0073.00004

26/1/16
0073.00004
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}

    những hoạt-động công-nghệ có tính-cách gia-đình như người làng Thổ-hà chuyên về đồ gốm, làng Liễu-chằng chuyên về nhà in, thợ-thuyền còn được trưng-tập đến những thành-phố lớn tham-gia vào những công-trình điêu-khắc, kiến-trúc của triều-đình. Ở kinh-đô Huế chẳng hạn, họ làm việc trong những công-xưởng thực-sự và phải tuân theo một tổ-chức, một kỷ-luật có tính-cách quân-ngũ. Sự nghiêm-cấm của các quan-chức điều-hành chắc-chắn đã hơn một lần gây bất-mãn và chống-đối trong giới thợ [1](64), nhưng nỗ-lực của nhà Nguyễn về phương-diện tạo điều-kiện sinh-hoạt chuyên-môn cho dân-chúng xuất-phát từ một kế-hoạch hẳn-hoi. Không ai có quyền thất-nghiệp bởi vì “ Trời cao sinh ra dân, tất giao-phó cho mỗi người một nghề, cho nên mỗi người phải tự chọn lấy một nghề để làm căn-bản lập thân. Kẻ sĩ, nhà nông, người làm thợ, kẻ đi buôn, người làm vườn, kẻ trồng rau, bác chài đánh cá, đứa trẻ chăn trâu, thậm chí cả tay võ-biền trong quân-lữ, mỗi người đều phải có nghề-nghiệp, đều phải nhờ vào đấy mà sinh sống” (Thập điều, B III, 1). Những thực-hiện kỹ-thuật và công-nghệ ở tiền-bán thế-kỷ XIX không hẳn chỉ làm hãnh-diện một nhà Nguyễn ; sự hoàn-mỹ của từng bức phù-họa trên các trụ-ngạch, các lưng tỉnh, vẻ tinh-tế trong từng nét điêu-khắc mà cả thế-giới ngày nay ngưỡng-mộ trong cung-điện triều-đình Huế chẳng hạn chứng-thực tinh-thần cầu-toàn, óc thẩm-mỹ điêu-luyện của những người thợ vô-danh đã cần-mẫn tô-điểm không phải chỉ cho triều-đại nhà Nguyễn mà thôi, mà là cho cả lịch-sử mỹ-thuật của dân-tộc Việt-nam. Hướng về giới bách-công, vua Thánh-tổ bắt-buộc họ phải biết “ chỉnh-sức các xuất-phẩm cho ăn hợp với vật-liệu” (Thâp-điều B III, 5) ; Ngài kêu gọi tôn-trọng kỷ-luật và lương-tâm cần-thiết cho mọi công-trình kỹ-thuật.

    Thương là hạng người sống về nghề buôn-bán. Họ chỉ tạo thành một giới tiểu-thương mà hoạt-động có thể phát-triển qui-mô hơn nếu không bị chi-phối bởi một tổ-chức xã-thôn quá chặt-chẽ. Việc tu-bổ kiều-lộ, thiết-lập đê-điều, thủy-đạo, việc qui-định tiêu-chuẩn đo-lường, đúc tiền đồng, tiền kẽm, nén vàng, lượng bạc, tất cả đều đã tạo điều-kiện cho thương-mại phát-đạt, nhất là từ khi sáng-lập Tào-chính ty để đôn-đốc việc vận-tải, nền nội-thương và ngoại-thương tuy chưa thực-hiện được những mức-độ đã hoạch-định nhưng cũng đã biểu-lộ được nhiều tiến-bộ khả-quan hơn những thế-kỷ trước. Trong điều 3 của bản Thập-điều nhan-đề Vụ bản-nghiệp, vua Thánh-tổ bắt-buộc “ nhà buôn phải để cho của-cải lưu-thông ”, và chính đấy là nguyên-tắc căn-bản của chính-sách thương-mại, chứng thực rằng nền kinh-tế hàng-hóa đã được triều-đình nhà Nguyễn cũng như nhà Lê trước đây, đặc-biệt chú-trọng.

