0073.00013

26/1/16
0073.00013
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}


    gìn lễ-nghĩa, liêm-sỉ, lâu ngày, tâm-địa thuần-lương, mỗi ngày một tiến đến chỗ thiện, cao thì có thể thành tài đạt đức, làm vinh-hiển cho môn-lư, thấp thì thấp cũng không mất cơ-hội làm một người lương-dân, bảo-thủ gia-nghiệp; cái công-trình giáo-hối hằng ngày há không to-lớn và xa-rộng hay sao? [273,274,275,276,277,278,279,280,281,282].

    4) Con nhỏ cháu dại, tất cả những gì của thánh nhân đều phải dạy, chương Thiếu-nghi, chức đệ tử, chỗ đến của người quân-tử là phải nghiêm-trang. Mạnh-tử nói: “Ở nhân-dật mà không dạy thì gần với cầm-thú. Các ngươi không nên sao-nhãng điều ấy”. [283,284,285,286,287,288,289,290].

    VII. Tôn-sùng chính-học.

    1) Sở-dĩ học là học làm người, cho nên không thể có một người vô-học trong thiên-hạ, cũng như không thể sống một ngày không học, bởi vậy, cái sở-học của ta càng không thể không chính-đáng. [291,292,293,294,295,296].

    2) Trẫm mong triệu-thứ các ngươi tôn-sùng chính-học, giảng-minh nhân-luân, đạo Nghiêu Thuấn chỉ là hiếu-đễ mà thôi, giáo-dục Khổng Mạnh chủ-trương nhân-nghĩa trước hết, đấy là những điều phải giảng vậy. [297,298,299,300,301,302].

    3) Tả-đạo dị-đoan, nhất thiết chớ để lừa-dối mê-hoặc; học-thuyết Da-tô lại càng vô-lý hơn nữa, thậm-chí nam-nữ hỗn-loạn, hạnh-kiểm như cầm-thú, dấy gian dựng đảng, tự giẫm lên hình-pháp, như vậy là phá hoại tôn-giáo, làm hư-nát luân-thường, lại càng không nên tin. Nếu đã bị đạo ấy dụ-dỗ, nên mau chóng cải-trừ; phàm quan, hôn, tang, tế, tất phải được cử hành theo quốc-lễ; đã không bị mê-hoặc về đường khác thì tự mình có thể quay về chính-đạo [303,304,305,306,307,308,309,310,311,312,313,314,315,316,317,318].

    4) Nghề làm học-trò là tụng-tập Thi, Thư, tự biết nghĩa-lý, đến nhà binh, nhà nông, thợ-thuyền, nhà buôn, há đâu tất cả đều đọc sách biết chữ, bởi vậy, khi thấy người nào nói điều lành, nên vui-vẻ nghe theo, thấy người nào có hạnh-kiểm tốt, nên bắt chước làm ngay, yêu mến đức tốt, không mất bản-tâm, vào thì đủ để phụng-sự phụ-huynh, ra thì đủ để phụng-sự trưởng-thượng, cái học của thánh-hiền cũng không ngoài những điều ấy. Mạnh-tử nói: “Dẹp tà-thuyết, chống nết xấu, buông bỏ lời dâm-ô”. Trẫm mở lời dạy-dỗ thành-thực, thiết-tha, chỉ muốn ơn-huệ tốt lành cho dân, các ngươi nên kính-cẩn mà nghe. [319,320,321,322,323,324,325,326,327,328,329,330,331,332,333,334].

    VIII. răn giữ lòng dâm.

    1) Người ta sinh ra giữa trời đất, điều đáng quý là ở chỗ giữ tính-tình ngay-thẳng, không lả-lơi dâm-đãng, điều đáng quý là ở đường lành mà không sa vào vòng tà-ngụy. Trong sự giao-tế nam-nữ, tình-dục rất dễ mê-hoặc, nếu không dùng lễ đề-phòng, thì đầu mối của nó tuy rất nhỏ mà cái họa gây ra lại rất lớn; thù-hấn ở đó mà phát sinh, ngục-tụng từ đó mà khởi đầu, há không biết tường-tận mà giữ-gìn ngăn-cản hay sao? [335,336,337,338,339,340,341,342,343,344,345].

