0073.00008

26/1/16
0073.00008
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}


    Độc-giả không thể nào hiểu được ý-nghĩ của tác-giả nếu không đọc nguyên-bản Hán-văn. Như vậy, bản dịch của vua Tự-đức vừa có công phổ-biến một tác-phẩm giáo-dục dời Nguyễn-sơ, vừa đóng góp cho nền văn-học Việt-nam hậu-bán thế-kỷ XIX một áng văn nôm có giá-trị nghệ-thuật vững-vàng.

    Đứng về phương-diện diễn-tả, bản dịch của vua Tự-đức còn là tiếng nói trung-thực của người miền Trung. Tiếng nói ấy có một âm-điệu đặc-biệt quyến-rũ với những từ-ngữ địa-phương như thương (câu 235), mô (đời mô cũng truyền, câu 268, chẳng rời khi mô, câu 452), nhằm (câu 289), nán (câu 352), kêu (câu 484), đặng (đặng thiệt-thà câu 279), những tiếng cổ thường gặp trong tác-phẩm trước thế-kỷ XVIII mà miền Trung hiếu-cổ còn bảo-tồn như mếch (câu 49 và 140), lung-lăm 210), ngợi không(228), sắp (sắp con em, câu 257, sắp trẻ sinh, câu 263), phen (câu 352), nhiêu (câu 366), roi (câu 430). Sự không phân-biệt những âm cuối n/ng, c/t cũng là một đặc-điểm địa-phương không thể không lưu-ý vì đấy là một hiện-tượng ngữ-học có thể chứng-minh được trong cách phát-âm cổ và từ đấy khám-phá ra những định-luật biến-âm-học Việt-nam; những chữ đắc hàng :) đắt hàng, câu 248), biếng nhát :) biếng-nhác, câu 269), phỉnh-gạc ( phỉnh-gạt, câu 305) những :) những, câu 55), khuông :) khuôn, câu 382) mang đến cho câu văn một hương-vị riêng, ngọt-ngào và nồng-nàn; những vần in/giêng (câu 8-9), nên/siêng (câu 296-297), dân/ưng (câu 375-376), ngăn/tăng (câu 403-404) vẫn được các nhà thơ miền Trung tán-thưởng và sử-dụng. Ngoài ra, vì chịu ảnh-hưởng của thân-mẫu là một phụ-nữ tỉnh Gia-định, (Gò-công) vua Tự-đức đã đặc-biệt trân-trọng một số âm miền Nam như mần (câu 388) tới hoài (câu 428), tuông phao (câu 22); câu 394 (chẳng lung chưng khi hung-hoang ngầy-ngà) là cả một sự huyền-bí đối với người Bắc nào chưa di-cư vào Nam.

