0073.00002

26/1/16
0073.00002
  • PDF
    GoogleDocs

    :lmao:


    Phần I Dẫn-nhập


    Chương I BỐI-CẢNH LỊCH-SỬ

    Bản Huấn-địch thập điều của vua Thánh-tổ ban-bố năm 1834 đánh dấu một giai-đoạn lớn trong lịch-sử giáo-dục Việt-nam ; bản huấn-địch ấy kết tinh những kinh-nghiệm giáo-dục của những triều-đại trước, nhất là triều Lê và đã căn-cứ trên thực-tại Việt-nam để giải-quyết những vấn-đề văn-hóa giáo-dục, do đấy, kế-hoạch do nhà vua qui-định liên-hệ tới nhiều bộ-môn chuyên-biệt, nhiều giai-cấp quần-chúng, từ tri-thức đến nông-gia, công-kỹ-nghệ, và thương-mại, kể cả quân-sĩ. Như vậy, phần bối-cảnh lịch sử này sẽ đề-cập tới hai phạm-vi căn-bản, đó là phạm-vi xã-hội và phạm-vi giáo-dục, trình bày theo tiến-trình lịch-sử để minh-định mức-độ thực-hiện của Nguyễn-triều.

    I. Tình-hình xã hội Việt-Nam chung quanh năm 1834.

    Xã-hội Việt-nam hình-thành từ thế-kỷ thứ X tiếp-tục phát-triển trong những thế-kỷ sau và đến thế-kỷ XIII đã được định-hình trong một cơ-cấu rõ-rệt. Khóa-hư lục đầu thế-kỷ XIII đã bắt đầu mô-tả sinh-hoạt của xã-hội ấy và từ thế-kỷ thứ XIV trở đi, cơ-cấu tứ-diện gồm sĩ, nông, công, thương đã có thể phối-hợp hoạt-động. Qua những cuộc chiến-tranh kháng-Nguyên cuối thế-kỷ XIII, kháng-Minh đầu thế-kỷ XV, ngoài sự trưởng-thành tất-nhiên của tầng lớp sĩ-phu, giới nông gia bắt đầu được chú-trọng, kẻ cấy cày được nói tới trong cả những tác phẩm thuần-túy văn-chương (1), lôi cuốn theo sự tha-thiết của dân-chúng đối với thợ-thuyền và những nhà buôn-bán. Sự hồi-phục của chợ Đông gắn liền với công-cuộc vãn-hồi hòa-bình (2) ; những người lao-động như Thạch-Sanh được thế-kỷ thứ XVII đề-cao ; hình-ảnh những Lý-công ngồi ăn mày ở chợ được nàng công-chúa lầu son để ý trở nên những hình-ảnh quen thuộc. Cả nền văn-học nôm-na từ thế-kỷ XVII, XVIII là nền văn-học của giới nông, công, thương, khai-triển những vấn-đề thiết-thực của người bình-dân, giải-phóng tình-cảm con người, đề-cao phụ-nữ và tự-do luyến-ái. Tất cả những phát-động ấy của dân-tâm, tất cả những tiến-triển ấy của dân-trí, được thử-thách qua bao nhiêu máu lửa của chiến-tranh, được nhào-nặn sau những biến-cố hãi-hùng của lịch-sử, đã tạo-lập vào cuối thế-kỷ XVIII một xã-hội trưởng-thành mà những nỗ-lực kiến-thiết của nhà Nguyễn sẽ tiếp-tục ổn-định và củng-cố.

    Ta thử phân-tích và nhận-diện cơ-cấu xã-hội này qua bốn thành-phần chính là sĩ, nông, công, thương để có thể phê-phán hiệu-năng của nhà Nguyễn trong lãnh-vực văn-hóa giáo-dục.

