0073.00005

26/1/16
0073.00005
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}

    một năm không hiến-định ([88]); năm Canh-tý (1840) cũng thế ([89]).

    Quốc-tử-giám được thiết lập với danh-hiệu Quốc-học năm 1803 tại xã An-ninh và có qui-mô hoàn-bị từ năm 1820, dưới thời vua Thánh-tổ. Nhiệm-vụ của trường giám là đào-thục nhân-tài, để giúp nền văn-trị ([90]), cho nền tổ-chức của nhà trường đã được đặc-biệt chú-trọng. Trường sở gồm có một đại giảng-đường là Di-luân đường, phía sau là các giảng-đường tức là các lớp học, hai bên có các phòng-ốc dùng làm nội-trú cho giám-sinh. Ban giám-đốc vào đời vua Thế-tổ chỉ gồm có một Đốc-học ([91]) và một phó Đốc-học ([92]); đến năm 1821, các chức-vụ này bị thay-thế bằng một ban Giám-đốc và ban giảng-huấn khác hẳn gồm một Tế-tửu ([93]), hai Tư-nghiệp ([94]) lựa chọn trong những nhà khoa- mục hay những nhân-sĩ nổi tiếng để phụ-trách các lớp chính-thức, hai Học-chính ([95]) phụ-trách giảng-dạy các giám-sinh hoàng-tộc. Điều kiện nhập học rất rộng-rãi; học-sinh chỉ cần có một trong ba điều-kiện sau đây:

    - Trúng-tuyển trong một cuộc sát-hạch cấp phủ, tổ-chức ba năm một lần, chọn mỗi phủ một người trong số tú tài ([96]) hoặc sinh-đồ ([97]) trên 40 tuổi, gọi là Cống-sinh.

    - Đã đậu cử-nhân và đang chuẩn-bị thi Hội.

    - Là thiếu-niên ưu-tú trong hoàng-tộc (được nhận với tư-cách tôn học-sinh) hay là con cháu các quan được nhận với tư cách ấm-sinh).

    Hệ-thống tổ-chức Quốc-tử-giám còn tỏ ra rất ưu-đãi các thanh-niên miền thượng-du như Tuyên-quang, Cao-bằng, Lạng-sơn, Thái-nguyên, Hưng-hóa; không cần biết hạng tuổi và học-lực, chỉ cần được nhà chức-trách địa-phương chứng-nhận là xuất-sắc và giới-thiệu với Quốc-tử-giám là người học-trò Thượng-du được nhập học với danh-hiệu học-sinh, sau 3 năm dự-bị, sẽ được sát hạch và nếu trúng tuyển sẽ được sắp xếp vào hạng Cống sinh. Như vậy, giám-sinh có thể chia làm hai thành-phần, thành-phần chính thức gồm các giám-sinh có văn-bằng cử-nhân và các cống sinh, thành-phần dự bị gồm các tôn học-sinh, ấm-sinh ([98]) và học-sinh.

    Quyền-lợi của giám-sinh rất đáng chú-ý. Họ có quyền nội-trú, được miễn thuế đinh, được cấp áo-mão ([99]), hàng tháng được hưởng nguyệt-bổng và hiện-vật theo tỉ-lệ như sau:

    Quyen-loi-giam-sinh.jpg

    Như vậy, tính nguyệt-bổng trung-bình, và căn-cứ vào cách lĩnh lương hàng tháng, giám-sinh có quyền-lợi như một quan-viên cửu-phẩm, bát-phẩm và có khi thất-phẩm. Riêng đối với các giám-sinh có cử nhân và các cống-sinh nếu thực-sự chuyên-cần và học-lực xuất-sắc, họ có thể đạt tới một niên-bổng quan-trọng là 48 quan tiền, 36 vuông gạo, 60 cân dầu, bằng niên-bổng của một quan-viên chánh ngũ-phẩm chỉ được lãnh 40 quan tiền, 35 vuông gạo, 9 quan tiền xuân-phục, nghĩa là ngang hàng với một quan đốc-học, hơn hẳn quan học-chánh ( tòng lục-phẩm), giáo-thụ (chánh thất-phẩm) huấn đạo (chánh bát-phẩm). Nhận xét này rất quan-trọng để thẩm-định sự lưu-tâm đặc-biệt của nhà Nguyễn về công-cuộc đào-thục nhân-tài và trọng-đãi trí-thức (99).