    Cuối cùng, về phương-diện văn-tự, hình-thái chữ Nôm dùng trong bản dịch đã được điển-chế qui-củ, và đây là công-trình quan-trọng nhất của vua Tự-đức. Trong những bản Nôm cổ như Quốc-âm thi-tập của Nguyễn-Trãi, Hồng-đức Quốc-âm thi-tập đời Lê-Thánh-Tông, qua những bản Nôm của thế-kỷ XVII như Thiên-nam ngữ-lục, Thiên-nam minh-giám của Di-Lư, đến những tác phẩm thế-kỷ XVIII như Lê triều tứ thập thất điều diễn-ca của Nhữ-Đình-Toản (1760), chữ Nôm đã trải qua một quá-trình phát-triển nhất-định mà nhà nghiên-cứu đứng đắn có thể tìm ra những qui-luật cấu-tạo những tương-quan giữa tự và âm, giữa âm và nghĩa. Phần đóng góp của Tự-đức trong công-cuộc điển-chế văn-tự là qui-định những tương-quan giữa âm và nghĩa để có thể xếp chữ Nôm theo bộ môn một cách hệ-thống, công-việc mà Taberd đã làm được một phần năm 1838 trong cuốn Dictionarium Anamitico-latinum (Nam-việt dương hiệp tự-vị). Việc điển-chế của Tự-đức gồm 2 công-tác chính, trước hết là công-nhận những chữ Nôm đã có qui củ từ những thế-kỷ trước như chữ thấy [], Quốc-âm thi-tập viết [] Lâm-tuyền kỳ-ngộ do-dự giữa [] và [], Chinh-phụ ngâm viết [] và đã dược Tự-đức công-nhận dứt-khoát; chữ con [] Quốc-âm thi-tập viết []. Cách thứ hai đặc-biệt hơn Tự-đức thêm vào những chữ đã có những bộ môn thích-ứng như những động tác của chân thì có bộ [], về mắt thì có bộ mục, như chữ xem, trước đấy thường viết [] có âm nhưng không có nghĩa, Tự-đức viết [], chữ nhạn, các bản cũ đều viết [] và tùy-nghi có thể đọc nhạn hay nhãn cũng được. Tự-đức viết rõ-ràng [] nhãn, bộ điểu; chữ [] có thể tùy chỗ đọc là chi, gi, giây, Tự-đức phân biệt chi [] và gì [], những âm đình, đành, dành, dừng, đều viết bằng một chữ [], Tự-đức viết dừng là [], dành [], những âm lo, lơ, lờ, đều viết bằng một chữ [] trong những bản trước, Tự-đức phân biệt lo [], lơ [], lờ []. Nỗ-lực của nhà điển-chế là bắt-buộc mỗi chữ chỉ có một âm, mỗi âm có thể có nhiều chữ tùy theo nghĩa, và phải làm thế nào để khi viết riêng rẽ, chữ Nôm vẫn có thể đọc đúng như âm mà người viết muốn, không như trước kia phải lắp chữ Nôm ấy vào một câu mới có thể đọc được âm, có khi phải suy-đoán mới đọc được. Sự thận-trọng này có thể làm cho chữ Nôm trở thành phức-tạp, như chữ noi, Tự-đức đã phải viết là [] trong khi các bản cũ chỉ viết là [] hay có hi []; chữ quên viết [] trong khi các bản cũ viết là [], nhưng dù sao khi gặp chữ [], ta có thể đọc ngay là gìn, không thể lầm với chiền, giền, gặp chữ [], ta đọc ngay là giúp, không thể lầm với chấp, v.v… Việc điển-chế văn-tự hệ-thống-hóa cách viết giữ Nôm, giúp cho nhà nghiên-cứu sưu-tầm quá-trình biến-thể của văn-tự, nhờ đấy có thể truy-nguyên soạn-niên của tác-phẩm và qui-định một cách chặt-chẽ những thời-kỳ văn-học. Công-trình của vua Tự-đức đáp-ứng đề-nghị dùng chữ Nôm của Nguyễn-Trường-Tộ dâng lên vua ngày 15 tháng 11 năm 1867, và tuy chưa được chấp-nhận chính-thức, chữ Nôm đã được thế-hệ Tự-đức trọng-dụng. Về phương-diện này, hkoong thể nói triều-thần nhà Nguyễn đã bài-bác công-kích những dự-án canh-tân của Nguyễn-Trường-Tộ.

    CHƯƠNG III

    THÂN-THẾ VÀ SỰ-NGHIỆP CỦA TÁC-GIẢ

    A. – Tác-giả Huấn-địch thập điều: Vua Minh-mệnh (1791-1841)

    Nhà vua tên húy là Nguyễn-phước-Đảm, con thứ tư vua Thánh-tổ và bà Hoàng-hậu họ Trần; Ngài sinh ngày đinh-mão (23) tháng 4 năm tân-hợi (26-5-1791), được sách-lập Hoàng thái-tử năm bính-tí (1816), lên ngôi Hoàng-đế năm canh-thìn (1820), niên-hiệu là Minh-mệnh, băng-hà ngày 19 tháng chạp năm canh-tí (11-1-1841), miếu-hiệu là Thánh-tổ Nhân Hoàng-đế, ở ngôi 21 năm, hưởng thọ 51 tuổi.

