0073.00007

26/1/16
0073.00007
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}


    “Cầm chính-đạo để tịch tà cự bí,

    Hồi cuồng-lan nhi chướng bách xuyên”([112])

    Cũng không ngoài việc tranh-đấu để bảo-vệ chính-học. Không-khí xã-hội thời Minh-mệnh cực-kỳ dao-động chính là vì nho-sĩ ý-thức được trách-nhiệm vệ-đạo của họ, dù có phải “sát thân dĩ thành nhân” ([113]), họ cũng sẵn-sàng.

    Thái-độ của vua Minh-mệnh và triều-thần đối với đạo Da-tô có thể giải-thích được. Nho-giáo là quốc-giáo từ thời nhà Lê; sau ba thế-kỷ suy-vi, nho-giáo được phục-hồi cương-vị cũ vào thời nhà Nguyễn. Tính-cách độc-tôn của đạo nho đối với đạo Phật và đạo Lão đã trở thành hiển-nhiên; một khi sự độc-tôn ấy bị phủ-nhận, nho-gia cũng như các nhà có trách-nhiệm đều phải lên tiếng phản-đối. Sự phản-đối nhắm vào đạo Công-giáo vừa được truyền-bá ở Việt-nam gây ra những phản-ứng dữ-dội, nhất là khi đạo Công-giáo từ bên Tây-phương vốn là một nghịch-lý đối với đân Hy-lạp, một sự bêu dếu đối với dân La-mã và đã từng có nhiều người tử vì đạo như đạo nho. Sự xung-đột càng khốc liệt hơn nữa vì những lý-do chính-trị. Là một người có trách nhiệm đối với dân, vua Minh-mệnh không thể để cho những giáo-sĩ như Marchand([114]) can-thiệp vào việc chính-trị quốc-gia; là vị đại-diện cho danh-giáo, nhà Vua không thể để cho việc quan, hôn, tang, tế được cử-hành theo nghi-lễ ngoại-quốc. Khuyết-điểm của một số nhà truyền-giáo trong thời-kỳ này là đã coi nền văn-hóa địa-phương như một nền văn-hóa có nguồn-gốc ma-quỉ, và nhiều khi các vị thừa-sai đã không hành-động như một giáo-sĩ của Chúa mà như là một nhà nghiên-cứu nhân-chủng-học ([115]). Vua Minh-mệnh không bao giờ công-kích đạo Thiên-Chúa; nhà vua chỉ lên tiếng khi nền văn-hóa Việt-nam bị xâm-phạm, phong-tục Việt-Nam bị khinh-khi. Về phương-diện này, nhà vua đã tỏ ra rất hợp-lễ và đắc-nghi. Về sau, khi vua Tự-đức và nhất là triều-thần tỏ ra dửng-dưng đối với những đề-nghị cải-cách của Nguyễn-Trường-Tộ, chính là vì các vị ấy muốn đề-phòng những tác-quái nguy-hiểm của nền văn-minh vật-chất, nền văn-minh kỹ-thuật, tiến-bộ, hợp-thời, hữu-hiệu thật nhưng phiến-diện, thô-bỉ, trụy-lạc vì dễ tiêu-diệt tinh-thần đạo-đức và thường làm bại-hoại tâm-hồn. Các nhà giáo-dục triều Nguyễn khước-từ mọi hiệu-năng vật-chất, mọi khuynh-hướng bình-giá con người theo tiêu-chuẩn kinh-tế hàng-hóa; họ cam chịu mang tiếng lạc-hậu, chậm-tiến, thiếu sáng-kiến, nhưng tự-hào là thành-đạt khi thực-hiện được đạo-đức ở mình và ở người. Đó là cái “unum necessarium”, cái “ngô đạo nhất dĩ quán chi” mà giáo-dục Tây-phương đã thiếu và vì thế sụp đổ ([116]). Khuynh-hướng sủng-thượng đạo-đức chi-phối tất cả chính-sách giáo-dục, tổ-chức giáo-dục. Việc thi-cử thành-bại cũng tùy-thuộc âm-công. Các nhà giáo-dục tin-tưởng, trong bất cứ xã-hội nào, với bất cứ cá-nhân nào, một khi người ta làm việc lành thì trăm điều tốt, kể cả hạnh-phúc vật-chất, sẽ dược trời ban xuống. Đó là lời trong kinh thư mà vua Thánh-tổ đã dẫn-chứng để kết-thúc Huấn-địch thập-điều, khẳng-định cụ-thể khuynh-hướng đạo-đức của nền giáo-dục mà nhà vua ban-hành cho dân-chúng vào năm 1834.