    Tại các trấn, vua Gia-long đã cho thiết-lập các trường học do một đốc-học ([100]) điều-khiển; các phủ các huyện cũng đều có trường tường trường tự do các chức giáo-thụ ([101]) và huấn-đạo ([102]) phụ-trách về hành-chánh và chuyên-môn. Nhiệm-vụ của các giáo-chức này rất quan-trọng, nào là phải sát-hạch học-trò, thân-quyến của họ, thiết-lập danh-sách những người đỗ hạch để nộp lên quan-trường, mỗi năm có kỳ thi, nào là phải chứng-nhận hạnh-kiểm và học-lực của học-sinh để học có thể nhập-học Quốc-tử-giám. Chính-sách phổ-biến giáo-dục này bắt nguồn từ sáng-kiến Hồ-quý-ly năm 1397, được vua Lê Thái-tổ tiếp tục năm 1428 và tỏ ra hữu-hiệu vào đời vua Thế-tổ nhà nguyễn, nhất là khi nhà vua biết sử-dụng khả-năng của các nhà khoa-mục triều Lê trong công-cuộc-giáo-dục. Vua Minh-mệnh đã ân-cần nhắc-nhủ các nhà lãnh-đạo hành-chánh và giáo-dục địa-phương: “Kinh-doãn cùng các Đốc, Phủ, Bố, Án, các ngươi nên thể theo ý Trẫm, đem sao-chép, tống-đạt ấn-bản, phổ-biến rộng-rãi đến tổng, lý, xã, thông trong địa hạt, đồng thời chuyển-sức đến học-sinh các phủ, huyện thuộc hạt cùng các cai-tổng, lý-trưởng, mọi người theo lệnh của bộ, lục-tống các bản nghi-chú, sức truyền sâu rộng những giáo-điều này cho sĩ-thứ, quân-nhân, đến kỳ đã định, tuyên-đọc giảng-giải rõ-ràng, cốt làm sao chuyển đến từng nhà cho mọi người đều đọc, chỉ-dẫn lẫn cho nhau để cùng nên tốt, ngày thấm tháng nhuần để cùng nhau trở về đường lành” (Thánh-dụ huấn-dịch thập-điều), A, 12) Tổ-chức giáo-dục rõ-ràng đã thực-hiện tính-cách phổ-thông và cộng-đồng chính-sách giáo-dục triều đại và còn được thể-hiện trong hệ-thống giáo-dục tự-do có nhiều điều rất đáng chú-ý. Cấp bậc thấp nhất, bao gồm một thành-phần học-sinh đông-đảo nhất là cấp thục, tương-đương với cấp bậc tiểu-học ngày nay, hoàn toàn tùy-thuộc sáng-kiến tư-nhân, không liên-quan đến chính-quyền cả về phương-diện chuyên-môn, tổ chức, lương-bổng, kiểm-soát. Việc học được quan niệm một cách tuyệt đối tự-do, triệt-để có tính-cách tư-thục, hạnh-kiểm và kiến thức của học-sinh hoàn-toàn do các thầy đồ thầy khóa chủ trương chịu trách-nhiệm với các phụ-huynh học-sinh là dân làng, những người trả lương cho các thầy bằng tiền mặt hay bằng hiện-vật. Chương-trình học đầu tiên là gồm các phần thực-hành về cử chỉ, ngôn-ngữ mà các trẻ em không thể không biết, sau đấy mới đến phần tập viết, tập đọc. Sách giáo-khoa thường là Tam-tự kinh (mỗi câu 3 chữ), Minh-đạo gia-huấn và Sơ-học vấn-tân (mỗi câu 4 chữ), Trạng-nguyên thi (mỗi câu 5 chữ). Nếu các thầy đồ thầy khóa thực sự chú-trọng tới giáo-dục nhi đồng, việc thi-hành những nguyên-tắc sư-phạm trình-bày trong sách Lễ-ký, chương