0073.00006

26/1/16
0073.00006
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}


    C. – Những đề-án cải-cách giáo-dục.

    Trong suốt đời vua Thế-tổ, giáo-dục nhà Nguyễn hoàn-toàn được quan-niệm và tổ-chức như trong thời nhà Lê. Đó là thời-kỳ chuyển-tiếp và xây-dựng. Vua Thánh-tổ vừa lên ngôi đã bắt tay lập-tức vào công-cuộc đào-thục nhân-tài. Năm 1821, danh-xưng Quốc-tử giám thay-thế danh hiệu Quốc-học; điều-kiện nhập-học rất uyển-chuyển để dung-nạp tất cả mọi thành-phần ưu-tú; ban giảng-huấn được cải-danh và tăng-cường để đáp-ứng những nhu-cầu mới; các nhân-vật lỗi-lạc dù xuất-thân khoa-bảng hay không, đều được triệu-thỉnh gia-nhập ban giảng-huấn; Phan-Huy-Chú (1782-1840) tác-giả Lịch-triều hiến-chương loại chí, đã được mời làm Biên-tu Quốc-tử giám năm 1821dù chỉ có mảnh bằng tú-tài; Phạm-Đình-Hổ (1768-1839), chuyên nghiên-cứu về cổ-sử, cổ-ngữ, tác-giả 16 tác-phẩm lớn nhưng lại là một người hoàn-toàn vô-bằng-cấp, đã được vua Minh-mệnh thỉnh cầu làm Tế-tửu Quốc-tử giám năm 1826. Tinh-thần sùng-văn thượng-hiền của nhà vua, số tiền học-bổng quan-trọng ở Quốc-tử giám, lòng ưu-ái đối với nhà văn-học như Trương-Đăng-Quế, Nguyễn-Công-Tiệp đã chứng tỏ ý-chí cải-cách giáo-dục của vua Thánh-tổ, một nhà lãnh-đạo biết chân-nhận cái giá trị quí-báu của nhân-tài. Thông-minh, thực-tế và ưa hoạt-động, nhà Vua đã thấy rõ những khuyết-điểm trầm-trọng của lối học cử-nghiệp đương-thời mà kết quả chỉ là tạo ra một số khoa-bảng có bằng cao nhưng óc rỗng. Ngài thường nói: “Lâu nay, khoa-cử làm cho người ta sai-lầm. Trẫm nghĩ văn-chương vốn không có qui-củ nhất-định mà nãy những văn cử-nghiệp chỉ câu nệ hủ-sáo, khoe-khoang lẫn với nhau, biệt-lập mỗi nhà một lối, nhân-

    phẩm cao hay thấp do tự đó, khoa-trường lấy hay tỏ cũng do tự đó. Học như thế thì trách nào mà nhân-tài chẳng mỗi ngày một kém đi” ([110]). Do đấy, Ngài giản-dị-hóa hệ-thống thi-cử, bãi-bỏ môn chiếu chế biểu là một môn học thuần-túy cử-nghiệp, không lấy đỗ Trạng-nguyên, ít cho đỗ đệ-nhất-giáp Tiến-sĩ cập-đệ nhưng lại thiết lập khoa-vị phó-bảng, vừa tạo điều-kiện cho nhiều người có cơ-hội trúng-cách đại-khoa, vừa có dịp dành riêng khoa-vị tiến-sĩ cập-đệ cho những thí-sinh thực-sự xuất-sắc. Ngài hạ chiếu tưởng-thưởng cho những nhà trước-tác có tinh thần thực-tế như Trịnh-Hoài-Đức, Hoàng-Công-Tài, Cung-văn-Hi, Nguyễn-đình-Chính, Vũ-Văn-Bưu, đề-cao tinh-thần vụ bản-nghiệp, khích-lệ những công-trình dinh-điền như của Nguyễn-Công-Trứ v.v… Bản dụ Huấn-dịch thập điều ban-hành năm 1834 là bản tuyên-ngôn của chính-sách giáo-dục nhà Nguyễn, một chính-sách xuất-phát từ triết-lý nho-giáo và không khỏi tham-bác những kinh-nghiệm giáo-dục của nhà Lê, nhưng đã căn-cứ trên thực-tại Việt-Nam và nhằm giải-quyết những vấn-đề xã-hội, kinh-tế, văn-hóa của thời-đại. Những bản điều-trần của Nguyễn-Trường-Tộ từ năm 1836, những đề nghị cải-cách của Đinh-Văn-Điền năm 1868, của Nguyễn-Hiệp năm 1879, của Lê-Đĩnh và Phan-Liêm năm 1881, xét về phương-diện giáo-dục, đã khẳng-định và cường-điệu chính-sách giáo-dục của vua Thánh-tổ ban-hành năm 1834 trong một văn-mạch khác. Việc vua Dực-tông phiên-dịch và ấn-hành bản dụ Huấn-dịch thập điều năm 1870 là một cách phúc-đáp sáu bản điều-trần của Nguyễn-Trường-Tộ