    Trước hết, giới kẻ sĩ được đề-cao như là một giai-cấp ưu-tú từ Mạc-Đĩnh-Chi (1304), đến đời Nguyễn-sơ, đã được vua Thế-tổ quan-niệm như một giai-cấp lãnh-đạo. Từ 1802 đến 1820, kế-hoạch sử-dụng trí-thức của nhà Lê do nhà Nguyễn chủ-trương đã chinh-phục được thiện-cảm của sĩ-phu miền Bắc ; những vị tiến-sĩ của các khoa 1775, 1779, 1787 phần đông đã cộng-tác với tân-triều ; Lê-Duy-Đản, tiến-sĩ năm 1775,

    [​IMG]

    1) Nguyễn-Trãi viết: Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày (Quốc âm thi-tập, Bảo-kính cảnh giới số 19).

    2) Nguyễn-Trãi, Chí-linh sơn phú, trong Ức-trai thi-tập, bài số 105.



    nguyên tham-chính Thanh-hóa, đã được vua Gia-long mời làm hiệp-trấn Lạn-sơn và giám-thí các trường Kinh-bắc, Sơn-tây, Hoài-đức ; Phạm Quí-Thích, tiến-sĩ năm 1779, nguyên Đông-các hiệu-thư, đã nhận chức thị-trung học-sĩ, trong khi Trần-Bá-Lãm, bạn đồng-khoa của Ông, được bổ-nhiệm làm đốc-học Bắc-ninh, cùng với những Nguyễn-Gia-Cát, Bùi-Dương-Lịch, Nguyễn-Huy-Lý, những tiến-sĩ của khóa thi Hội cuối cùng triều Lê, đã hoạt-động một cách hữu-hiệu đến nỗi vua Gia-long nhận thấy không cần phải tổ-chức các khóa thi Hội và thi Đình nữa. Sự cộng-tác của những nhân-vật khác ít đỗ-đạt hơn nhưng nhiều khi nổi tiếng hơn như Nguyễn-Huy-Tú, Vũ-Trinh, Nguyễn-Du, bên cạnh những nhân-vật của chế-độ mới như Đặng-Đức-Siêu, Đặng-Trần-Thường, biểu lộ tất cả sự khéo-léo của vua Gia-long trong kế-hoạch sử-dụng nhân-tài. Trong suốt thời Gia-long, chính-quyền chỉ tổ-chức 3 khóa thi Hương là khóa đầu tiên năm 1807, khóa thứ hai 1813, khóa thứ ba 1819. Khóa đầu tiên có những nhân-vật nổi tiếng là Cao-Huy-Diệu (3), thủ-khoa Nguyễn-Án (4), Nguyễn-Trung-Mậu (5) ; Lê-Cao-Lãng (6) ; khóa thứ hai gồm có những hương-cống Vũ-Tụ (7), Lưu-Công-Đạo (8), Đỗ-Tuấn-Đại (9), Lê-Văn-Đức (10) v.v… và một tú-tài mà khả-năng vượt hẳn những vị

    [​IMG]

    3) Cao-Huy-Diệu: làng Phú-thị, huyện Gia-lâm, tỉnh Bắc-ninh, làm quan ở Quốc-tử giám, đốc-học Thăng-long ; tác giả Cấn-trai thi-tập (bạt).

    4) Nguyễn-Án (1770 – 1815) tri huyện Tiên-minh, tác-giả Tang-thương ngẫu lục.

    5) Nguyễn-Trung-Mậu, người Đông-thành, Nghệ-an, tri-huyện Hoàng-hóa, đốc-học Bình-định (1830) ; tác-giả Chính-sự lục điều (1841).

    6) Lê-Cao-Lãng, người làng Nguyệt-viên, huyện Hoàng-hóa, tỉnh Thanh-hóa, tác-giả Lê-triều lịch-khoa tiến-sĩ đề danh bi ký và 6 tác-phẩm lịch-sử.

    7) Vũ-Tụ, tác-giả Lãi-minh thi-thảo.

    8) Lưu-Công-Đạo, sử-địa-gia chuyên khảo về Thanh-hóa, Nghệ-an.

