0073.00010

26/1/16
0073.00010
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}


    do hậu-nho viết ra như các sách Ngốc-trai ([139]), Đề-cương([140]) và Trường-sách ([141]), nhất-thiết cấm chỉ. Đầu bài thi về kỳ văn-sách, nên bỏ bớt điều-mục mà cần những điều thiết-thực cốt-yếu, văn cổ thì hỏi đại-lược việc phải việc trái để biết sức học của học-trò; văn kim thì hỏi những sự việc về chính-trị, để xét trí-mưu sáng-tạo của học-trò ([142]). Như thế thì không thể văn nào là không xuất-phát từ lẽ chính-đáng. Tóm lại, đấy là chấn-chỉnh văn-thể để mài giũa hiền-tài”([143]).

    Chủ-trương của Bùi-Sĩ-Tiêm ảnh-hưởng mãnh-liệt đến tư-tưởng của Nhữ-Đình-Toản lúc ấy đã 30 tuổi, vừa đỗ cử-nhân được mấy năm (1727), đang làm chức tự-thừa và đang chuẩn-bị thi Hội. Năm 1736, Nhữ-Đình-Toản đỗ Hội-nguyên tiến-sĩ, năm 1742 làm thái-phỏng lộ Sơn-nam hạ. Năm 1751, có 3 sự-kiện gắn liền với thân-thế của Nhữ-Đình-Toản với thân-thế của Bùi-Sĩ-Tiêm; đầu tiên đó là việc Ông ra đề thi cho các cống-sĩ thi lại ở lầu Ngũ-long; bọn ông Ngô-Đình-Oánh ra đầu bài văn-sách, lại chia ra hỏi nhiều mục (gọi là văn-sách mục), Nhữ-Đình-Toản phản-đối và xin chỉ-chuẩn ấn-định: văn-sách về cổ-văn thì hỏi đại-lược việc phải việc trái, về kim-văn thì hỏi công việc hiện-thời (gọi là văn-sách đạo); đề-nghị của Ông rõ-rệt chịu ảnh-hưởng của Bùi-Sĩ-Tiêm, đã được Trịnh-Doanh chấp-thuận thi-hành. Tháng 6 ta Nhữ-Đình-Toản được lệnh chấn-chỉnh chức-trách các viên quan giữ việc chính-trị; Ông châm-chước điển-lệ lịch-triều, xếp đặt quan-chức phẩm-trật thành từng loại, gọi là “Tấn thân thực-lực” ([144]), đồng thời ban-hành 9 điều nói rõ chức-trách công-việc của các quan trong kinh, ngoài trấn; chỉ đọc điều khoản đầu tiên (giúp đỡ vua làm cho bụng nghĩ của vua được ngay thẳng) ta đã thấy rõ-ràng đó cũng là điều-mục thứ nhất trong Thập-điều của Bùi-Sĩ-Tiêm trình lên Trịnh-Giang 20 năm về trước. Sự-kiện thứ ba là sự kiện liên-hệ đến bản Lê-triều giáo-huấn điều-lệ; ta đã biết trong năm Cảnh-trị thứ 1 (1963), Phạm-Công-Trứ phụng-mệnh làm bản giáo-điều gồm 47 mục, mỗi xã đặt một viên quan, cứ ngày đầu năm vào xã-điền đem giáo-điều đọc cho dân nghe; từ khi trong nước nhiều việc lộn-xộn, việc giảng-giải giáo-điều tường minh chu-chi cho bọn ngu-phu ngu-phụ nghe không được tiếp-tục nữa; năm 1751, Trịnh-Doanh lại hạ-lệnh cho thi-hành việc này, nhưng sự hưởng-ứng của dân-chúng rất yếu-ớt, người ta cho đó như là một việc không đáng để ý đến nữa. Lịch-sử không nói rõ Trịnh-Doanh đã ra lệnh này cho ai thực-hiện, nhưng ta được biết rằng trong lúc này, Nhữ-Đình-Toản đang làm tham-tụng, đến năm 1756 thì cũng như Phạm-Công-Trứ năm 1662, Ông được kiêm-nhiệm điều-khiển Quốc-tử giám và đến năm 1760, bản diễn-nôm Lê-triều giáo-huấn điều-lệ được phổ-biến để rồi đưa Nhữ-Đình-Toản lên Thượng-thư bộ Hộ năm 1761 cũng như việc phát-hành Lê-triều giáo-huấn điều-lệ năm 1663 đưa Phạm-Công-Trứ lên Thượng-thư bộ Lại năm 1664. Cả hai nhà trước-tác, một tác-gia và một dịch-giả, đã có những hoài-bão và một vận-mệnh như nhau: nếu năm 1763, Đỗ-Thế-Giai không trở lại chính-trường để đến nỗi Nhữ-Đình-Toản phải uất-ức xin chuyển sang võ-ban, nếu Ông không chết trước vào năm 1773 mà còn sống đến năm 1782, chắc-chắn Ông sẽ bị quân tam-phủ đến đốt nhà như năm 1764 ưu-binh đến đốt nhà Phạm-Công-Trứ, hoặc ít nhất cũng bị bãi chức như con Ông là Nhữ-Công-Điền tháng chạp năm 1782. Nói cách khác, thời-thế không thuận-lợi nữa cho những giáo-điều có tính-cách quyết-liệt. Tâm hồn dân-chúng đã thay đổi, ao-ước những lời giáo-huấn nhân-loại hơn, có dân-tính đậm-đà hơn, và phù-hợp với thời-thế đang chuyển-mình dữ dội. Việc phổ-biến bản diễn nôm của Nhữ-Đình-Toản rút lại cũng chỉ cung-cấp cho lịch-sử văn-học một tác-phẩm giàu ngôn-ngữ văn-chương hơn là đóng góp cho lịch-sử giáo-dục một kế-hoạch hữu-hiệu. Lịch-sử giáo-dục nhà Lê đến năm 1787 là chấm dứt sau khi được 129 khoa tiến-sĩ và lấy đỗ 1.854 ông nghè.