Khúc lễ nói về cách đi đứng, thưa trình của trẻ con, chương Thiếu-nghi ([103]) nói về những bổn phận thông-thường của học-sinh, v.v… đã đủ rèn-luyện cho trẻ em những thói quen tốt về cư-xử, giao-tế, học-hành, cách giữ vệ-sinh thường-thức. Trong những điều-kiện bình-thường, nền giáo-dục tư-thục này rất thành-công vì nhà trường thường được thiết-lập ở nơi trung-tâm trong làng, hoặc được chính dân làng chọn chỗ xây cất nên không ai là không dễ-dàng tiếp-xúc với thầy đồ ([104]); thầy đồ có thể là một người không giỏi, nhưng có uy-tín đạo-đức, và thường dạy học-sinh bằng gương-mẫu hơn là lý-thuyết. Nhận thấy tính cách quan trọng của nền giáo-dục cấp thục này, vua Thánh-tổ đã nhiều lần nhắc-nhở bổn-phận giáo huấn tử-đệ của các bậc phu-huynh, sư-trưởng. Ngài cũng đã không quên nhấn mạnh về tác-dụng sư-phạm của chương Thiếu-nghi trong sách Lễ-ký mà bất cứ ai chuyền về giáo-dục Đông-phương cũng nhận thấy chưa đựng những bài học quí-giá cho nhi-đồng. Đức vua nói: “Con nhỏ, cháu dại, tất cả những gì của Thánh-nhân đều phải dạy, chương Thiếu-nghie, chức đệ-tử, chỗ dến của người quân-tử là phải nghiêm-trang” (Huấn-địch thập-điều, B VI, 4). Sau khi học xong cấp thục, vào khoảng lên 10 tuổi, người học-sinh bước lên trường tường và trường tự là trường huyện, trường phủ, tương-đương với trung-học ngày nay. Đến đây, học-đường vẫn có thể duy-trì tính-cách tư-thục, nhưng chính-quyền nhà Nguyễn đã bắt đầu can-thiệp vào tổ-chức giáo-dục và bổ-nhiệm 3 cấp giáo-chức để điều-hành công-tác này là huấn-đạo ở cấp huyện, giáo-thụ ở cấp phủ và đốc-học ở cấp trấn hay tỉnh. Cả 3 cấp giáo-chức này tuy có sai-biệt về vị-trí-hành-chánh và bằng-cấp nhưng đều có một nhiệm-vụ chung là chuẩn-bị cho học-sinh thi Hương. Chương-trình học-tập cũng giống nhau và gồm có phần giảng sách ( [105]), phần tập văn ([106]) và phần bình văn ([107]). Các sách giáo-khoa thường là Tứ-thư, Ngũ kinh và một số Ngoại-thư ([108]). Trước khi dự thi, học-sinh đã được chuẩn-bị chu-đáo; các quan Huấn, Giáo, Đốc thường phối-hợp với nhau để tổ-chức các kỳ hi thử mỗi năm gọi la khảo-khóa, người đỗ nếu không đi thi lên nữa thì được gọi là khóa-sinh và có thể về làng mở trường dạy học; cứ 3 năm có một kỳ khảo-hạch, người nào đỗ mới có quyền đi thi Hương được tổ-chức tại 8 địa-điểm trong toàn-quốc là các trường Thừa-thiên, Gia-định, An-giang, Bình-định, Nghệ-an, Thanh-hóa, Nam-định, Hà-nội. Khóa thi Hương đầu tiên do nhà Nguyễn tổ-chức là khoa năm 1807; trước thi cứ 6 năm một khóa, vào những năm tí, ngọ, mão, dậu. Đây là thành-quả thi Hương triều Nguyễn theo Quốc-triều hương-khoa lục của Cao Xuân Dục xuất bản năm 1893.