    đệ-trình vào những năm 1863, 1866 (tháng 6, tháng 7 và 25-7), 1867, 1868. Nguyễn-Trường-Tộ còn tiếp-tục đệ-trình 8 bản điều-trần nữa vào năm 1871. Vua Dực-tông đã nhiều lần tỏ ra tán-thành những ý-kiến rất mới-mẻ của Nguyễn-Trường-Tộ và đã thực-sự mời nhà cải-cách này tham-gia vào hoạt-động của triều-đình để thực-hiện kế-hoạch của ông. Tuy nhiên, điều mà triều-thần vẫn quan niệm không giải-quyết được là sự giao-tiếp càng ngày càng khó-khăn giữa người Việt và người Pháp, sự bất-đồng quan-điểm về tôn-giáo và nhất là, đúng như vua Thánh-tổ đã thấy trước, sự xung-đột càng ngày càng khốc-liệt giữa hai nền văn-minh tương-phản nhau, nền văn-minh Âu-châu thiên-trọng kỹ-thuật và nền văn-minh Á-đông đề-cao đạo-đức. Sự phân-hóa và băng-hoại của nền giáo-dục Pháp ngày nay cho thấy rằng các vua và triều thần nhà Nguyễn đã không hoàn-toàn vô-lý khi từ-khước những đề-nghị cải-cách của Nguyễn-Trường-Tộ. Cái khó không phải là ở quan-niệm cải-cách mà ở kế-hoạch thực-hiện những cải cách ấy sao cho phù-hợp với thực-tế Việt-nam và không làm tiêu-diệt những giá-trị cổ-truyền của dân-tộc.


    CHƯƠNG II

    NỘI-DUNG HUẤN-ĐỊCH THẬP-ĐIỀU

    A. – Phân-tích

    Huấn-địch thập điều, được dân-chúng gọi tắt là bản Thập điều, gồm tất cả 25 tờ, đúng ra là 49 trang, mỗi trang 8 dòng, mỗi dòng 20 cách, đúng như lệ-định của khoa thi Nhâm-ngọ (1822) là năm Hội-thi đầu tiên của Nguyễn-triều; 10 cách trên dành cho nguyên bản Hán-văn của vua Thánh-tổ viết năm 1834, 10 cách dưới dành cho dịch-bản chữ Nôm của vua Dực-tông ấn-hành năm 1870.

    Bố cục của nguyên-bản Hán-văn gồm có hai phần chính và 62 mục.

    Phần A từ trang 1a đến 5a nhan-đề là Thánh-dụ huấn-địch thập điều bắt đầu từ câu “Thánh-dụ” và chấm hết bằng công-thức cổ-động của các bản chiếu-dụ thời phong-kiến là câu khâm thử. Phần này gồm 13 mục giải-thích lý-do ban-hành mười điều huấn-địch và kêu gọi mọi công-dân thấu-triệt và học-tập các điều-khoản trong bản huấn-địch ấy. Bài Thánh-dụ này có thể chia ra làm 3 tiều-đoạn.

    Đoạn 1 (mục 1,2) công-bố nhiệm-vụ giáo-hóa của triều-đình.

    Đoạn 2 (mục 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11) giải-thích, mô-tả những thực-hiện của vua Thế-tổ về phương-diện giáo-dục, thiện-chí tiếp-tục của vua Thánh-tổ, những công-tác đã thi-hành, phân-tích lý luận thuận-nghịch và cuối cùng, trình bày cách-thức biên-soạn bản Thập-điều.