    C. – vị trí của Huấn-địch thập điều.

    Những nhận-định trên cho ta có thể có một cái nhìn chính-xác về vị-trí của Huấn-địch thập điều do vua Minh-mệnh ban hành năm 1834. Đây không hẳn là những tư-tưởng giáo-dục độc-đáo, cũng không phải là một chính-sách giáo-dục thoát khỏi sự chi-phối của triết-lý nho-gia, nhưng một sự đối-chiếu đầu-tiên xác-nhận vị-trí của thập điều trong trong xã-hội Nguyễn sơ là vị-trí của Nhị thập tứ huấn-điều năm Hồng-đức, nghĩa là một vị-trí hợp-thời, ngoạn-mục. Cả hai chính-sách giáo-dục đã đáp-ứng nhu-cầu thời-thế và có đầy-đủ khả-năng tạo ra một thế-hệ trẻ-trung, khỏe-mạnh, hoạt-động, lạc-quan. Ngược lại bản Lê-triều giáo-huấn điều-lệ năm 1663 và bản diễn nôm của nó năm 1760 đã xuất-hiện bất hợp-thời, phi-lý, thừa-thãi, chẳng khác gì bản Thập-điều diễn-nôm của vua Tự-đức năm 1870 ([145]). Ta ước mong được đọc trong bản giáo-điều 1663 một triết-lý giáo-dục có tính cách tổng-hợp hơn, có màu sắc Việt-Nam hơn, có chủ-trương khai-phóng và dân-tộc hơn cũng như ta mong ước dược đọc trong bản giáo-điều năm 1870 những khuynh-hướng về khoa-học thực-nghiệm, một chương-trình giảng-dạy về nông-chính, thiên-văn, cơ-khí, toán-học, một quyết-định hạn-chế phạm-vi của Hán-văn, chủ-trương sử-dụng chữ Nôm một cách chính-thức.

    Ngoài ra, về phương-diện bố-cục, bản Thập-điều 1834 đã tỏ ra xuất-sắc vượt hẳn các bản giáo-điều có trước nó. Các tác-giả năm 1470 và 1663 trình-bày vấn-đề giáo-dục theo phương-pháp qui nạp, làm cho tư-tưởng rời-rạc, thiếu hệ-thống và vì thế thiếu chính-xác; đó có thể là những huấn-thị có tính-cách hành-chánh hơn là những hiến-chương giáo dục mặc dầu về phương diện này, chưa một ai phủ-nhận, trong khi bản Thập-điều năm 1834 được xếp đặt theo phương pháp diễn-kịch, đi từ nguyên-tắc đến chi-tiết, làm cho hệ-thống tư-tưởng nhất-trí, chặt chẽ, trong đó chính-sách giáo-dục chi-phối toàn-thể tinh-thần bài-văn. Nhờ điểm này, Thập-điều là một hiến-chương giáo-dục thực-sự. Sự-thế đã biến-chuyển quá mau, khiến cho chỉ trong một thời-gian ngắn, mọi giá-trị đã hoàn-toàn bị thay-đổi, nhưng nếu vua Thánh-tổ đã sống đến năm 1870, chắc-chắn Ngài đã ban hành một hiến-chương giáo-dục trong đó ý-kiến của Nguyễn-Trường-Tộ sẽ giữ được tỉ-lệ khả-quan.