    Cac-doi-vua.jpg

    Khoa thi Hội đầu tiên của nhà Nguyễn chỉ được mở vào năm 1822. Các tiến-sĩ cũng được chia ra tam-giáp như đời Lê là đệ nhất-giáp tiến-sĩ cập-đệ, đệ nhị-giáp tiến-sĩ xuất-thân, đệ tam-giáp đồng tiến-sĩ xuất-thân. Lễ xướng-danh, vinh-qui, khắc bia vẫn được duy-trì; từ năm 1826, hạn ba năm một khóa thi Hội đời Lê được áp dụng vào những năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Năm 1829, ngoài danh-sách tiến-sĩ trong tam-giáp được mang chung một danh-xưng mới là chánh-bảng, khoa-vị phó-bảng được thiết lập để đãi-ngộ những nhân-tài thiếu may-mắn. Phân số được qui-định như sau:

    Phan-chia-thu-hang.jpg

    Được ghi vào chánh-bảng những vị thông-suốt 3 kỳ và có tất cả 10 phân trở lên; được ghi vào phó-bảng hay được gọi là phó-bàng những vị thông 3 kỳ, được 9 phân trở xuống đến 4 phân, hoặc chỉ thông 2 nhưng lại được 10 phân trở lên. Các sách giáo-khoa dùng để soạn thi Hương; các môn thi vẫn là kinh-nghĩa ([109]), thi phú, chiếu chế biểu, văn-sách, chỉ thêm bớt hoặc đảo vị-thứ tùy theo ý-định của nhà vua như năm 1832, để giản-dị-hóa việc thi-cử, vua Minh-mệnh bỏ môn chiếu, chế, biểu; thi Hương hay thi Hội chỉ còn được diễn ra trong 3 kỳ:

    Kỳ đệ nhất : kinh-nghĩa

    Kỳ đệ nhị : thi-phú

    Kỳ đệ tam: văn-sách


    Năm 1850, vua Tự-đức tái-lập lại chế-độ 4 kỳ:

    Kỳ đệ nhất: kinh-nghĩa

    Kỳ đệ nhị: văn-sách

    Kỳ đệ tam: chiếu, biểu, luận ( 5)

    Kỳ đệ tứ: thi-phú


    Thi Đinh: đối-sách.


    Năm 1858, vua Tự-đức lại trở về chế-độ 3 kỳ:

    Kỳ đệ nhất: kinh-nghĩa

    Kỳ đệ nhị: chiếu, biểu, luận

    Kỳ đệ tam: văn-sách


    Sau đây là tổng số các khoa-thi và các tiến-sĩ triều Nguyễn theo Quốc-triều khoa-bảng lục của Cao-Xuân-Dục xuất-bản năm 1894:

    Khoathi-tiensi-trieuNguyen.jpg






    [88] Hội-điển, Q. 90, trang 8.

    [89] Hội-điển, Q. 208, trang 26

    [90] Đào-thục nhân-tài, dĩ-tì văn-trị (Đại-nam hội-điển, Q. 261, trang 1a. Danh-xưng Quốc-tử giám chính-thức có từ năm 1821. Các phòng học được xây năm 1826, gồm tất cả 38 gian.

    [91] Chánh tứ-phẩm

    [92] Tỏng tứ-phẩm

    [93] Tế-tửu, chánh tứ-phẩm, lương-bổng đồng-niên gồm có: 80 quan tiền, 50 vuông gạo, 10 quan tiền xuân-phục.

    [94] Tư-nghiệp, tòng tứ-phẩm, lương-bổng đồng-niên gồm có: 60 quan tiền, 50 vuông gạo, 10 quan tiền xuân-phục

    [95] Học-chánh, tòng lục-phẩm, lương-bổng đồng-niên gồm có: 25 quan tiền, 22 vuông gạo, 6 quan tiền xuân-phục

    [96] Danh-vị tú tài chỉ có từ năm 1828. Năm 1396, xuất-hiện danh-vị cử-nhân để gọi những người trúng-cách thi Hương. Năm 1462, vua Lê-Thánh-Tông bỏ danh-vị cử-nhân và chia những người thi Hương ra 2 cấp là hương-cống (tức cử-nhân trước) và sinh-đồ (tức tú-tài về sau này). Năm 1828 vua Minh-mệnh đổi lại hương-cống là cử nhân (như năm 1396) và gọi sinh-đồ là tú tài.

    [97] Sinh đồ: những người đỗ hương-thí cấp 2 đời Lê, vì vậy, phải trên 40 tuổi. Đây là điều-kiện chuyển-tiếp.