    2) Lâu nay, Trẫm đặc-biệt ban thưởng cho những tiết phụ trinh-nữ ở các địa-phương, hoặc cho kiến-lập từ-sở, hoặc đem ban-phát biển-ngạch, để khuyến-khích những người trinh-tiết trong thiên-hạ. Mong các ngươi là phụ-mẫu, huynh-trưởng, các ngươi biết giáo-hối tử-đệ, nam-giới thì lấy lễ-phép ngăn mình, nữ-giới thì dùng trinh-tiết giữ mình, cái tình giữa nam-nữ chính-đáng thì trăm ơn phúc đã tập-trung ở đấy vậy. [346,347,348,349,350,351,352,353,354,355,356,357,358].

    3) Như bọn cường-hào cậy vào thế-lực mà xâm-lăng, điêu-trá, giảo-hoạt mà thao-túng thì thực là rất nguy-hại cho người bình-dân; lại như quân vô-lại du-côn, quen làm điều bất thiện, trước khi phá tủ, xoi vách, quen thì xúi người gây sự, những hành-động ấy, thiên lý sẽ không buông tha, quốc-pháp sẽ không dung-thứ. Kinh Thư chép: “Đạo trời, làm lành thì được phúc, làm điều dâm thì mắc họa”. Nếu có phạm những điều ấy, các ngươi nên mau tự biết sợ-hãi, hối-cải, đổi dữ về lành, cùng nhờ vào nơi nuôi-dưỡng lẫn nhau, yên vui với nhau. Và trăm họ nên suy-niệm về điều này. [359,360,361,362,363,364,365,366,367,368,369,370,371,372].

    IX. – Cẩn-thận giữ phép.

    1) Triều đình ở với dân, muốn cho dân trọng-pháp, không muốn cho dân phạm-pháp. Dân của ta phải biết giữ pháp thì sau mới ít tội, không đúng vào tội-lệ mới hoàn-thiện được đời sống của mình, do đấy, pháp-kỷ được thiết-lập chính là vì dân; các ngươi không suy-tư về điều ấy để thân-trọng về việc giữ phép hay sao? [373,374,375,376,377,378,379,380,381,382].

    2) Trẫm báo-cáo cho trăm họ các ngươi biết, các phụ-huynh trong gia-đình phải giáo-dục tử-đệ, các trưởng-chính ở hương-thôn phải răn đe dân-chúng, mỗi người phải lấy pháp-luật chuyển nhau giải-thích rõ-ràng, đừng khinh-mạn phép nước mà làm liều, chớ rời bỏ phép nước mà dễ-dàng phạm tội. [383,384,385,386,387,388].

    3) Như biết luật trừng-phạt những người bất đạo bất hiếu thì không dám làm những việc chống đối đạo thường, xúc-phạm lẽ phải; nếu biết luật cấm đấu-ẩu nhương-đoạt, thì không dám mặc sức để xổng cái tính cường-bạo, lăng-loàn; biết luật cấm gian-dâm đạo-thiết thì biết ngăn-ngừa những cái hẹp-hòi quanh-quất trong lòng; biết luật cấm việt-tố, vu-cáo, tất biết dổi thói quen ưa kiện-tụng; biết thuế-khóa đã tự có định-ngạch thì chớ tìm cách nắm giữ tất cả mà thiếu tiền đóng góp; biết tội giấu người phạm-pháp thì bị liên-can, tất chớ thông-đồng với nhau mà oa-tàng những người phạm-pháp tại đào. [389,390,391,392,393,394,395,396,397,398,399,400,401,402].

    4) Phàm những gì công-pháp cấm-đoán đều nên thận-trọng tránh đi, tự biết trừ-khử ngụy-vọng, tiến lên tu-sửa cho lương-hảo. Kinh Thư chép: “Mọi người giữ điển để được ơn trời”. Như thế, dưới có cái may phong-hóa được lan rộng, trên có nền chính trị trong đó hình-phạt được bãi bỏ, như vậy không thịnh-vượng hay sao? [403,404,405,406,407,408].

    X. Quảng-bá đức-hạnh

    1) Nhà nào tích-thiện tất có thừa-phúc, vì thiện là phúc tập-trung lại, cái gọi là thiện không có gì khác, chẳng qua là hiếu-đễ, trung-tín, nhân-nghĩa, lễ-trí mà thôi. Nay Trẫm dạy dân-chúng các ngươi, không nói đến việc phải biết hết các điều kể trên, chỉ nói tới cái đạo di-luân thường dùng hằng ngày thì đại-lược không ngoài những điều ấy. [409,410,411,412,413,414,415,416,417,418,419,420].