    Cho đến nay, vấn-đề giáo-dục được đặt ra từ thế-kỷ trước vẫn chưa được giải-quyết hợp-lý. Trong hỗn-loạn của chiến-tranh, giữa lúc nhiều quốc-gia đang nỗ-lực hướng đến một không-gian khác, người Việt-Nam chúng ta vẫn chưa tìm hiểu được lịch-sử của chính mình. Phải học-tập chính-sách giáo-dục của vua Minh-mệnh để nhận thấy rằng tính-cách bất-phân giữa văn-hóa, giáo-dục, xã hội trong quan-niệm tổng-hợp ngày xưa đã tạo ra được những kết quả rất tốt-đẹp, sự nồng-nhiệt trong hoạt-động, nhưng đồng thời cũng phải ghi nhận những thất-bại của vua Tự-đức để quan-niệm giáo-dục thích-nghi với những tiến-triển của xã-hội, phụ-hợp với những phát-kiến của văn-hóa, vừa duy-trì được bản-chất dân-tộc, vừa có tính-cách khai-phóng để có thể hòa-đồng với các quốc-gia. Việc nghiên-cứu về nền giáo-dục triều Nguyễn cho ta có quyền khẳng-định một sự phân-phối hợp-lý hơn giữa nhiệm-vụ của các bộ Văn-hóa, Giáo-dục và Thanh-niên; nếu phần giáo-dục chuyên môn, chuyên-biệt và khoa-học, kỹ-thuật thuộc phạm-vi của bộ Giáo-dục và Thanh-niên thì phần giáo-dục tổng-quát, giáo-dục nghệ-thuật, giáo-dục bình-dân, tráng-niên, có khi cả giáo-dục cộng-đồng nữa, phải thuộc vào phạm-vi của bộ Văn-hóa. Phải phân-phối rành-mạch như vậy, theo sự chỉ-minh của bản Huấn-địch thập điều, mới chứng-thực được tính-cách phổ-thông của tất cả những gì mà người xưa gọi tổng-quát là giáo-huấn mà bây giờ ta gọi là giáo-dục căn-bản, tráng-niên hay cộng-đồng.

    Bản Thập-điều nếu còn có một ý-nghĩa gì với thế-hệ khoa-học và kỹ-thuật ngày nay, chính là đã khẳng-định được mục-đích của giáo-dục con người, con người cụ-thể, toàn-diện, hiện-hữu giữa xã-hội của mình, mọi người đều có nhiệm-vụ giáo-dục và quyền đắc-thụ giáo-dục ngang hàng nhau, và chỉ có nền giáo dục được quan-niệm một cách dân-bản như thế mới kiến-tạo được một xã-hội hòa-bình, bởi vì hòa-bình, như đã minh-định trong phần kết-luận của bản Thập-điều, là kết-quả đương-nhiên của một chính-sách giáo-dục tốt.

    Với những nhận-định dẫn-nhập này, ta có thể bắt đầu đọc Thánh-dụ Huấn-địch thập điều của vua Thánh-tổ.

    Phần II

    Thánh-dụ huấn-địch thập điều

    CHƯƠNG I

    PHIÊN-ÂM BẢN THÁNH-DỤ

    HUẤN-ĐỊCH THẬP ĐIỀU.

    A) 1. Thánh dụ: Tự cổ, thánh-đế minh-vương dĩ chính-đạo (1) lỵ (2) thiên-hạ, tất dĩ hóa dân thành tục vi tiên vụ [1,2,3,4].

    2. Thân giáo ngôn giáo (3), cụ hữu nghị-hình (4) hữu lự dân chi quan-cảm bất nhất, thị-thính nan tề, tắc thiết vi mạnh-xuân tù-nhân (5) tuẫn-lộ (6), chính-nguyệt (7) châu-trưởng (8) độc pháp chi chế (9), dụng năng gia dụ (10) hộ hiểu, hưng nhượng hưng (11), nhân, dĩ trăn (12) ung-hi (13) du cửu (14) chi thịnh [5,6,7,8,9,10,11,12,13,14].

    3. Ngã quốc-gia triệu cơ (15) Nam phục, thần quyền thánh kế nhị bách dư niên, đức-ý nông-hàm (16), mỹ thành tại cửu [15,16,17,18].

    4. Phụng ngã Hoàng-khảo Thể-tổ Cao-hoàng đế đại-định chi hậu, hưng học-hiệu dĩ dục tài, ban điều-lệ dĩ chính tục, thiện chính thiện giáo, tiếp (17) vu dân-tâm, thường đạo chi trinh (18), thất (19) hưu tiền-cổ [19,20,21,22,23,24].