    Đoạn 3 (mục 12, 13) kêu gọi các quan-viên và dân-chúng cộng-tác với triều-đình trong công-cuộc phổ-biến và thực-hiện các điều huấn-dụ.

    Phần B bắt đầu từ trang 5b đến 22b nhan-đề là Huấn-địch thập điều, gồm 10 điều và 49 mục.

    Điều 1 nhan-đề là Đôn nhân-luân kéo dài từ trang 5b đến 7b và gồm 9 mục. Tác-giả định-nghĩa ngũ-luân (mục 1), hô-hào mọi người tôn-trọng việc đôn nhân-luân (mục 2). Mọi người ở đây là các quan-viên (mục 3) học-sinh (mục 4), giới lao-động (mục 5), giới quân-đội (mục 6), giới lại-viên (7). Phần kết-luận (8,9) giới-thiệu những lợi-ích do việc đôn nhân-luân tạo ra.

    Điều II gọi là Chính tâm-thuật, đi từ trang 7b đến 9a và gồm có 7 mục, trước hết nhận-định về tâm như là một động-cơ sinh-hoạt căn-bản (mục 1), giải-thích thiện-căn của tâm (mục 2), mong ước mọi người duy-trì, tồn-dưỡng thiện-căn ấy (mục 3). Nhà vua chú-trọng đến sự điều-hợp hai hạng người trong xã-hội: người giàu và người nghèo (mục 4); nếu học biết cảnh-tỉnh cảnh-giác (mục 6), thì nhất-định đã hiểu kỹ-thuật chính-tâm (mục 7).

    Điều III nhan-đề là Vụ bản-nghiệp bắt đầu từ trang 9a đến dòng thứ 6 của trang 10b, gồm 5 mục. Tác giả quan-niệm mỗi người đều bắt-buộc phải có một nghề để sống (mục 1), mà nói đến nghề là phải thành-công, muốn thành-công chỉ có một biện-pháp duy-nhất là chuyên-cần (mục 2). Sau khi sơ-lược trình-bày những nhiệm-vụ của học-sinh (mục 3), nhà vua đã dài dòng phân-tích công việc của nhà nông (mục 4) của giới thợ và nhà buôn (mục 5).

    Điêu IV nói về vấn-đề Thượng tiết-kiệm từ trang 10b đến 12a trong 4 mục lớn. Trước hết, phải lập kế-hoạch chi-tiêu để tránh những sự hoang-phí vô-ích, (mục 1), nhất là phải hạn-chế những chi-phí về cúng-tế, giảm-thiểu những số tiền phải bỏ ra vì nghiện-ngập (mục 2). Nhà vua kêu gọi sự khiêm-tốn, tiết-độ, đắc-thể, hợp-nghi (mục 3) cũng như kêu gọi những người nghiện-ngập phải cấp-tốc và triệt-để cải-chừa (mục 4).

    Điều V, Hậu phong-tục, từ trang 12a đến hết trang 13b, gồm 6 mục. Đầu tiên là nhận-định về vai trò của phong-tục trong sinh-hoạt xã-hội (mục 1), tác-dụng hòa-bình của những tập-quán tốt (mục 2), sự hòa-ái (mục 3), tinh-thần hợp-quần (mục 4), sụ tôn-trọng vị-trí và giới-hạn của mỗi cá-nhân (mục 5), đó là những đức-tính cần phải có để xây-dựng một xã-hội hòa-bình(mục 6).

    Điều VI, Huấn tử-đệ, từ trang 14a đến dòng 2 của trang 15b, gồm 4 mục. Tác-giả đề-cập đến quyền được giáo-dục của con em, nhiệm-vụ giáo-huấn của người lớn (mục 1), phân-tích những hoạt-động giáo-dục điển-hình (mục 2), tác-dụng của giáo-dục đối với thanh thiếu-niên (mục 3), những phương-

    sách giáo-dục (mục 4) trong đó chương Thiếu-nghi của sách Lễ-ký được giới-thiệu như là một tác-phẩm sư-phạm cần-thiết.