    Ngoài tứ-dân là các tầng-lớp xã-hội cổ-truyền, xã-hội nhà Nguyễn còn quan-tâm đến binh-sĩ là một tầng-lớp mới rất quan-trọng vì chính họ đã kết-liễu chiến-tranh, thống-nhất đất nước. Trong đời vna Thế-tổ, dù hòa-bình đã được vãn-hồi, lệ giản-binh được đặt ra để tổ-chức lại quân-ngũ tại các trấn và kinh-thành ; binh-sĩ được võ-trang bằng những khí-giới tối-tân nhất của thời-đại : các xạ-trường được thiết-lập, binh-thuyền được chỉnh-đốn để bảo-vệ các hải-khẩu. Qua đời vua Thánh tổ, tổ-chức quân-ngũ được hoàn-thiện hơn, bao hàm đầy-đủ các ngành bộ binh, thủy-binh, tượng-binh, kỵ-binh và pháo thủ-binh. Ngoài ra, để giúp cho gia-đình binh sĩ có cơ-hội tham-gia trực-tiếp vào việc quân, vua Thánh-tổ còn cho thiết lập toán giáo-dưỡng binh, tức nghĩa-tử quân, cho con các quan võ từ suất đội trở lên tình-nguyện theo học, có học-bổng và võ-sư là quan đại-thần. Nhành quân-y được tổ-chức để điều-hộ binh-sĩ trong thời-gian hành-quân. Tinh-thần thượng-võ của vua Thánh tổ đã làm cho nhà vua chú-trọng đến quân-nhân ngang-hàng với các giới khác, và trong bản Thập-điều, mỗi khi lên tiếng kêu gọi dân-chúng là nhà vua dùng danh-xưng “ hỡi sĩ-thứ quân-nhân ” như “ sức truyền sâu rộng những giáo điều này cho sĩ-thứ, quân nhân ” hoặc “ sĩ-thứ, quân-nhân, các người đừng có xem đây là một bài văn suông ” (xem Thánh dụ huấn-địch thập điều), sĩ-thứ, quân-nhân các người nên nghiêm-chỉnh tuân-hành lời huấn-dụ của Trẫm (điều 4), sĩ-thứ, quân nhân, các ngươi nên kính-cẩn nghe theo lời Trẫm (điều 10). Nhà vua khuyên-bảo quân-sĩ “ Những người thuộc quân-tịch. Đừng rời đội-ngũ mà trốn-tránh cẩu-thả, chớ lười-biếng mà không phấn-chấn, thời bình thì luyện tập võ-nghệ, khi hữu-sự thì hùng-dũng đi tiên-phong (điều 1).

    Cơ-cấu xã-hội này được các đời Nguyễn nghiên-cứu như mọi thực-tại, và đã căn-cứ trên thực-tại ấy để thiết-lập những cơ-sở tổ chức giáo-dục.