    Vua Thánh-tổ có tư-chất thông-minh, hiếu-học, chuyên-cần, ưa hoạt-động và có óc cải-cách. Ngài tinh-thâm nho-học, sùng-tín nho-giáo, tính-tình nghiêm-cẩn, thận-trọng, ưa chủ-động trong công-việc, bởi thế, từ chuyên-cần, Ngài dễ trở thành nghiêm-khắc, tàn-nhẫn. Năm 1822, Hà-Tôn-Quyền bị khiển-trách; cũng năm ấy Phan-Bá-Đạt bị giáng-chức, tiếp đến là Hoàng-Quýnh, Phan-Huy-Chú (1838); những người bị cách chức là Nhữ-Bá-Sĩ (1821), Phạm-Hữu-Nghi (1821), Trần-Tú-Dĩnh (1825) Tô-Trân (1826), Ngô-Thế-Vinh (1829), Trần-Ái(1834), còn Lý-Văn-Phức, Thân-Văn-Quyền, nhất là Nguyễn-Công-Trứ thì bị giáng-chức, cách-chức không biết bao nhiêu lần, suốt thời Minh-mệnh; tuy đỗ Á-nguyên năm 1831 Cao-Bá-Quát đã phải kéo dài 10 năm thất-ngiệp cho đến khi vua Thánh-tổ băng-hà mới được ra làm quan. Một nhân-cách dũng-mãnh như vậy dĩ-nhiên dễ trở thành độc-tài; Ngài đã chống-dối dữ-dội đạo Da-tô; thiết-lập Nội-các năm 1829, Ngại thực-hiện chính-sách và chế-độ trung-ương tập-quyền năm 1831, đặt ra Cơ-mật viện, xác-định phẩm-cấp quan-chế, ấn-định lương-bổng của các quan-viên (1839). Tổ chức lại binh-bị, Ngài cương-quyết đương-đầu với những người đối-lập như Phan-Bá-Vành (1826), Lê-Duy-Lương(1833), Lê-Văn-Khôi (1833) Nông-Văn-Vân (1835), thôn-tính Chân-lạp (1835) đổi làm Trấn-tây thành, tuyệt-giao với người Pháp những năm 1822, 1825, 1829. Nhân-cách của nhà cai-trị quả-cảm này đã dược phô-diễn trong khung-cảnh hùng-vĩ của lăng Minh-mệnh và trong những tác-phẩm có giá-trị vào bậc nhất đời Nguyễn-sơ.

    Tác phẩm của Ngài gồm có:

    1) Ngự-chế tiễu-binh Bắc-kỳ nghịch-phỉ thi-tập.

    2) Ngự-chế tiễu-binh Nam-ky nghịch-phỉ thi-tập.

    3) Ngự-chế thi sơ tập.

    4) Ngự-chế thi tam tập.

    5) Ngự-chế thi tử tập

    6) Ngự-chế văn sơ tập.

    7) Ngự-chế văn nhị tập.

    8) Minh-mệnh chiếu, dụ

    9) Thánh-dụ Huấn-địch thập điều (1834).

    B. – Dịch-giả: vua Tự-đức (1829- 1883)

    Nhà vua tên húy là Nguyễn-phước-Thi, con thứ hai của vua Hiến-tổ và bà Từ-dụ, sinh ngày 25-8 năm kỷ-sửu (22-9-1829) lên ngôi báu tháng 10 năm đinh-vị (1847), lấy năm sau là năm mậu-thân (1848) làm Tự-đức nguyên-niên, băng-hà ngày 16-6 năm quí-mùi(19-7-1883), miếu-hiệu là Dực-tôn Anh Hoàng-đế.

    Chân-dung của Ngài đã dược tổng-đốc Thân-Trọng-Huề mô-tả như sau: “Ngài hình-dung như một người nho-sĩ, không cao, không thấp, trạc người bậc-trung, không gầy, không béo, có một phần hơi gầy một tí. Da không trắng không đen. Mặt hơi dài, cằm hơi nhỏ, trán rộng mà thẳng, mũi cao mà tròn, hai con mắt tinh mà lành. Ngài hay chít cái khăn vàng mà nhỏ và mặc áo vàng, khi Ngài có tuổi thì hay mặc quần vàng, đi giày vàng của Nội-vụ đóng. Ngài không ưa trang-sức mà cũng không cho các bà nội-cung đeo đồ nữ-trang, chỉ cốt lấy sự ăn mặc sạch-sẽ làm đẹp.