    Điều VII, Sùng chính-học, từ trang 15b, dòng 4 đến trang 17b, dòng 4, gồm 4 mục. Đây là những quan-điểm giáo-dục căn-bản. Nhà vua định-nghĩa thế nào là học, trình bày sự cần-thiết phải học thường-xuyên (mục 1), giải-thích sự cần thiết của thái-độ tích-cực (mục 2), thái-độ chống-đối các tà-thuyết nhất là đạo Da-tô là một học-thuyết vô-lý (mục 3). Tác-giả kêu gọi mọi giới, đầu tiên là người học-trò, sau đến nhà binh, giới thợ-thuyền lao-động, tất cả phải có tinh thần nhập-cuộc, phải tranh-đấu chống lại những phong-trào xấu đang lan rộng (mục 4).

    Điều VIII, Giới dâm-thắc, từ trang 17h, dòng 6, đến 19b, dòng 1, gồm 3 mục. Tác-giả đối-chiếu sự đoan-chính với những điều dâm-đãng, tà-ngụy, và kêu gọi đề-phòng những phát-tác của tình-dục (mục 1); nhà vua đã nỗ-lực hoạt-động đề-cao trinh-tiết, đã tìm mọi biện-pháp để chỉnh-đốn sự giao-tế giữa nam-nữ (mục 2) nhưng giới-dâm không hẳn chỉ là giới-dục mà còn là đề-phòng bạo-lực nữa. Cả 3 mục đã được dùng để chỉ-trích nạn cường-hào ác-bá, nạn du-côn, nạn tham-nhũng bóc-lột dân-chúng.

    Điều IX, Thận pháp-thủ, từ dòng 2 trang 19b đến dòng thứ 7 trang 21a, gồm 4 mục. Nhà vua tuyên-bố tính-cách vị-dân của việc áp-dụng pháp-luật (mục 1), kêu gọi dân-chúng học-tập hiến-chương (mục 2), giải-thích những tương-quan tự-nhiên giữa kiến-thức luật-pháp và tinh-thần trọng-pháp (mục 3). Kết-quả là nhờ ý-thức trách-nhiệm của nhân-dân, một xã-hội không hình-phạt sẽ được hình-thành để cho mọi người có điều-kiện hưởng-thụ hòa-bình chân-chính.

    Điều X, nhan-đề là Quảng thiện-hạnh, bắt đầu từ trang 21a đến dòng thứ 6 của trang 22b, gồm 3 mục được coi là phần kết-luận của bản Thập-điều. Tác-giả định-nghĩa thiện là thực-hiện hiếu-dễ, trung-tín, nhân-nghĩa, lễ-trí (mục 1). Đó là đạo thường gắn liền với bản-chất tự-nhiên của con người, cho nên phải hành-thiện (mục 2) thì mới tạo-lập được một nền hòa-bình lâu dài (mục 3).

    Bố-cục của dịch-bản chữ Nôm gồm có 3 phần, ngoài phần A và B như trong nguyên-bản, còn có phần C là phần tổng kết của vua Tự-đức, gọi chung là Thánh-huấn thập điều diễn-nghĩa ca.

    Phần A gồm 13 mục được diễn Nôm thành 92 câu lục-bát, từ câu 1 đến câu 92. Phần B gồm 49 mục được diễn thành 348 câu lục-bát, từ câu 93 đến câu 440 chia ra như sau:

    Thu-tu-cau.jpg


    Phần C nhan-đề là Cẩn-phụ tổng-kết gồm 46 câu, từ câu 441 đến câu 486, từ trang 23a đến 25a. Vua Dực-tôn

    xác-nhận nhiệm-vụ làm vua là làm thầy có bổn-phận giáo-huấn dân-chúng; công-cuộc giáo-dục phải được bắt đầu từ lúc bắt đầu, phải tiếp-tục thường-xuyên, kinh-nghiệm đạo-đức của thánh-hiền phải được thực-hiện, cho nên việc phiên-dịch của bản Thập-điều tỏ ra cần-thiết để giúp cho dân-chúng nghèo-khổ ít học có phương-tiện nghiền-ngẫm lời nói của người-xưa. Bản Thánh-huấn thập-điều diễn-nghĩa ca được tổng-kết bằng một lời mời-gọi mọi người làm việc lành để nêu cao giá-trị con người.