    2. TÌNH-HÌNH GIÁO DỤC

    a. – Chính-sách giáo-dục

    Mở đầu bản Huấn-địch thập điều, vua Thánh-tổ tuyên bố : “Từ xưa, thánh-đế minh-vương lấy chính-đạo cai-trị thiên hạ, tất lấy việc giáo-hóa dân-chúng, tập-thành phong-tục làm nhiệm-vụ đầu tiên”, như vậy, chính-sách giáo-dục được thiết-lập trên cơ-sở triết-lý nho-giáo. Triết-lý này đặt căn-bản siêu-hình trên sự hiện-hữu của một thực-thể siêu-việt là trời, nguyên-lý đầu tiên sáng-tạo vạn-vật trong đó có nhân-loại ; công-trình sáng-tạo được qui-định một trật-tự, nhiệm-vụ của con người là duy-trì trật-tự bản-thân, phát triển cùng-độ nhân-tính để tán-trợ công-trình hóa-dục của trời, để tham-gia vào công–cuộc sáng-tạo đang tiếp-diễn trong lịch sử [2] (65), tức là phát-triển trật-tự thiên-nhiên giữa xã-hội và vũ-trụ. Tinh-thần tham-gia ấy [3] (66) bắt buộc mọi người không phải chỉ nhận-thức về sự cần-thiết bảo-vệ trật-tự mà phải sinh-hoạt trật-tự ấy, phải tự-hiện trong trật-tự ấy. Trong điều 1 của Thập-điều, vua Thánh-tổ đã khẳng-định : “ Trong đạo làm người, không ó việc gì đi trước việc làm sáng đạo… Nhân-luân sáng tỏ thì sau đấy nhân-đạo mới đứng vững”. Chính vì vậy mà nhà Nho chú-trọng tới việc “ tập-thành phong-tục “, kiến-tạo ra những môi-trường thuận-lợi cho việc thi-hành trật-tự đắc-thụ những thói quen tốt để cho sự thể-hiện trật-tự ấy được tự-nhiên như chính bản-tính của mình [4] (67). Nền triết-lý giáo dục ấy đề ra một quan-niệm về con người được định-nghĩa như là sức mạnh của trời đất (nhân-giả, kỳ thiên-địa chi đức), cái kết-tinh của âm-dương (âm-dương chi giao), điểm gặp-gơ của quỉ-thân, (quỉ thần chi hội), vẻ đẹp điều-hòa của ngũ-hành (ngũ-hành chi tú khí dã) [5] (68). Ngoài thuộc-tính cuối cùng liên-hệ tới thể-chất, con người xuất-hiện trong 3 thuộc-tính trên như là một tâm-thức nhờ đấy có thể quan-niệm được cái trừu-tượng, tiếp-xúc được với siêu-hình, chân-nhận được lẽ phải là tiêu chuẩn của trật-tự ; Vua Thánh-tổ viết trong điều Chính tâm-thuật : “ Lòng là gốc của con người, lòng chính-đính thì muôn sự lành ở đó mà sinh ra, lòng bất-chính thì trăm điều ác từ đó mà theo ra, há chẳng nên thận-trọng ru ? Thượng-đế đã phú-bẩm tính lành cho con người, nên ai cũng có tính thường, đó là nhân, nghĩa, lễ, trí, gọi là bốn mối, từ khi sơ-sinh, người ta không ai là không có “ (Thập-điều, II, 1, 2) Tâm-thức là một động-lực có khả-năng tự-động và cũng có khả-năng động-cập đến đối-tượng bên ngoài, do đấy, vấn-đề minh-tâm tức là giáo-dục được đặt ra ; tự-động là vận-dụng nội-lực tổng-hợp của chính tâm mình để tiêu-diệt sự chướng-tế của ngu-đãng, tặc-giảo, loạn-cuồng và thực-hiện được nhân-trí, tín-trực, dũng-cường [6] (69). Giáo-dục trước hết là giáo-dục cá-nhân, cho nên một khi công-cuộc tu-thân đã đào-luyện cho con người có những tập-quán tốt như bác-học, thẩm-vấn, thận-tư, minh-biện, đốc-hành [7] (70), một khi cái minh-đức đã tỏa sáng thì trật-tự gia-đình sẽ chỉnh-tề, những hành-động thân-dân sẽ làm cho nền chính-trị quốc-gia được ổn cố. Bởi vậy, cổ động tinh-thần sùng chính-học, (điều 7), vua Thánh-tổ đã xác-định : “ Sở dĩ học là học làm người, cho nên khoogn thể có một người vô-học trong thiên-hạ, cũng như không thể sống một ngày mà không học… Trẫm mong triệu thứ các ngươi tôn-sùng chính-học, giảng-minh nhân-luân, đạo Nghiêu Thuấn chỉ là hiếu-đễ mà thôi, giáo-dục Khổng-Mạnh chủ-trương nhân-nghĩa trước hết “. (Sđd, VII, 1,2). Từ những điều-kiện chủ-quan, các giáo-dục-gia nhà Nguyễn đã chuyển sang những điều-kiện khách-quan. Giáo-dục là thi-hành nhân-nghĩa. Nhân là yêu người như yêu mình, muốn cho mình vững-vàng thì cũng muốn cho người khác được vững-vàng, muốn cho mình thành-đạt thì cũng muốn cho người khác được thành-đạt [8] (71), được tốt-lành, đẹp-đẽ [9] (72), nghĩa là được công-nhận là người như mình tự nhận mình để phát-triển con người [10] (73). Nghĩa là tương-quan phải có giữa người và người để hco cả hai có đủ điều-kiện phát-triển lòng nhân, nghĩa như vậy xuất-hiện như đức công-bình, coi mọi người là huynh-đệ bình-đẳng, cùng có những uy-quyền và nhiệm-vụ như nhau. Như thế, cùng với chương-trình phổ-biến nhân-nghĩa, giáo-dục là một khí-cụ truyền-bá tinh-thần dân-bản [11] (74), lòng bác-ái, tinh-thần bình-đẳng, những đức-tính căn-bản của mọi công-dân trong cộng-đồng xã-hội. Cũng vì lợi-ích của cộng-đồng xã-hội ấy, giáo-dục phải đi đôi với chính-trị, bởi vì trong đạo người, chính-trị là trọng-đại [12] (75), cũng như giáo-dục, chính-trị làm cho mọi sự trở thành chính-đính [13] (76), mọi người trở thành chính-thuận [14] (77), sự danh chính ngôn thuận sẽ làm cho mọi người hoạt-động hữu-hiệu trong ngôi-vị và hoàn-cảnh của mình. Nền giáo dục có chủ-đích chính-trị này huấn-luyện kẻ sĩ thành những con người tham-gia vào đại-cuộc, quan-niệm thái-độ tôn-quân của dân-chúng cũng như thái-độ thân-dân của quân-quyền là lẽ tất-nhiên, vì tất cả đều hướng về đạo để làm sáng đạo [15] (78). Vua thánh-tổ năm 1834 đã minh-định điều này : “ Trẫm nối tiếp hồng-đồ, noi theo phép lớn, vẫn suy-tư về ý-nghĩa của câu “ làm cho dân giàu rồi sau mới giáo-hóa ” nên đã từ lâu vỗ-về kẻ suy-bại, yên-ủi người bệnh-tật, ra ơn, tha thuế, lúc nào cũng canh-cánh một niềm yêu-mến giúp-đỡ người dân ; tuy chưa có thể làm cho tất cả dân ta trở thành giàu có, con cháu đông-đúc, nhưng mà nuôi-dưỡng yên-vui thong-thả, trải đến nay đã mười lăm năm, giáo-huấn để cho tập-tục chính-đáng thật chỉ có thời này mà thôi ” (Thánh-dụ huấn-địch thập-điều, A, 5, 6).