    Xét về phương-diện đường-hướng, nền giáo-dục nhà Nguyễn mang nhiều tính-chất phong-phú.

    Trước hết là tính-chất thường-xuyên. Giáo-dục phải thường-xuyên cũng như sự tăng-trưởng đối với sự sống; một ngày không giáo-dục là một ngày chết; con người không được giáo-dục là con người tê-liệt. Tính-chất thường-xuyên này làm cho giáo-dục có tính-cách sinh-động, đối-lập với kiến-thức chỉ được coi như là đồ trang-sức tạm-thời. Sự liên-tục của giáo-dục tăng-cường sinh-lực nội-tâm, phát-động công-phu hàm-dưỡng, tập-trung ý-chí thành-thực để phát triển những tình-cảm trọng-hậu của con người. Để bảo-trì tính-chất thường-xuyên ấy của giáo-dục, vua Minh-mệnh muốn tạo-lập một không-khí nhân-nghĩa, chú-trọng đến từng màu sắc của y-phục, từng chi-tiết của lễ-nghi, mục-đích đặt con người trong một hoàn-cảnh thuận-lợi để có thể phát-triển tự-do.

    Thứ đến là tính-chất cộng-đồng. Nền giáo-dục cấp thục đương-nhiên có tính-cách cộng-đồng vì thầy đồ thầy khóa sống ngay trong làng, vừa dạy-dỗ học-trò, vừa làm cố-vấn cho phụ-huynh học-sinh, vừa tham-gia vào mọi hoạt-động của làng khi cần-thiết. Ở một cấp-bậc cao hơn, giáo-dục vẫn duy-trì tính-cách cộng-đồng ấy. Việc cao giọng bình văn ở trường, việc cặm-cụi vác lều chõng đi thi, việc can-thiệp của ông thầy vào sinh-hoạt gia-đình của học-sinh, việc học-sinh thay nhau cáng-đáng việc gia-đình của thầy, nhất nhất đều biểu-lộ tính-chất cộng-đồng quí-báu của giáo-dục. Con người trong nền giáo-dục cổ không bao giờ cô-đơn. Có bạn ở viễn-phương đến, bao giờ cũng là một niềm hoan-lạc ([117]), đó là điều mà Cao-Bá-Quát đã có lần nhắc-nhở([118]). Tuy nhiên, tính-chất cộng-đồng ở đây không hẳn chỉ có tính-cách xã-hội hay kinh-tế; nó chỉ cần được đặt trên nhân-nghĩa, và có nhân-nghĩa là có tất cả.

    Nhờ tính-chất thường-xuyên và cộng-đồng, nền giáo-dục nhà Nguyễn còn có một tính-chất nữa là phổ-thông. Đừng quan-niệm giáo-dục ngày xưa chỉ là thi-cử; thi-cử nhắm vào việc tuyển-trạch nhân tài, những nhà lãnh-đạo, những con người kiệt-xuất, trong khi giáo-dục chú-trọng đến những người trung-bình([119]) để thi-hành những nhiệm-vụ thông-thường; do đấy, giáo-dục chú-trọng đến giới bình-dân, đến giới tráng-niên lao-động. Vua Minh-mệnh đã nói những lời cảm-kích khi bàn về vấn-đề này; vua Tự-đức trong phần phụ-lục, đã căn cứ vào đấy để giải-thích lý-do của việc diễn Nôm.