    2) Sĩ-thứ quân-nhân, các ngươi nên kính-cẩn nghe theo lời Trẫm, gắng sức tiến đến cõi thiện, hôm nay làm một việc thiện, ngày mai làm một việc thiện, lâu ngày thì thực-hiện được ở mình, tính thiện mới có thể quảng-bá âm-đức, tự-nhiên tai-ương không xẩy ra, phúc-lộc tìm đến hằng ngày, nếu báo-ứng hơi chậm, thân mình chưa được vinh-hiển, thì tử-tôn tất cũng được nương-nhờ ơn phúc thừa-dư sẵn có mà phát-triển thịnh-đại đến vô-cùng. [421,422,423,424,425,426,427,428,429,430,431,432].

    3) Kinh Thư chép: “Làm lành, trăm điều tốt được ban xuống”. Tất cả các ngươi nên thể theo ý Trẫm, đôn-đốc thi-hành đường thiện không trễ-nải, cho đến khi tính-mệnh của mỗi người được chính-đính, bảo-vệ được nền thái-hòa, cùng nhau đạt tới đường nhân cõi thọ, vẻ-vang lắm thay! [433,434,435,436,436,438,439,440].


    CHƯƠNG III

    SƯU-GIẢNG BẢN THÁNH-DỤ

    HUẤN-ĐỊCH THẬP ĐIỀU.

    (1) Chính đạo: Con đường đưa thẳng đến chân-lý, ở giữa không xiên-vẹo. Ở đây là đạo Nho, đạo Khổng Mạnh. Thơ Nguyễn-Công-Trứ: Cầm chính-đạo để tịch tà cự bí.

    (2) Lỵ []: tới để thăm hỏi coi sóc một người dưới quyền, đi thanh-tra, kiểm-soát, đôn-đốc, giữ một nhiệm-vụ hành-chánh để điều-khiển dân-chúng. Lỵ thiên-hạ: Cầm-quyền cai-trị dân-chúng. Hóa dân thành tục [] (Lễ-ký, Học-ký, XVI, 1) nghĩa là làm cho dân-chúng được tiến-bộ, được văn-minh hơn, cho phong-tục được tốt-đẹp và hoàn-toàn. Xem lịch sử giáo-dục Việt-Nam của Lê-Hữu-Mục, bản quay rô-nê-ô, Đại-học Sư-phạm Sài-gòn 1965.

    (3) Thân-giáo ngôn giáo: []: Dùng con người của mình, cuộc đời của mình như một thí-dụ sống-động để dạy người (mình làm trước, chúng dõi sau) rồi dùng lời nói để dạy (thêm lời dạy dỗ). Giá-trị không thể chối cãi được của giáo-dục nho-gia là đề-cao gương-mẫu và chính nhờ đấy mà hiệu năng của giáo-dục tùy-thuộc vào uy-tín của các bận sư-phó.

    (4) Nghi hình []: Khuôn-mẫu để cho người ta theo đó mà bắt chước.

    (5) Tù nhân []: Quan truyền-lệnh của nhà vua cho nhân chúng biết, như chức heraut bên Âu-châu (có quan ra lệnh) Tục-lệ truyền-lệnh đã có từ thời thượng-cổ, đã được nói tới trong Kinh Thư: [], mỗi tuế mạnh xuân, tù nhân dĩ mộc đạc tuẫn vu lộ: mỗi năm mùa xuân, quan truyền lệnh vua gõ mõ đi khắp các nơi (Thượng Thư II, Hạ-thư 4, Dận-chinh 3).

    (6) Tuần lộ (hay tuận lộ): Đi trên các ngả đường (rao lên khắp đường). Hằng năm, tháng đầu xuân, viên giữ lệnh lấy mõ gỗ rao ở đường; các quan các thầy khuyên nhau; các thợ đem nghề mình để can-ngăn. (Thượng Thư, Dận chính, bản dịch của Nhượng-Tống, trang 58).

