, liền đi đến chỗ người cùi đó, rồi nằm chung với nhau. Người cùi vừa giao-hợp được một lát, liền chết ngay ở trên bụng. Người em gái sợ quá đẩy luôn xuống đất, rồi về bảo với ông, để ngày mai sẽ đem người nhà đến, khiêng đi chôn chỗ khác, không ngờ đêm hôm ấy, mối đã đùn lên lấp kín.

    Đất này có một hình hỏa tinh lớn nở miệng, trước mặt có con sông chạc ba, bên kia bờ sông, mà chỗ hỏa-tinh mở miệng, thì mộ


    của người cùi ở trên trốc oa. Ông nghĩ thầm mạnh trời như vậy, không biết làm thế nào? Thầy Địa-Lý bảo rằng: thế thì ở dưới oa, có có huyệt thừa khi, tôi sẽ táng cho ông. Nghĩa là một huyện ở trên oa, Người em gái ông từ đó có thai, sau đẻ được một người con trai; ông day cho học, thấy tính chất thông minh, biết là phát ở ngôi đất này.

    Sau này ông đỗ Trạng-Nguyên, khoa Giáp-Thìn, niên hiệu Hồng-Thuận (triều vua Tương-Dực-Đế nhà Lê) mà người con của em gái ông, tức là Nguyễn-Thiện 38 tuổi, đỗ Trạng-Nguyên, khoa Nhâm-Thìn (niên-hiệu Đại-Chính nhà Mạc) người ta gọi là đất Trạng-cậu, Trạng cháu.

    Sau con ông là Khuông Lễ, cũng đỗ Tiến-Sĩ. Nhưng xét ông Lượng là con ông Bá-Ký. Ông Ký đỗ Tiến-Sĩ, khoa Quý-Mùi, niên hiệu Quang-Thuận, khoa thứ 4, tức là ông của Khuông-Lễ, là cha của ông Đức-Lượng, thì trước đây cũng là đất phát phúc rồi. Có lẽ ngôi mộ này là đất tiếp phúc chăng? Mà ông Nguyễn-Thiến là con cháu ông Nguyễn-Doãn-Tịch, nguyên người ở làng Bộc-Dương đến ở ngụ làng Canh-Hoạch. Ông Doãn-Tịch đỗ Thám-Hoa, khoa Tân-Sửu (niên hiệu Hồng-Đức) cũng đã có đất phát phúc từ trước rồi, có lẽ trung-gian mới lại có thêm ngôi đất này nữa. Điều đó chưa được khảo sát, chỉ được nghe truyền như thế, mà chép vào đây.

    [] []

    GIÁP-HẢI​

    Người làng Sính-Kê, huyện Phượng-Nhãn, tỉnh Bắc-Ninh. Năm 32 tuổi, đậu Trạng-Nguyên, khoa Mận-Tuất, nên hiệu Đại-


    Chính nhà Mạc (triều vua Lê-Trang-Tôn) phụng mệnh đi sứ, làm quan trải khắp Lục-Bộ-Thượng-Thư, tặng hàm Thái-Bảo, sách phong Quốc-Công, rồi về Trí-Sĩ. Đời truyền: Ông không phải là người làng Sính-Khê, nhưng chưa rõ quê quán ở đâu. Lúc còn nhỏ, cha mất sớm. Bà mẹ làm nghề bán nước chè ở ven sông. Khi ông mới hai tuổi, thường bò chơi ở sân. Một hôm nọ ông chợt chạy đi đâu. Có chiếc thuyền buôn đi qua đó, thấy trong hàng nước vắng người, lại có một đứa bé ở đó. Người lái buôn này không có con cái chi cả, liền bế trộm xuống thuyền đi nơi khác. Khi bà mẹ về không thấy ông đâu, tìm khắp cả mọi nơi không thấy, cho là ngã xuống sông, rồi kêu khóc rất thảm-thiết. Vì nghèo nàn bà cứ vẫn bán nước chè ở đấy. Còn người lái buôn kia là người ở Sính Kế. Sau khi đã bế trộm được ông, liền đem về nuôi làm con nuôi. Khi ông lớn lên, học rất thông minh. Người lái buôn dấu không nói thực, người hàng xóm nói vụng với ông, nhưng cũng không biết người lái buôn bế trộm ở đâu? Ông cũng tự biết mình không phải con người lái buôn, nhưng cũng không biết mình là con ai. Lâu dần rồi cũng yên trí, nhận người lái buôn kia là cha. Sau khi đỗ rồi, phụng chỉ Triều-đình đi khám xét một việc , ngẫu nhiên đi qua bên bờ sông, vào nghĩ quán bán nước chè của mẹ ông. Dưới bàn chân ông có nốt ruồi đỏ, khi mới sinh ra đã có rồi, bà mẹ còn nhớ. Trong lúc ngồi, ông để thò cái chân ra, bà mẹ trông thấy, không cầm lòng được, òa khóc nức-nở. Ông lấy làm lạ hỏi, bà sợ không dám nói, chỉ khóc sướt-mướt. Ông liền sinh nghi hỏi đầu đuôi câu chuyện. Bà nọ thưa rằng: « Chúng tôi nói ra sợ có tội với quan lớn, nên không dám nói:» Ông nói: « có việc gì đâu ? Bà cứ nói » Bà mẹ liền thưa rằng: « Chồng thiếp mất sớm, có để lại một đứa con trai, mới lên hai


    tuổi, dưới chân có nốt ruồi đỏ. Khi ông ngẫu nhiên chạy đi chỗ khác, không may nó ngã xuống sông chết, còn tôi bơ vơ không nơi nương tựa, nay thấy quan lớn cũng có nốt ruồi đỏ, nên chợt nhớ đến con mà thương nhớ. »

    Trước kia, người hàng xóm cũng bảo ông là người lái buôn bế trộm được ông, khi ông mới lên hai tuổi, mà người lái buôn này cũng thường buôn bán qua lại khúc sông đó. Ông nghe bà mẹ nói, mới rõ đầu đuôi, bất giác òa khóc rồi nhận là mẹ liền tâu lên Triều-đình, bày tỏ đầy đủ chứng cứ của người lân cận, nói người lái buôn là cha nuôi. Ông cũng biết địa-lý, khi đỗ lên đi xem khắp cả mồ mả gia-tiên của người lái buôn, thì không có ngôi mộ nào đáng phát văn học; và khi nhận được mẹ rồi, mới biết được phát phúc ở ngôi mộ cha. Sau này con ông là Giáp-Lế, năm 24 tuổi cũng đỗ khoa Mậu-Thìn, niên hiệu Thuận-Phúc, năm thứ tư nhà Mạc (tức triều vua Anh-Tôn nhà Lê).

    [] [] []

    TRẦN-VĨNH-TUY​

    Người làng An-Dật, huyện Thanh-Lâm, tỉnh Hải-Dương. Năm 21 tuổi, đỗ Hội-Nguyên, rồi đậu Thám-Hoa, khoa Quý-Sửu niên hiệu Cảnh-Lịch nhà Mạc (triều vua Lê-Trung-Tôn). Trước kia ông được bổ nhiệm chức Thứa-Chánh-sứ-An-Bang. Người nhà Minh viết bức thơ vào lạu, buộc vào đầu ngọn giáo đưa cho, ông lấy cái mộc hứng lấy. Sứ nhà Minh thấy ông là người chế biến tinh nhanh, khen là có tài Tam-Khôi, liền thường tiền bạc. Rồi
  • Chia sẻ trang này