    Cuối cùng, nền giáo-dục nhà Nguyễn còn có một tính-chất không thể chối-cãi, đó là tính-chất phục-vụ. Giáo-dục phải hướng đến phục-vụ tha-nhân, phục-vụ chế-độ, phục-vụ lịch-sử và dân-tộc. Vua Minh-mệnh đã nhân-danh dân tộc đả-phá ảnh-hưởng của Tây-phương. Lý-Văn-Phức ([120]) Nguyễn-Công-Trứ, nhất là Cao-Bá-Quát đã hưởng-ứng lời hiệu-triệu của nhà vua một cách nồng-nhiệt. Phải đọc Chu thần thi-văn tậpPhương-đình tùy bút lục ([121]), ta mới thấy lời tán-dương của vua Tự-đức: “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán” đã không phải là quá-đáng. Riêng Cao-Bá-Quát trong bài Biện-hoặc thư, luận về những điều nghi hoặc viết năm 1841, đã thấy từ trước, dã-tâm xâm-lược của người Pháp. Sau khi phân-tích những lý-do kháng-ngoại của Ông, Cao-Bá-Quát kết-luận một cách mỉa mai: “Nếu ông đem lời nói của tôi nói lại với tụi Tây, chắc tụi ấy sẽ cười vào bảo rằng: Xảo thay! Xảo thay! Kế-hoạch của chúng ta bị một đứa nhà quê khám-phá”. Đây là chuyện năm 1841; ta đừng lạ tại sao năm 1867, đề-nghị chủ-hòa của Nguyễn-Trường-Tộ bị triều-thần bác-bỏ. Họ không hẳn là những người “trông không rõ, nghe không thấy” như sử-gia Trần-Trọng-Kim đã kết tội ([122]), trái lại, vì không muốn để cho những truyền-thống tốt-đẹp của quốc-gia bị lũng đoạn, những tập-quán lành-mạnh của dân-tộc bị phế-bỏ, họ đã khẳng-khái cự-tuyệt Tây-phương, đồng-thời quyết liệt chống-đối Công-giáo mà họ cho là không nhiều thì ít đã liên-minh với quân thực-dân xâm-lăng. Đã đành, đó là một ngộ-nhận, và điều ấy không hề liên-can đến giáo-hội La-mã, nhưng một số thừa-sai, tưởng là đã truyền-bá đạo Chúa, thực ra mới chỉ đóng vai tuyên-truyền cho văn-hóa Tây-phương([123]).

    Nhận-định về giáo-dục, ta phải khảo-sát và phê-phán những thực-hiện cụ-thể của giáo-dục ấy. Nền giáo-dục nhà Nguyễn đã được áp-dụng như thế nào, và sự áp-dụng ấy có hữu-hiệu không xét về phương-diện thực-tế?

    Trước hết, chính-sách giáo-dục triều Nguyễn đã được thực-hiện như một quốc-sách. Căn-cứ trên những nguyên tắc cổ-truyền, kế-thừa những kinh-nghiệm của triều Lê, hội-ý với các nhà văn-hóa tông-sự tại bộ Lễ, vua Thánh-tổ đã nhận-lãnh nhiệm-vụ trước lịch-sử khi ban-bố Huấn-địch thập điều. Làm thầy dân là bổn-phận trọng-đại nhất của người Vua ([124]), và chỉ có nhà Vua mới liên-kết được kế-hoạch của Lục-bộ, mới hội đủ điều-kiện ban-hành một chính-sách giáo-dục hợp ý trời, thuận tình dân. Sự phối-hợp chặt-chẽ giữa bộ Lễ, bộ Hộ, bộ Binh đã đủ giúp người học-sinh được miễn thuế, miễn dịch và có đủ điều-kiện theo học cho đến khi thành tài. Vì là một quốc-sách, chính-sách giáo-dục nhà Nguyễn hội đủ tính-cách cộng-đồng, phổ-thông, chuyên-nghiệp, được cập-nhật-hóa hàng năm và như vậy, dễ-dàng phù-hợp với tình-trạng đất nước. Chính nhờ thế mà nền giáo-dục thời vua Minh-mệnh đã tỏ ra rất thực-tiễn, chú-trọng đến thực-học, cả nghề-nghiệp nữa, điều mà Nguyễn-Trường-Tộ chỉ đề-cập tới năm 1871, nghĩa là 38 năm sau. Tuy nhiên, đến đời vua Tự-đức, tình-trạng văn-hóa xã-hội đã bị phân-hóa quá mau chóng, việc duy-trì chính-sách giáo-dục thời Minh-mệnh không khỏi gây ra những hậu-quả lỗi-thời, và đấy là khuyết-điểm của nền giáo dục đời vua Dực-tôn.