    [98] Các ấm-sinh ở Giám vẫn có thể soạn thi Hương như trường hợp Trần-Đình-Túc người huyện Địa-linh, tỉnh Quảng-trị

    [99] Đời vua Lê-Thánh-Tông, giám-sinh được chia ra ba hạng, có nội-trú và nguyệt-bổng khác nhau : thượng xá-sinh 1 quan, trung xá-sinh 9 tiền, hạ xá-sinh 8 tiền (CM, Q.23 trg 39b-40a) trong khi niên-bổng của các quan là:

    - Chánh nhất phẩm: 80 quan – Tòng nhất phẩm 74 quan

    - Chánh ngũ-phẩm: 40 quan – Tòng ngũ-phẩm 36 quan

    - Chánh lục-phẩm: 33 quan – Tòng lục-phẩm 30 quan

    - Chánh thất-phẩm: 27 quan – Tòng thất-phẩm 24 quan

    - Chánh bát-phẩm: 21 quan – Tòng bát-phẩm 18 quan

    - Chánh cửu-phẩm: 16 quan – Tòng cửu-phẩm 14 quan

    Tiền công thợ mỗi ngày 30 đồng nghĩa là tính tròn 18 quan một năm

    Về đời Nguyễn, tiền công thợ tối-đa là 1 tiền mỗi ngày, thường là 30 đồng, tối-thiểu là 18 đồng, trong khi niên-bổng của chánh nhất-phẩm là 400 quan, tứ-phẩm 80 quan, ngũ-phẩm 40 quan.

    [100] Đốc-học, chánh ngũ-phẩm, lương đồng-niên : tiền 40 quan, gạo 35 vuông, tiền xuân-phục 9 quan. Đốc-học có văn-bằng tiến-sĩ như Vũ-Tông-Phan, có cử-nhân như Ngô-Phùng.

    [101] Giáo thụ, chánh thất-phẩm, lương-bổng đồng-niên: tiền 25 quan, gạo 20 vuông, tiền xuân-phục 5 quan. Giáo-thụ điển-hình: Cao-Bá-Quát.


    [102] Huấn-đạo, chánh bát-phẩm, lương-bổng, đồng-niên : tiền 20 quan, gạo 18 vuông, tiền xuân-phục 4 quan. Nhữ-Bá-Sĩ đầu tiên làm huấn-đạo sau được thăng đốc-học Thanh-hóa

    [103] Trong lễ-ký, chương XVI.

    [104] Thầy đồ, do chữ sinh-đồ (tú-tài)

    [105] Định-kỳ hàng tháng tùy theo trường. Các trường lớn đều cho ấn-hành những bài giảng này như Trúc-đường khóa sách của trường Trúc-đường do Ngô-Thế-Vinh điều-khiển.

    [106] Tập văn, các định-kỳ do nhà trường định. Có thể mang đề về nhà làm, có khi phải làm tại lớp học, gọi là văn nhật khắc.

    [107] Cũng như trả bài luận bây giờ. Giáo-sư hoặc học-sinh được chỉ-định đọc lên những câu văn hay đề cho cả lớp nghe.

    [108] Ngoại thư là sách văn-chương do Đường-thi, Thi-vận. Danh xưng ngoại-thư rất hùng-hồn để cải-chính tính-cách từ-chương mà người ta muốn gán cho lối học ngày xưa. Thực ra, chính Khổng-tử đã nói: Hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn (Luận-ngữ, Học nhi 1), làm đã, thừa thì giờ mới học văn.

    [109] Kinh-nghĩa hay kinh-nghi, Kinh-nghĩa là khoa giảng-văng, có từ khoa 1304, và từ năm 1396, trở thành môn thi đầu tiên của thi Hương và thi Hội. Bố-cục của một bài kinh-nghĩa gồm có 8 đoạn (bát cổ), so-sánh với môn giảng-văng ngày nay có thể chia làm như sau: 1) Giới-thiệu tổng-quát (phá-đề, thừa-đề) 2) Đại-ý: (khởi-giảng, khai-giảng) 3) Phân-tích (trung-cổ) 4) Phê-bình (hậu-cổ) 5) kết-thúc (kết-cổ).
  • Đang tải...
  • Chia sẻ trang này