    9) Đỗ-Tuấn-Đại, tác-giả Tiên-thành lữ-hoại.

    10) Lê-Văn-Đức (+ 1844), pháp-chế gia, tác-giả Bách-quan chức-chế, Đại Nam hội điển toát-yếu ; Hoàng Việt hội-điển toát-yếu.


    hương-cống kể-trên: Nguyễn-Công-Trứ ; khóa thứ ba cung-cấp cho nhà Nguyễn những nhân vật quan trọng, trừ vị thủ-khoa Ngô-Đình-Thái (11) và Đỗ-Trọng-Dư (12) bị cách chức vĩnh-viễn, còn những hương-cống khác như Vũ-Quyền (13), Phạm-Hội (14), Hà-Duy-Phiên (15), Trương-Đăng-Quế (16), Trương-Minh-Giảng (17), Lý-Văn-Phức, Nguyễn-Công-Trứ, là những chiến-lược-gia, kinh-tế-gia, giáo-dục-gia, văn-gia tiêu-biểu nhất của chế-độ ; họ đã phục-vụ một cách trung-thành tuyệt-đối, chấp-nhận kỷ-cương một cách toàn-diện vì chính họ không ít thì nhiều, qua những hoạt-động quân-sự, văn-hóa, giáo-dục, đã qui-định chính-sách của Nguyễn-triều. Sang đời vua Minh-mệnh, thi Hội được tổ-chức lần đầu tiên năm 1822, cung-cấp cho chế-độ nhà nghiên-cứu hành chánh Hà-Tông-Quyền (18),

    [​IMG]

    11) Ngô-Đình-Thái, giáo-sư tư-thực, hiệu-trưởng tư-thực Tùng-hiên ở Nam-định, tác-giả Tùng-hiên trường sách văn, Nam phong giải trào (nôm), Nam-phong nữ ngạn thi (nôm) là những tác-phẩm đầu tiên nghiên-cứu ca-dao tục-ngữ.

    12) Đỗ-Trọng-Dư, tác-giả Quan-âm thị Kính, một tác-phẩm văn ghi tác-giả khuyết-danh, đậu thứ 20 trên 23 cử-nhân trúng-cách khoa kỷ-mão (1819).

    13) Vũ-Quyền, tri-huyện Mỹ-lương, thăng Án-sát, tác-giả Tốn-trai thi-tập, Tốn-trai học-sinh.

    14) Phạm-Hội, giáo-thụ, tác-giả Dưỡng-am tạp tác.

    15) Hà-Duy-Phiên, toản tu bộ Đại-Nam thực-lục tiền biên, tổng-vựng bộ Đại-Nam hội-điển.

    16) Trương-Đăng-Quế, giáo-sư của vua Thiệu-trị, nhiều lần làm chủ-khảo thi Hội, tác giả Thiệu-trị, văn-qui (sách giáo-khoa) tổng-tài Đại-Hàn liệt truyện, Đại-Nam thực-lục tiền biên (in năm 1844).

    17) Trương-Minh-Giảng, dịch-thủ của Lê-Văn-Khôi, tổng-tài Đại-Nam thực lục chính biên.

    18) Hà-Tông-Quyền (1797 – 1839), tổng-tài Minh-mệnh, chính-yếu, tác-giả của 7 tác-phẩm lớn.