    2. Nền giáo-dục ấy có những khuyết-điểm nào?

    Trước hết, nói chung về triều Nguyễn, nền giáo-dục chỉ căn-cứ trên triết-lý nho-giáo đã không tránh khỏi được tính-cách phiến-diện. Nếu giáo-dục là giáo-dục con người, thì con người ấy phải là của dân-tộc trước khi là của chế-độ. Nếu cái nhân-nghĩa đầy tính nhân-loại ấm-áp kia dễ trở thành một lòng trung-hiếu khô-khan, và không trở thành không được, thì thực-sự nho-giáo đã bị chế-độ lợi-dụng, đã tự-biến thành một cái bình-phong tráng-lệ để che đậy những tội ác của chính quyền. Sự phiến-diện thường làm cho giáo-dục có tính-cách chủ-quan và độc-tài; nhân-danh giáo-dục, nhà đạo-đức có thể đàn-áp kẻ khác, chém đầu người ta như Tự-đức đã chém đầu Cao-Bá-Quát năm 1854, chỉ vì nhà Nho này không muốn để cho chế-độ sử-dụng nho-giáo như một khí-cụ ([125]), trong khi Nguyễn-Công-Trứ vẫn ngây-thơ phục vụ chính-quyền, tưởng rằng con người của mình chỉ có thể phát-triển trong thái-độ trung-thành tuyệt-đối với nhà vua([126]). Chính vì điểm này mà Thập-điều đã không tránh được sự phê-phán nghiêm-khắc của dân-chúng. Nhà thơ bình-dân đã làm một bài thơ trào-lộng sau đây để chế-giễu việc học-tập Thập-điều và chống-đối tính-cách độc-tài của chế-độ giáo-dục nhà Nguyễn:

    Vui xem hát,

    Nhạt xem bơi,

    Tả-tơi xem hội,

    Bối-rối xem đám ma

    Còn Thập-điều, bỏ cửa bỏ nhà đi mà nghe giảng.

    Một mặt khác, khi vua Tự-đức diễn Nôm bản Thập-điều năm 1870 với mục-đích giáo-dục quần-chúng như trong thời Minh-mệnh thì thực đó là một hành-động không hợp thời. Đã đành là phải bảo-vệ văn-hóa dân-tộc; đã đành là phải đề-phòng những tai-họa của nền văn-minh cơ-khí có thể gây ra; đã đành nữa là không bao giờ đầu-hàng quân xâm-lược và hợp-tác với bọn thực-dân ác-ôn, nhưng cũng không vì thế mà đem nguyên-bản Thập-điều năm 1834 áp dụng cho thế hệ 1870 không thay đổi một chữ. Cái tinh-thần của quan-niệm giáo-dục năm 1834 có thể còn có giá-trị, nhưng bánh xe lịch-sử đã quay nhanh, cơ-cấu xã-hội đã đổ-vỡ, giáo-dục phải được cải-tổ để thích-nghi với tình-thế mới, để đáp-ứng những nhu-cầu đang xuất-hiện và đang biến-thể hàng ngày ([127]). So-sánh nội-dung của Thập-điều với nội-dung của các bản điều-trần mà Nguyễn-Trường-Tộ đã dâng lên vua Tự-đức từ năm 1863 đến 1871, ta có thể thấy tuy cả hai xuất-phát từ một quan-niệm đúng-đắn về giáo-dục, nhưng những chi-tiết thực-hiện đã khác nhau quá xa. Nguyễn-Trường-Tộ nói đến những vấn-đề chưa từng được đặt ra thời Minh-mệnh như vấn-đề du-học-sinh, vấn-đề phiên-dịch các sach ngoại-quốc, vấn-đề khoa-học thực-dụng như cơ-khí, canh-nông. Thiện-chí của vua Tự-đức không thể phủ-nhận; quan-niệm của nhà Vua không hẳn là vô-lý nhất là khi ta thấy kế-hoạch Nguyễn-Trường-Tộ thiếu hẳn một triết-lý giáo-dục làm nền-tảng, tuy nhiên, việc phiên-dịch và ấn-hành Thập-điều chỉ có giá-trị trong phạm-vi phổ-biến một tác-phẩm hay. Đứng về phương-diện giáo-dục, công việc ấy không gây được những ảnh-hưởng mong-muốn.