    5. Trẫm phi thiệu (20) hồng-đồ (21), suất tuần đại-biện (22), thâm tư phú nhi hậu giáo chi nghĩa (23), hướng lai tuy điêu phủ sái (24), giảng xá quyên tô (35), quyền-quyền (26) dĩ huệ-dưỡng (27) lê-nguyên (28) vi niệm [25,26,27,28,29,30].

    6. Tuy vị năng sử ngô dân hàm trăn phủ-thứ (29), nhiên nhi hàm-dưỡng an-dật (30), kinh kim thập hữu ngũ niên hĩ, giáo-huấn chính-tục, đản (31) duy kỳ thời [31,32,33,34,35,36].

    7. Tiết kinh (32) du lệnh chư địa-phương, liêm-phỏng (33) hiếu-thuận tiết-nghĩa, nhất hữu tấu thượng, tức hậu-gia tinh-tưởng, dữ phù hiền-lương phương, chính chi sĩ, diệc mệnh sở-tại sưu-cầu (34), thực duy khuyến-lệ (35) hữu phương, dĩ vi nhân-tâm phong-tục chi kế (36) [37,38,39,40,41,42,43,44].

    8. Trọng niệm dân (37) di vật tắc (38), cụ thử tri năng, chuyên-trất bồng-lư (39), rất hữu trung-tín, kỳ gian thành-phác thuần-hậu (40), cố bất phạp (41) nhân, nhiên diệc hữu khi-bẩm sở tế, vật-dục sở hôn, thị dĩ bất khả vô giáo [45,46,47,48,49,50].

    9. Trẫm thường duyệt Hình-bộ sở thượng án quyền (42), kiến hữu ngoan-minh vô-tri, khinh-phạm pháp-võng, thành khả căng-lân (43), trâm-tâm thù (44) sở bất-nhẫn (45) [51,52,53,54].

    10. Thả thư vô-lại ác-ôn (46), cập cuồng-giảo bất-sinh (47) chi đồ, mỗi hữu cảm hành bất-quỹ (48), tùy


    [139] Ngốc trại thập khoa sách lược, do Lưu-Định-Chi nhà Minh biên-soạn

    [140] Sách học đề cương, do Chúc-Nghiêu nhà Nguyên biên-soạn.

    [141] Tứ-đạo trường sách: không rõ tác-giả

    [142] Đề xét trí-mưu sáng-tạo của học-trò, đó là một ý-tưởng rất mới cần phải nghiên-cứu một cách đầy-đủ hơn nữa trong một tác-phẩm.

    [143] CM, Chính-biên XXXVII, 19

    [144] Phan-Huy-Chú, tỏng Nhân-vật chí, ghi là Bách quan chức trưởng, nhưng trong Văn-tịch chỉ lại ghi là Bách tư chức trưởng

    [145] Thực ra, chính vua Tự-đức cũng định cải-cách việc học và phép thi đó là nhan-đề một bài nghiên-cứu lịch-sử của Hoa-Bằng đăng rtong báo Tri-Tân số 32 ngày 21-1-1942. Theo bài dụ năm 1850 vua Tự-đức đã nhận đúng về tình-trạng giáo-dục đương-thời như sau: “Khoa-mục mở rộng trải lâu năm rồi, nhiều sĩ-phu bấy lâu nhờ ơn giáo-dục đều được hun-nung, nắn-đúc. Đáng lẽ nhân-tài ngày càng thịnh hơn thuở trước mới phải! Thế mà cần lấy hạng thực-tài trong đám kẻ sĩ lựa chọn được trong khoa gần đây lại thấy khác hẳn những bậc thực-học ở khoảng năm Minh-mệnh. Năm trước, Trẫm đã thân ngự nơi hiên, ra chế-sách để lượm lặt được rộng, hỏi-han được nhiều, song những bài vở đình-đối bấy giờ chỉ là nhưng văn phù-phiếm sơ-lược chứ không phải những văn thực-dụng thiết-yếu… Ôi! Trong vòng mười bước tất cả cỏ thơm; thiên-hạ rộng-rãi há lại không có kỳ-tài? Song khoa-mục rộng hơn trước mà nhân-tài lại dần dần không bằng xưa, phải chăng là do phép thi còn chỗ không tinh-mật, ngạch giải-khôi có lẽ phần nhiều còn phiếm và lạm, nên mới đến nỗi thế?” Xem như trên, không thể kết-luận vội-vã rằng vua Tự-đức đã không thấy những khuyết-điểm của chế-độ giáo dục đương thời và càng không thể qui tội cho nhà vua đã không chú-ý đến những bản điều-trần của Nguyễn-Trường-Tộ như những ông Lê-Thức, Nguyễn-Trọng-Thuật, Đào-Đăng-Vỹ, Nguyễn-Lân, Hoa-Bằng đã kết-án
  • Chia sẻ trang này