    (7) Chính nguyệt: Đúng ra phải đọc là chinh-nguyệt, tức là tháng giêng, tháng đầu năm, chính âm giêng là do âm chinh mà ra, vã giữ giêng, chữ Nôm viết là [], gồm chữ chinh bên phải và chữ nguyệt bên trái. Thiên Nguyệt-lệnh trong Lễ-ký, điều 12 chép: [] mệnh tướng bố đức hòa lệnh, nghĩa là nhà vua ra lệnh cho các quan phổ-biến các huấn-thị của triều-đình, phối-hợp và ban-hành các quyết-nghị.

    (8) Châu-trưởng: Hiểu theo tổ-chức hành-chánh đời Gia-long, châu là một huyện ở miền thượng-du, đứng đầu là một Tri-châu. Ở đây, danh-xưng châu có tính-cách tổng-quát và chỉ bất cứ một đơn-vị hành-chánh nào có thể là tổng, xã, thôn, và như vậy, châu-trưởng là người đứng đầu đơn-vị hành-chánh ấy, có thể là cai-tổng, xã-trưởng v.v… Tự-đức dịch châu-trưởng là quan lớn ở châu làng (câu 11)

    (9) Độc-pháp chi chế: Độc là đọc to tiếng cho mọi người nghe. Pháp chi chế, là chế-pháp, tức là lời của vua nói về một luật-lệ, một chính-sách (chế-thư, chế-sách), hay phong-thưởng cho một công-thần nào (chế-văn).

    (10) Gia dụ: Dụ nghĩa đầu tiên là hiểu, như nói: “Quân-tử dụ vu-nghĩa [] (Luận-ngữ), quân-tử hiểu điều nghĩa, sau mới có nghĩa là bảo rõ, nói rõ-ràng cho người ta hiểu bằng sự so-sánh thực-tế, như nói: “Bất ngôn nhi dụ [] không nói mà rõ. Gia dụ là nhà nào cũng biết rõ những lời dạy-dỗ của nhà vua, đối với hội hiểu là cửa nào cũng được ánh sáng mặt trời buổi sáng chiếu vào, ai ai cũng thấu-triệt huấn-dụ của nhà vua đã ban xuống.

    (11) Hưng: Dấy, làm cho nổi bật lên.

    (12) Trăn: Đến, đi tới, đạt được.

    (13) Ung-hi: Hòa-hợp, vui-vẻ tốt-lành.

    (14) Du cửu: Lâu-dài, bền-vững không bao giờ hết.

    (15) Triệu cơ: Đặt nền móng.

    (16) Uông hàm: Thấm-nhuần sâu-xa, rộng-lớn.

    (17) Tiếp: Thấm khắp. Thiện chính thiện giáo, do câu: thiện chính bất như thiện giáo chi, đắc dân dã, (Mạnh-tử, Tậm-tâm thượng, XIV) nghĩa là: chính-trị hay chẳng bằng giáo-dục hay, được lòng dân hơn.

    (18) Trinh: Cứng-cắt, rắn-rỏi, vững-vàng, trong-sạch.

    (19) Thất: Giống như, phù-hợp với, (tày).

    (20) Phi thiệu: Nhận nối theo.

    (21) Hồng-đồ: Nghiệp lớn, tức ngôi vua (cơ-đồ lớn).

    (22) Suất tuần đại biện: Theo phép lớn (suất tuần: nối noi; đại-biện: phép tắc thừa).

    (23) Xem Luận-ngữ, Tử-lộ, VIII, 9.

    (24) Tuy điêu phủ soái: Làm cho những chỗ những người tan-tác rạc-rầy được yên, vỗ-về những người đau-ốm bệnh-hoạn (tuy phủ: yên vỗ).

    (25) Giáng xá quyên tô: Tha tội cho các tù-phạm và miễn thuế cho dân-chúng.

    Chính-sách thuế-vụ của vua Thế-tổ (vua Gia-long) và Thánh-tổ(vua Minh-mệnh) đã tỏ ra hợp-lý và hữu-hiệu. Trừ thuế đinh có định-lệ tùy theo vị-trí của từng trấn (nội-trấn, ngoại-trấn…) thuế điền được chia ra làm ba hạng tùy theo giá-trị của ruộng và được áp-dụng uyển-chuyển thùy theo năm được mùa hay mất mùa. Đại-để, lệ giảm thuế có thể như sau:

    Ti-le-giam-thue.jpg
  • Đang tải...
  • Chia sẻ trang này