    C. – Giá-trị văn-chương của bản Nôm

    Đầu tiên, kỹ-thuật phiên-dịch của vua Tự-đức đã tỏ ra xuất-sắc một cách kỳ-lạ. Tinh-thần tôn-trọng cổ-nhân, lòng ngưỡng-mộ đối với vua Thánh-tổ, thị-hiếu dịch-thuật của thời-đại, tất cả đã cung-cấp cho nhà Vua mộ khả-năng diễn-đạt trung-thành và chính-xác hi-hữu. ([128])

    Trước hết, vua Tự-đức chú-trọng đến ý-nghĩa của từng chữ: năng sử dịch là hay khiến (câu 31), hàm-dưỡng là dung-nuôi (câu 33), chính tục là sửa thói (câu 35). Những chữ có ý-nghĩa tương-tự đã được dịch một cách rành-mạch: giáo-huấn dịch là dạy khuyên (câu 35), huấn-địch là dạy bảo (câu 65), giáo-dục là dạy nuôi (câu 90). Họa-hoằn lắm, Hán-tự mới được giữ lại nguyên-hình, còn thường thường được dịch ra tiếng nôm, như cánh bạc tùng trung đã được dịch hoàn-toàn là đổi mỏng theo dày (câu 83) huân thánh mỹ tục là nhiễm nên thói tốt (câu 84), lạc nghiệp phục cần là siêng vui nghề-nghiệp (câu 111). Có khi cả câu chữ Hán đã được dịch ra Nôm và đối chọi nhau từng chữ, như câu nhân-luân minh nhi nhân-đạo lập đã được dịch một cách tài-tình là “đấng người đã tỏ mới nên đạo người” (câu 103); câu bình nhật giáo-hối chi công, khỏi bất đại thả viễn hồ tai, đã được dịch là “chưng công thường buổi dạy khuyên, há chăng chẳng lớn, chẳng bền vậy vay” (câu 281-282). Đôi khi, một vài chữ được thêm thắt để cho câu lục-bát được nên gọn-gàng như trong câu 60 “thật đà tỏ rõ lắm thay, nên dè” hai chữ nên dè không có trong nguyên-văn, cả câu 138 “dòng theo nguồn sạch, bóng tay cây ngay” hoàn-toàn là sáng-tác của dịch-giả. Những phần tăng-bổ ấy vừa có tác-dụng làm cho câu văn gọn-gàng, sáng-sủa, vừa điểm xuyết cho tác-phẩm một vài màu-sắc duyên-dáng, vừa tránh cho câu văn trở thành khúc-mắc khó hiểu vì phải trung-thành quá đáng với nguyên-văn như câu 139(lòng ngay, muôn tốt thửa bày) dịch câu kỳ tâm chính tắc vạn thiện sở do sinh(tâm chính: lòng ngay, vạn thiện: muôn tốt, sở do sinh: thửa bày) làm cho


    [112] Nguyễn-Công-Trứ, Thiên-nam quốc-âm ca khúc, Kẻ sĩ.

    [113] Luận-ngữ, Vệ-linh công XV, 8. Mạnh-tử nói thêm: Xả sinh nhi thủ nghĩa []: bỏ sự sống mà giành lấy nghĩa (Mạnh-tử, Cáo-tử thượng, X)

    [114] Vị cố đạo đã làm cố-vấn chính-trị cho Lê-Văn-Khôi, nổi lên ở Gia-định năm 1833; Cố Merchand (tên Việt-nam là Cố Du) sau bị lăng-trì ở Huế. Về việc tang tế, sách lễ-ký nói: [] tang-tế tùng tiên-tổ: việc tang-tế theo tiên-tổ (Mạnh-tử, Đằng-văn công thượng 11)

    [115] Lời của John Wu trong cuốn Humennisme chinois et spiritualite chretienne, trang 205-222

    [116] John Wu, trong Humennisme chinois et spiritualite chretienne, trang 205-222

    [117] Luận-ngữ, Học nhi I, 1

    [118] Trong bài thơ: “Một buổi hầu rồi một buổi ngơi. Đâu còn nhớ chữ viễn phương lại”.