    Nói tóm lại, chính-sách giáo-dục của nhà Nguyễn, bắt đầu từ triết-lý nho-giáo, căn-cứ trên tâm lý-quan của nho-gia, chú-trọng tới công-cuộc phát-triển những đức-tính tinh-thần và thể-chất của cá-nhân, chuẩn-bị cho cá-nhân ấy hoạt-động cùng với những cá-nhân khác trong một xã-hội nhất-định, nhằm tới cứu-cánh phát-triển con người toàn-diện, con người thành [16] (79). Chính-sách giáo-dục ấy phân-biệt giáo-dục và kiến-thức, nhận-định, nhận-định giáo-dục có tính-cách thường xuyên [17](80), cộng-đồng [18](81), phổ-thông [19](82), phụng-sự [20](83), thực-tiễn [21](84), và như vậy, nếu giáo-dục là nhiệm-vụ của nhân-dân thì nhà lãnh-đạo phải ban-hành một chính-sách giáo-dục phù hợp với thực-trạng quốc-gia, phải thực-thi chính sách ấy trong một cơ-cấu tổ-chức hợp-lý. Đến đây, ta có thể xem nền giáo-dục của nhà Nguyễn đã được tổ-chức như thế nào và có thực-hiện được những mục-tiêu trình-bày ở trên không.


    b.- Tổ-chức giáo-dục.


    Công cuộc đại-định vừa được hoàn-thành, vua Thế-tổ đã chú-trọng đến việc tổ-chức giáo-dục, và việc đầu tiên đã được khởi-sự là kiến-tạo trường-sở. Hai trường-sở tiêu-biểu cho giáo-dục nhà Nguyễn là Văn-miếuQuốc-tử-giám.