    nhà nghiên-cứu kinh truyện Phan-Bá-Đạt (19), nhà thơ Lê-Tông-Quang (20). Khoa thi Hội năm 1826 khám-phá thực-học của một thanh-niên 31 tuổi, người Nam-kỳ, đó là Phan-Thanh-Giản (21), vị đại-khoa tiên-khởi của miền Nam, và ngoài Vũ-Tông-Phan (22), một giáo-sư tư-thục, còn có Tô-Trân (23), toản-tu Minh-mệnh chính-yếu bên cạnh Hà-Tông-Quyền, và nhất là Ngụy-Khắc-Tuần (24), một sĩ-phu thanh-liêm cần-cán được vua Minh-mệnh ban thơ khen-ngợi. Nhận thấy hai khóa thi Hội năm 1822 và 1826 chỉ lựa chọn được tất cả 18 vị đại-khoa, (8 vị khóa đầu và 10 vị khóa sau) tỉ-lệ trúng-tuyển quá thấp so với các kỳ thi Hội triều Lê, vua Minh-mệnh ngay trong khóa thứ 3 là khóa năm 1829, đã hạ-chiếu cải-tổ thể-thức chấm thi, qui-định phân-số trúng-cách, và thiết-lập học-vị phó-bảng để vớt những thí-sinh không đủ phân-số, nhờ đấy, số trúng-tuyển đại-khoa đã tăng gần gấp đôi (9 tiến-sĩ, 5 phó-bảng), trong đó có

    [​IMG]

    19) Phan-Bá-Đạt (1786 - ?) tác-giả Ngũ kinh tính-lý tiết-yếu.

    20) Lê-Tông-Quang (1802 - ?) tác-giả Bình-vọng Lê tiến-sĩ thi-tập.

    21) Phan-Thanh-Giản (1796 – 1867), tổng-tài Khâm-định Việt-sử thông-giám cương-mục, Minh-mệnh chính-yếu, Tích-ung canh ca hội-tập và là tác-giả 5 tác-phẩm lớn trong đó có Lương-Khê thi văn tập.

    22) Vũ-Tông-Phan (1804 – 1862), làm đốc-học Bắc-ninh, sau cáo ốm về dạy học ở thôn Tự-tháp, bên hồ Hoàn-kiếm, dạy học rất nổi tiếng được triều-đình ban bốn chữ: Đào thục hậu tiến. Ông chú trọng đến cổ học (cổ-văn hợp-tuyển, Thăng-long cổ tích vịnh) và thi-ca (Hoán-phủ thi-tập, Hoa-đườg thi tác).

    23) Tô-Trân (1791 - ?), toản-tu Minh-mệnh chính-yếu.

    24) Ngụy-Khắc-Tuần (1798 - ?), được nhà vua sánh với Quản Thích (Thiện-Bá) tướng nhà Chu và Trương-Kham, thái-thú Ngư-dương là hai nhà cai-trị được dân yêu-mến kính-trọng.



    những nhân-vật nổi tiếng là Bùi-Ngọc-Quĩ (25), Trương-Quốc-Dụng(26), Phạm-Thế-Lịch (27), Ngô-Thế-Vinh (28) ; khóa 1832 ít may mắn hơn (8 tiến-sĩ, 3 phó-bảng), không tuyển được một đại-khoa nào xứng-đáng trong khi phó-bảng Nguyễn-Bá-Nghi (29), đối-thủ của Cao-Bá-Quát, đã phù tá đắc-lực cho nhà Nguyễn chỉ vì lòng tị-hiềm đối với nhân-tài. Khóa thi Hội năm 1835 (30) được tổ chức một năm sau khi ban-hành Huấn-địch thập-điều, lựa chọn được 11 tiến-sĩ, 2 phó-bảng, nhưng tất cả đều là những nhà khoa-giáp hoàn-toàn vô-danh đối với lịch-sử văn-hóa. Đây là một thành-công hay là một thất-bại của chính-sách giáo-dục vừa được phổ-biến một cách long-trọng? Có thể nói ngay, đứng về phương-diện tổ-chức thi-cử thì đó là một thất-bại rõ-ràng, nhưng nếu ta biết rằng chính vua Minh-mệnh

    [​IMG]

    25) Bùi-Ngọc-Quĩ (1796 – 1861), tác-giả Yên-đài anh-thoại và 6 tác-phẩm văn-chương liên-hệ tới sứ-trình.

    26) Trương-Quốc-Dụng (1797 – 1864), tác-giả Thoái-thực ký văn, Văn-quy tân-thế, Công-hạ ký-văn.