    B. – Nhận-định

    1. Phần phân-tích nội-dung tự nó đề ra những nhận định về giá-trị của nền giáo-dục nhà Nguyễn. Giá-trị ấy có thể xét về phương-diện khuynh-hướng, tính-chất và thực-hiện.

    Đầu tiên, về phương-diện khuynh-hướng, điểm nổi bật nhất là nền giáo-dục nhà Nguyễn có khuynh-hướng đạo-đức rõ-rệt. Đạo-đức ấy được xây-dựng trên một nền-tảng siêu-hình, trên một niềm tin-tưởng vững-vàng vào Tạo-hóa, Thượng-đế của nho-sĩ, ông Trời của dân-gian mà mọi người đều phải tôn-trọng. Thượng-đế đã phú-bẩm tính lành cho con người, nên ai cũng có tính thường, đó là nhân, nghĩa, lễ, trí, gọi là bốn mối, từ khi sơ sinh, người ta không ai không có (Thập-điều B, 11, 2) Đạo-đức ở đây là một đạo-đức hoạt-động, tích-cực, không chủ làm những cái cao-xa, chỉ thi-hành những việc phải thi-hành, nhưng đã hoạt-động thì hăng-hái, mạnh-mẽ, hữu-hiệu. Nhà giáo-dục phải có tinh-thần tranh-đấu, tranh-đấu chống-đối mọi học-thuyết không phải là học-thuyết nho-gia, tranh-đấu tiêu-

    diệt mọi chủ-nghĩa không đặt nho-học làm căn-bản. Chính vì khuynh-hướng này mà nhà nho đã quyết-liệt phủ-nhận đạo Da-tô chỉ vì một lẽ giản-dị là đạo Da-tô đã không phải là đạo nho thì chỉ có thể là dị-đoan, tà-thuyết. Đạo nho quan-niệm tôn-quân là một nguyên-tắc duy-trì trật-tự, đạo Da-tô hô-hào thực-thi tinh-thần bình-đẳng; nho-gia quan-niệm nam-nữ hữu-biệt, nam-nữ thọ-thọ bất-thân, đạo Da-tô đề-cao phụ-nữ, cổ-võ công-cuộc giải-phóng phụ-nữ; lòng hiếu-để của nho-gia được biểu-thị trong việc thờ-cúng tổ-tiên, đạo Da-tô chỉ cho phép vái lạy một Thiên-Chú. Những chủ-trương tương-phản ấy tạo ra nhiều thái-độ mâu-thuẫn, nhiều hành-động thù-địch không thể hòa-giải được ở thời vua Minh-mệnh. Nói về đạo Da-tô, nhà vua chỉ có những lời phê-bình nặng-nề: “Tả-đạo, dị-đoan, nhất thiết chớ để lừa-dối, mê-hoặc; học-thuyết Da-tô, lại càng vô-lý hơn nữa, thậm-chí nam-nữ hỗn-loạn, hạnh-kiểm như cầm-thú, dấy gian dựng đảng, tự giẫm lên hình-pháp, như vậy là phá-hoại tôn-giáo, làm hư-nát luân-thường…” (Thập-điều B VII, 3) Mở đầu bài Nghĩ nguyên-đạo, bàn về đạo gốc Cao-Bá-Quát cả quyết “ “Đạo chỉ có một mà thôi ! Đạo mà tả thì ô-hô!” rồi kết-luận bằng một lời hô-hào: “Vậy phải làm gì bây giờ? Đất là đất của ta, người là người của ta, đạo là đạo của ta, kẻ kia đã thừa chỗ hở của ta mà vào thì ta chờ chỗ hở của nó mà đuổi ra, mặt trời mọc thì đèn đuốc phải tắt, ánh nắng lên thì tuyết mưa tan, đó là lý-thế tất-nhiên vậy. Ôi! Đạo chỉ có một mà thôi” ([111]). Nguyễn-Công-Trứ kêu gọi:



    [110] Xem Minh-mệnh chính-yếu, dẫn trong Việt-Nam sử-lược của Trần-Trọng-Kim, trang 435

    [111] Cao-Bá-Quát, Chu-thần thi-tập, Nghĩ nguyên đạo, bản dịch chép tay của Lê-Hữu-Mục (đang chuẩn-bị xuất-bản).
  • Đang tải...
  • Chia sẻ trang này