    Văn-miếu của nhà Nguyễn đã được xây từ thế-kỷ XVII, tại làng Triều-sơn, huyện Hương-trà, bên tả-ngạn sông Hương, về phía bắc kinh-thành Huế. Văn-miếu được trung tu năm 1691, đến năm 1765 được dời về Lương-quán, phía hữu-ngạn sông Hương, năm 1769 lại được dời về Long-hồ, phía tả-ngạn sông Hương. Năm 1808, nhận thấy Văn-miếu tại làng Lông-hồ quá chật hẹp, vua Thế-tổ đã cho xây một Văn-miếu khác đồ-sộ và nguy-nga hơn tại làng An-ninh. Qua những biển-ngạch : Trác việt thiên cổ, đạo tại lưỡng gian [22](85), với những điện Hữu-văn, Dị-lễ [23](86), cửa Kim-thanh, Ngọc-chấn [24](87), người ta có thể đọc được tinh-thần sùng-nho của triều-đại, lòng ngưỡng-mộ của nhà Nguyễn đối với nho-sĩ, ý-chí của các nhà lãnh-đạo muốn hoằng-dương nho-học mà 14 tấm bia tiến-sĩ bên này và 16 tấm bia tiến-sĩ bên kia con đường phía trong cửa Đạo-thành là những chứng-tích cụ-thể. Từ 1809, cứ ba năm một lần, vào những năm Sửu, Mùi, Thìn, Tuất, nhà vua đến chủ-tế tại Văn-miếu để biểu-lộ lòng sùng-kính đối với đức Vạn-thế sư-biểu và lòng tôn-trọng của triều-đại đối với học-thuyết của Ngài. Năm 1822, năm Nhâm-ngọ, vua Thánh-tổ đã tỏ ra nhiệt-thành đối với việc cúng-tế đức Khổng đến nỗi dù chưa đến năm Mùi, nhà vua cũng đã ban-hành một sắc-lệnh riêng để có thể đến Văn-miếu vào


    [1] ) Việc xây cất Vạn-niên cơ đã bị Đoàn-hữu-TrưngĐoàn-tư-Trực lãnh-đạo thợ-thuyền chống-đối năm 1866. Ca-dao có câu ‘Vạn-niên là Vạn-niên nào? Thành xây xương lính, hào đào máu dân! (Xem Trung-nghĩa ca của Đoàn-hữu-Trưng từ câu 243-270)

    [2] Quan-niệm của Đông-Phương về vũ-trụ và nhân-sinh là một quan-niệm động, bắt nguồn từ kinh Dịch. Thành là trở thành. Nhà Nho thường thích định-nghĩa theo lối đồng âm dị nghĩa : nhân giả nhân dã, chính giả chính dã : từ “…” đến “…”, từ “…” đến “…” là cả một sự trở thành. Chính vì thế mà người Á đông đã chú-trọng đến lịch-sử rất sớm. Người Việt-Nam hướng đến sự trở thành một cách triệt-để đến nỗi không cân biết cái gì có trước nữa, có lẽ đó là ý-nghĩa đích-thực của danh-xưng Việt, nghĩa là vượt, lúc nào cũng phủ-nhận giới-hạn.

    [3] Tham-gia hay nhập-cuộc có ý-nghĩa rông hơn dấn-thân.

    [4] Thiếu thành nhược thiên-tính, tập-quán như tự-nhiên (Đại đái lễ) : lúc nhỏ, trở nên như tính-trời, tập quen như tự-nhiên.

    [5] Lễ ký, lễ-vận IX.

    [6] Luận-ngữ, Dương-hóa XVII : Hiếu nhân bất hiếu học, kỳ tế dã ngu ; hiếu trí bất hiếu học, kỳ tế dã đãng ; hiếu tín bất hiếu học, kỳ tế dã tặc ; hiếu trực bất hiếu học, kỳ tế dã giảo, hiếu dũng bất hiếu học, kỳ tế dã loạn, hiếu cương bất hiếu học, kỳ tế dã cuồng, nghĩa là : muốn nhân mà không hiếu học thì bị che lấp mà thành ngu ; muốn trí mà không hiếu học thì bị che lấp mà thành phóng-đãng ; muốn tín mà không hiếu học thì bị che lấp mà gặp hại ; muốn trực mà không hiếu học thì bị che lấp mà thành sỗ-sàng ; muốn dũng mà không hiếu học thì bị che lấp mà thành loạn ; muốn cương mà không hiếu học thì bị che lấp mà thành cuồng.

    [7] Trung-dung, XX, 19.

    [8] Phù nhân-giả, kỷ dục lâp nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân (Luận ngữ, Ung-dã, VI) : phàm đã làm người nhân, cái gì mình muốn lập cho mình thì lập cho người, cái gì mình muốn đạt thì làm cho người đạt đến.