    27) Phạm-Thế-Lịch (1790 - ?), có đi sứ nhà Thanh, tác giả Sứ Hoa quyển.

    28) Ngô-Thế-Vinh (1802 – 1856), sau lang-trung bộ Lễ, bị cách chức về nhà dạy học, sáng-lập và điều-khiển trường tư-thục Trúc-đường ; tác-giả Trúc-đường chu dịch tùy bút, Nữ huấn tân-thư, Trúc-đường khóa sách, Trúc-đường trường văn-sách, Khải-đồng thuyết-ước nhuận-sắc và 8 tác-phẩm khác. Tác-phẩm của ông nghiên-cứu về giáo-dục và giảng dạy về bút-pháp.

    29) Nguyễn-Bá-Nghi, làm quan từ tri-huyện đến Hộ-bộ thượng-thư, đã đàn-áp phong-trào khởi-nghĩa của Cao-Bá-Quát, sau chủ hòa với Pháp, làm tổng-đốc Sơn Hưng Tuyên. Trước sau, Nghi là một con người thiếu nhân-cách.

    30) Khóa 1835 lấy đỗ: Nguyễn-Hữu-Cơ, Phạm-Văn-Huy, Bạch-Đông-Ôn, Lưu-Quĩ, Nguyễn-Thố, Nguyễn-Hoàng-Nghĩa, Bùi-Đình-Bảo, Hoàng-Văn-Thụ, Nguyễn-Đức-Hoan, Lê-Văn-Chân, Nguyễn-Thế-Trị, và hai phó-bảng Vũ-Ngọc-Giá, Đinh-Văn-Minh.


    cũng đã từng than-phiền về những lầm-lẫn trong quan-niệm thi-cử, sự vô-lý trong cách chấm đỗ của quan-trường, nghĩa là nếu vua Minh-mệnh đã lên tiếng chỉ-trích tổ-chức thi-cử cũ và hứa-hẹn sẽ dần dần cải-tổ (31), thì ta có quyền kết-luận rằng những vị tiến-sĩ tân-khoa này càng bất-lực bao nhiêu, quan-điểm và chính-sách giáo-dục của nhà vua càng hữu-lý bấy nhiêu. Ta cũng đừng lạ khi thấy các nhà trí-trức văn-hóa thời ấy không phải là các nhà đại-khoa mà là các hương-cống, được gọi từ năm 1828 là cử nhân, hoặc là các sinh-đồ, được gọi từ năm 1828 là tú-tài. Về học-vị tú-tài, ta có thể kể Phan-Huy-Chú (32), Vũ-Quốc-Trân (33), về cử-nhân, ta có thể kể Trần-Đình-Túc (34), Đặng-Duy-Trứ (35), Nguyễn-Hàm-Ninh (36), Bùi-Hữu-

    [​IMG]

    31) Xem Minh-mệnh chính-yếu, dẫn trong Việt-nam sử-lược của Trần-Trọng-Kim, trang 435.

    32) Phan-Huy-Chú (1782 – 1840): thi 2 lần, nhưng chỉ đậu đến tú-tài, nên học-trò gọi là Kép thầy, sau được Minh-mệnh biết tiếng triệu vào làm biên-tu Quốc-tử giám, hoàn-thành tác-phẩm lớn của thế-kỷ là Lịch triều hiến-chương loại-chí, 49 quyển, được thưởng 30 lạng bạc, một chiếc áo sa, 30 ngòi bút, 30 thoi mực. Ngoài ra, ông còn soạn 3 tác-phẩm văn-chương và 4 tác-phẩm sử-địa.

    33) Vũ-Quốc-Trân, cũng hai lần đi thi mà chỉ đỗ tú-tài, nên người đời gọi là ông Tú kép, hay cụ mền Đại-lợi (tức là ông Tú kép hàng Đào), tác-giả một bản Bích-câu kỳ-ngộ nôm.

    34) Trần-Đình-Túc, tác-giả Tiên-sơn toàn-tập.