    Tính ngài thật là hiền-lành… Ngài thờ đức Từ-dụ rất có hiếu; lệ thường cứ ngày chẵn thì chầu cung, ngày lẻ thì ngự triều, trong 36 năm thường thì vẫn như thế, không sai chút nào… Tính Ngài siêng-năng, sáng chừng năm giờ, Ngài đã ra triều… Đức Dực-tôn đã thuộc việc mà lại chăm, cho nên nhiều bữa Ngài bận việc đến chín, mười giờ mới ngự vào Nội… Lệ nước ta xưa nay các quan không được vào chỗ ngự-tọa làm giúp việc cho vua, cho nên việc lớn việc nhỏ, Ngài phải xem cả… Có nhiều tờ phiến Ngài phê dài hơn cả các quan tâu, chữ đã tốt mà văn lại hay, ai cũng kính cái tài của Ngài” ([129]).

    Về học thức, Ngài là một ông vua thông-minh, hiếu-học, sùng-văng, trọng-nho, cho nên Ngài hay cải-cách thi-cử, đặt ra các khoa Nhã-sĩ và Cát-sĩ để chọn người có văn-học, thiếp-lập Tập-hiền viện, Khai-kinh diên để cùng các quan đến bàn-luận sách vở, làm thơ phú hoặc thảo-luận về chính-sự. Về võ-bị, Ngài rất chú-trọng đến binh-chế, tuyển võ-sinh năm 1861, mở khoa tiến-sĩ võ năm 1865, nhưng việc thất-thủ 3 tỉnh miền Đông Nam-kỳ năm 1862, ba tỉnh miền Tây năm 1867, thành Hà-nội năm 1873 đã dồn triều-đình Huế vào một ngả bế-tắc không phương cứu-vãn. Về giáo-dục vừa phiên-dịch Thập-điều, Ngài vừa lắng nghe tiếng nói của Nguyễn-Trường-Tộ, cử nhà cải-cách đi tìm mỏ vàng ở Nghệ-An, Hà-tĩnh năm 1866, gửi Ông sang Pháp để mượn thợ và mua máy móc; về nước năm 1867, Nguyễn-Trường-Tộ lại được nhà vua ủy-thác sang công-cán bên Pháp, bị đau không đi được, Ông lại được tín nhiệm năm 1871 đem học-sinh sang Pháp du-học. Tuy công việc không thành, nhưng chừng ấy đủ để chứng-minh sự chú-ý của nhà vua đối với mọi nỗ-lực canh-tân xứ-sở. Phong trào văn-học chữ Nôm do Ngài nhiệt-thành phát-động đã nói lên việc nhà vua chấp-thuận sử-dụng chữ Nôm như một văn-tự chân-chính. Tuy nhiên, dã-tâm xâm-lược của người Pháp, được một hoàn-cảnh thuận-tiện thúc-đẩy, được những phát-minh khoa-học của Âu-châu ủng-hộ, đã đủ nanh-vuốt để bóp nát con người Việt-nam đang kinh-hoàng trước cơn gió lốc lịch-sử. Vua Tự-đức băng hà giữa lúc bọn thực-dân đang mưu-mô chiếm-cứ kinh-đô. Ngài đã chết trong thất-bại nhưng Ngài đã giãy-giụa đau đớn trước khi nhắm mắt và hình-ảnh cuối cùng ấy đã làm bùi-ngùi những tâm-hồn đồng-điệu với Ngài. Ngày nay, xác thân yên-nghỉ ở Khiêm-lăng, hồn Ngài chắc đã hả-hê khi thấy nền giáo-dục chủ-trí của người Pháp đã suy-sụp từ năm 1940, hiện đang phân-hóa trong một cảnh hỗn-loạn thê-thảm hơn cảnh đổ-vỡ xảy ra trong đời Ngài, chỉ vì nền giáo-dục này đang thiếu cái mà nền giáo-dục kia đã có một cách viên-mãn.

    Cái viên-mãn ấy, ta có thể tìm thấy trong những tác phẩm sau đây của Ngài:

    1) Từ-huấn lục.

    2) Tự-học giải-nghĩa ca.