    [9] Quân-tử thành nhân chi mỹ (Luận-ngữ Nhan-uyên, XII) : quân-tử làm nên cái đẹp cho người. Câu này giống câu la-tinh : Amare bonum velle, yêu là muốn cho người mình yêu được tốt-lành.

    [10] Quân-tử thể nhân túc dĩ trưởng nhân (Dịch, Văn-uyên truyện) : người quân-tử thể-hiện lòng nhân đủ để cho người được tăng-trưởng.

    [11] Tinh-thần dân-bản này cũng không khác gì tinh-thần dân-chủ ngày nay.

    [12] Nhân-đạo, chính vi đại (Lễ-ký, Ai-công vấn XXVII)

    [13] Chính giả chính dã (Luận-ngữ, Nhan-uyên XII, 16)

    [14] Tất dã chính danh hồ… Danh bất chính tắc ngôn bất thuận, ngôn bất thuận tắc sự bất thành (Luận-ngữ, Tử-lộ, XIII)

    [15] Quân-tử học dĩ trí kỳ đạo (Luận-ngữ, Tử-trương XIV)

    [16] Thành nhân chi hạnh, đạt hồ tình tính chi lý, thông hồ vật-loại chi biến, tri u-minh chi cố, đổ du-khí chi nguyên, nhược thử khả-tắc vị thành-nhân. Ký tri thiên-đạo, hành thân dĩ nhân-nghĩa, sức thân dĩ lễ-nhạc. Phù nhân-nghĩa, lễ-nhạc, thành-nhân chi hạnh dã, cùng thần, tri hóa, đức chi thịnh dã. (Khổng-tử tập-ngữ, Sở phạt Trần, XVIII) Đức-hạnh nửa người thành là đạt cái lý của tính-tình, thông cái biến của vật-loại, biết cái cớ của sự u-minh, rõ cái nguồn du-khí, như thế có thể gọi là người thành. Đã biết thiên-đạo, lại đem mình làm những điều nhân-nghĩa, trang-sức mình bằng lễ-nhạc, nhân-nghĩa, lễ-nhạc là đức-hạnh của bậc thành-nhân, hiểu cùng hết lẽ thần-thánh biến-hóa, đó là cái thịnh của đức vậy.

    [17] Thường-xuyên nghĩa là quan-niệm giáo-dục liên-tục. Đây là một quan-niệm động về giáo-dục, khác hẳn chủ-trương cho giáo-dục chỉ là học-hành thi-cử. Đừng lầm tưởng giáo-dục Việt-nam cổ chỉ là thi-cử.

    [18] Cộng-đồng : giáo-dục là một sinh-hoạt tập-thể. Người đã phát-biểu quan-niệm này một cách cụ-thể nhất là Nguyễn-Công-Trứ khi ông đòi hỏi vua Minh-mệnh phải qui-tụ dân-chúng vào một ấp, một làng để họ hoạt-động chung với nhau, tự giáo-dục lẫn nhau bằng sinh-hoạt tập-thể. Vấn-đề cộng-đồng-hóa các trường tiểu-học ngày nay vẫn được coi là sáng-kiến của UNESCO, đó là một lầm-lẫn về thời-gian.

    [19] Phổ-thông : giáo-dục Á-đông nhắm vào quần-chúng, vì giáo-dục trong căn-bản là giáo-hóa.

    [20] Phụng-sự : giáo-dục cổ bao giờ cũng hướng về xã-hội để phục-vụ xã-hội, giáo-dục không đối-tượng phụng-sự là không-tưởng.

    [21] Thực-tiễn : vì giáo-dục nhằm vào sinh-hoạt hằng ngày, đến việc đắc-thụ những cái không thể không biết, như sái tảo ứng đối, tiến thoái : quét tước, ăn nói, tới lui.

    [22] Trác việt thiên-cổ : sự vĩ-đại của đức Khổng vượt hẳn muôn đời. Đạo tại lưỡng-gian : đạo của Ngài vẫn tồn-tại mãi-mãi trong không-gian và thời-gian.

    [23] Hữu văn : tôn-sùng văn-chương ; Dị-lễ : gắng sức luôn luôn để theo lễ.

    [24] Kim-thanh : danh-tiếng vang-dội như tiếng vàng. Ngọc-chấn : lòng nhân-ái trong sáng như ngọc.
  • Chia sẻ trang này