    35) Đặng-Huy-Trứ, tác-giả Việt-sử thánh-huấn diễn nôm, Sách-học vấn-lân Tứ thập bát hiếu kỷ sự và 8 tác-phẩm khác. Ngoài ra, theo Hoàng-Xuân-Hãn, ông còn là tác-giả của tác-phẩm nôm Nhị-độ-mai.

    36) Nguyễn-Hàm-Ninh (1808 – 1867), tác-giả Tĩnh-trai văn-tập, Ông là thủ-khoa thi hương năm 1831, á-khoa là Cao-Bá-Quát.



    Nghĩa (37), Cao-Bá-Quát (38), Lê-Ngô-Cát (39) v.v… Có lẽ chịu ảnh-hưởng của quan-niệm giáo-dục hướng về thực-học và nghề-nghiệp trình-bày trong Thập-điều, thanh-niên thời ấy bắt đầu không chú-trọng tới lối văn cử-nghiệp nữa, lối trần-từ sáo-ngữ mà chính vua Minh-mệnh đã phê-bình và có khi cấm đoán sử-dụng (40). Họ chú-trọng đến thực-nghiệp, và về canh-nông và dinh-điền thì có Nguyễn-Công-Trứ, Đỗ-Phát, tiến-sĩ năm 1843, vừa làm tế-tửu Quốc-tử giám vừa kiêm-nhiệm Dinh-điền sứ ; đặc-biệt có Nguyễn-Trình-Hoằng (41) đỗ cử-nhân năm 1848 rồi tuyên-bố không học lên nữa, ở làng Hòa-ninh làm ruộng, cộng-tác với người làng khai-khẩn đất hoang và cải-cách phong-tục

    [​IMG]

    37) Bùi-Hữu-Nghĩa (1807 – 1872), giải-nguyên trường thi Gia-định năm 1835, học-trò cụ Đỗ-Hoành ở Biên-hòa, tác-giả Kim-thạch kỳ-duyên.

    38) Cao-Bá-Quát (? – 1854), thần đồng, tính-tình cao-ngạo, nhưng là một nhà chân-nho, muốn cho nho-học không bị chi-phối bởi chính-trị triều-đại, nên thường đối-lập với chính-quyền. Trong 5 tác-phẩm lớn của ông, nhất là trong Chu-thần thi-văn tập, ông thường viết những bài có tính-cách kêu gọi tôn-trọng sự thuần-túy của nho-giáo, chỉ-trích chính-quyền lợi-dụng nho-học. Ông là nhà văn đầu tiên lập-luận bài-xích chính-sách xâm-lược của Pháp.

    39) Lê-Ngô-Cát, tác-giả Đại-Nam quốc-sử diễn-ca.

    40) Xem bài dụ năm Minh-mệnh thứ 13 (1832). Nhà vua cấm: Không được dùng lời lẽ hoa-mỹ, hoặc nói về thời-tiết hoặc tả về cảnh-vật, những chữ “trăng dọi sáng, gió đưa hương” đều là sáo-ngữ, phù-từ.

    41) Nguyễn-Trinh-Hoằng, người huyện Nghi-lộc, tỉnh Nghệ-an, hiệu là Thổ-lương cư-sĩ. Đượng thời cho rằng nhờ Ông mà làng Hòa-ninh thịnh-vượng, có lần được cử ra làm quan nhưng Ông từ chối, điều này rất quan-trọng để giải-thích tinh-thần trọng-hiền của vua Tự-đức. Tác-phẩm gồm có: Tạo-phúc từ, Khuyến thiện quốc-ngữ ca, Quân-thần khúc, Phụ tử khúc và Sĩ nông canh độc truyện. (Xem thêm Tri-tân, số 119 ngày 4-1-1943, bài Thanh-niên đời xưa của Nguyễn-văn-Tố, dẫn Đại-Nam liệt truyện, II, q. 42 tờ 19b 11a.
  • Chia sẻ trang này