    [119] Trung dân dĩ thượng, khả dĩ ngữ thượng dã; trung nhân dĩ hạ, bất khả ngữ thượng dã, (Luận-ngữ, Ung-dã, VI)… Duy thượng trí dữ ha ngu bất dị (Luận-ngữ, Dương-hóa XVII).

    [120] Lý-Văn-Phức (1785-1849), người làng Hồ-khẩu, huyện Vĩnh-thuận, tỉnh Hà-Nội (nay là ngoại-ô Hà-Nội), đậu cử nhân năm 1819, được bổ Hàm-lâm biên-tu, thăng tham-tri, bị cách, phải hiệu-lực Tiều tây-dương và sang Tân-gia-ba, đi Áo-môn, sau đi công-cán Lữ-tống, Quảng-đông, rồi lại xuất-ngoại lần thứ ba, thăng Quang-lộc tự-khanh. Có 9 tác-phẩm Hán-văn nói về việc đi sứ hay xuất-ngoại, 5 tác-phẩm nôm trong đó Nhị-thập-tứ hiếu diễn-ca, Tây-sương truyện, Ngọc-kiều-lê-truyện. (Đón xem bản phiên-âm của Lê-Hữu-Mục, sắp xuất-bản).

    [121] Tác-phẩm của Nguyễn-Văn-Siêu

    [122] Xem Việt-nam sử-lược, trang 476. Sự thực, sử-gia Trần-Trọng-Kim đã phê-phán nhà Nho quá gay-gắt và thiên-lệch. Sự thất-bại của dân-tộc ta trước mưu-mô xâm-lược của Pháp là một tình-cờ lịch-sử. Đừng tưởng chỉ có Nguyễn-Trường-Tộ là đã sáng-suốt. Thời-cục quá phức-tạp và biến chuyển quá mau làm cho không một ai trở tay kịp.

    [123] Lời của John Wu, Sđd, trang 222.

    [124] Thiên hự hạ dân, tác chi quân, tác chi sư (Thượng thư, thiên Tần-thệ): trời giúp dân, tìm vua cho, tìm thầy cho.

    [125] Xem bài Nguyên đạo luận, trong Chu-thần thi-văn tập. Nhờ những bài luận này, viết một cách nhiệt-thành và can-đảm, Cao-Bá-Quát đã tỏ ra là một nho-sĩ có ý-thức. Tuy nhiên, không thể căn-cứ vào đấy để xưng tụng Ông là một nhà cách-mạng. Ông là một nhà trí-thức nhập-cuộc, biết lập-ngôn, dám nói thật và có can-đảm chết vì sự tự-do tư-tưởng. Ông là một nhà văn dấn-thân vì lý-tưởng mà J. P. Sartre, tác-giả cuốn Qu’est-ce que la litterature, thường mơ-ước cho nước Pháp

    [126] Nhưng Nguyễn-Công-Trứ chỉ ngây-thơ cho đến năm 1840. Đến năm 1841, Ông đã bắt đầu chỉ-trích, kế-hoạch thực-dân của vua Minh-mệnh bằng cách rút quân từ Trấn-tây về An-giang

    [127] Cái chết bi-thảm của một nhà văn yêu-chuộng tự-do như Cao-Bá-Quát năm 1854 đánh dấu một thời-điểm chuyển-hướng lớn của một trí-thức thế-hệ Minh-mệnh như Lý-Văn-Phức, Nguyễn-Công-Trứ. Chính sách giáo-dục đáng lẽ phải được canh-cải từ thời-kỳ này.

    [128] Xem kỹ phần chú-thích bản Nôm.
  • Chia sẻ trang này