    3) Khâm-định đối sách chuẩn-thăng

    4) Luận-ngữ thích-nghĩa ca.

    5) Ngự chế thi sơ tập

    6) Ngự chế thi nhị tập

    7) Ngự chế thi tam tập

    8) Ngự chế văn nhị tập.

    9) Thánh-huấn thập điều diễn-nghĩa ca (1870).


    CHƯƠNG IV

    VỊ-TRÍ CỦA HUẤN-ĐỊCH THẬP ĐIỀU

    TRONG LỊCH-SỬ


    Sau khi đã phân-tích Huấn-địch thập điều và trình bày thân-thế sự-nghiệp của tác-giả và dịch-giả, ta cần đối-chiếu tác-phẩm này với những tác-phẩm đồng-tính khác để hội-dủ những dữ-kiện cần-thiết nhờ đấy có thể xác-định vị-trí của vua Thánh-tổ trong lịch-sử văn-hóa giáo-dục Việt-nam.


    A. – Hai mươi bốn huấn-điều của vua Lê Thánh-tôn (1470).

    Hồi đầu năm Hồng-đức (1470), vua Lê Thánh-tôn định ra 24 huấn-điều, đến năm kỷ-mùi, niên-hiệu Cảnh-thống thứ 2 (1499), vua Lê Hiến-tôn minh-định lại, dụ bảo các quan, quân và dân rằng; “Trẫm ngự ngôi trời, kinh theo phép cũ, làm điều hiếu-kính để dựng căn-bản đạo trung-dung, giữ vững cương-thường để mở rộng những điều dạy bảo; người trên làm, người dưới bắt chước, đã đi đến chỗ yên vui, nhưng muốn cho việc trị-an được lâu dài, công-nghiệp tiến lên mãi mãi, vì thế hạ dụ-chỉ này, đặc-biệt nêu rõ từng điều, để lần-lượt ghi vào sổ sách.

    1) Cha mẹ dạy con, phải dùng khuôn phép hợp với lẽ phải; con trai con gái đều dạy cho có nghề-nghiệp, không được để buông-tuồng đắm-đuối vào cờ bạc rượu chè, tập nghề xướng hát, để hại phong-tục.

    2) Người gia-trưởng tự giữ mình lễ-phép tiết-độ để uốn-nắn người trong nhà; Nếu con em trong nhà làm việc trái, người gia-trưởng sẽ bị tội.

    3) Vợ chồng siêng-năng, sẻn-nhặt, sửa-sang công việc trong nhà; đối với nhau có ân có nghĩa không bao giờ thay đổi; chỉ lúc nào người vợ phạm vào tội thất-xuất ([130]), bấy giờ phải dùng lý mà xử-đoán không được quá yêu quyến-luyến dung-túng xuê-xoa, để hại phong hóa.

    4) Con em trong nhà, nên thân-ái với anh em, hòa-thuận với hàng xóm, lấy lễ-nghĩa tự giữ mình; nếu người nào làm trái thì tôn-trưởng dạy bảo bằng cách roi vọt nhỏ để quở-phạt, quá lắm thì cáo-tố để cửa công xét xử.

    5) Ngoài hàng xóm, trong họ-hàng, người nào gặp hoạn-nạn thì nên chu-cấp, thương-xót lẫn nhau. Nếu có người làm việc nghĩa nổi tiếng, các phủ-huyện sở-lại trình với với hai ti Thừa-chính và Hiến-sát xét thực tâu-bày đầy-đủ để được triều đình biểu-dương.

    6) Người đàn bà có lỗi, nếu cha mẹ và chồng có trừng trị, thì phải bỏ hẳn lòng tà, sửa đổi tội lỗi. Không được thuận-tiện tự ý bỏ trốn, có điều trái với đạo làm đàn bà.


    [129] Trần-Trọng-Kim, Việt-Nam Sử-lược trang 473

    [130] Thất-xuất là: không có con, dâm đãng, không kính thờ cha mẹ chồng, lắm lời nhiều điều, ăn trộm ăn-cắp, ghen tuông, có những bệnh như hủi, điên, câm, điếc
  • Chia sẻ trang này