0073.00014

26/1/16
0073.00014
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}


    Về luật-pháp, bộ Luật Gia-long khởi-thảo năm 1811, ban-hành năm 1815, gồm 22 quyển, 398 điều, được bộ Hình áp-dụng rộng rãi, những tội nặng, án ngờ thường được duyệt lại, những tù giam ngục cấm được xét kỹ (Trần-Trọng Kim, VNSL, 411).

    (26) Quyền quyền: Chăm-chăm giữ lấy ở trong lòng bàn tay không buông ra, khư-khư không rời bỏ. Câu này được Tự-đức dịch rất hay là đau đáu.

    (27) Huệ dưỡng: Do câu: Kỳ dưỡng dân dã huệ [], cái để nuôi dân là tình thương. Tự-đức dịch: Ra ơn nuôi giúp, biểu-lộ tình thương dân một cách thiết-thực bằng cách nuôi-dưỡng và giúp-đỡ họ trong đời sống vật-chất.

    (28) Lê nguyên: Lê là màu đen, lê-dân là dân đen, nguyên là đầu, đầu tiên, cái thiện là đức-tính đầu tiên nen nguyên cũng có nghĩa là thiện, vì vậy, người dân thường gọi là thiện-nhân, dân-lành, và gọi ngược lại lê nguyên là dân lành, dân đen,

    (29) Hàm trăn phú thứ: Hết thảy mọi người đều trở thành giàu có, con cháu đông-đúc. Phú là có nhiều tiền của (giàu vui) thứ là nhiều người, nhiều con cháu (đông-đảo). Chữ hàm trăn được Tự-đức dịch rất đúng là nơi nơi… nhà nhà. Chữ phú-thứ nghĩa là giàu có đông-đúc lấy trong Luận-ngữ, Tử-lộ, XIII, 9.

    (30) Hàm-dưỡng an-dật: Tự-đức đã dịch từng chữ là dung nuôi thảnh-thơi (xem lời chú số 6 bản quốc-ngữ, câu 33). Mục-đích của nền giáo-dục cổ nhắm vào việc đào-tạo con người luân-lý đạo-đức, sống bằng tinh-thần, bởi vậy, câu văn này chú-trọng vào việc đề-cao sự hàm-dưỡng an-dật, đào-tạo một tâm-hồn ung-dung, nhàn-nhã, phóng-khoáng, tự do, không bị chi-phối bởi bất cứ một cái gì, kể cả đam-mê cá-nhân.

    (31) Đản: Thật sự, thật là. Đản duy kỳ thời: thực là đã đáng buổi này, thực chỉ có lúc này mà thôi, ta ghi nhận nhiềm xác tin của các nhà lãnh-đạo phong-kiến vào chính-sách giáo-dục của họ.

    (32): Tiết-kinh: Từ lâu, đã lâu.

    (33): Liêm phỏng: Nguyên là chức Án-sát-sứ bên Trung-Quốc, được Hồ-quý-Ly áp-dụng ở Việt-Nam năm Canh-thìn (1400). Các Liêm-phỏng-sứ chia nhau đến các lộ, bí-mật dò hỏi về quan-lại kẻ hay người dở, về dân-gian việc lợi việc hại rồi về Triều làm sớ tấu đề-nghị giáng-truất hay cất-nhắc quan-lại (CM, chb, XI, 37).

    Từ năm 1831, việc liêm-phỏng được giao cho Tam-pháp ty gồm có Bộ Hình, Đại-lý tự và Đô-sát viện, những cơ-quan tư-pháp đời Minh-mệnh, Bộ Hình có nhiệm-vụ kiểm-soát hình-sự trong toàn-quốc, phúc-duyệt các bản-án đã chung-quyết, thụ-lý những vụ án mà Hoàng-đế có đặc-chỉ giao Bộ Hình kết nghĩ, kiểm-soát chế-độ lao-tù. Nhiệm-vụ của Đại-lý tự được thiết-lập năm 1831 là xử phúc-thẩm một số bản án quan trọng, thụ-lý những vụ kiện hà-lạm tham-tang, áp-chế, bức-sách. Đô-sát viện được thiết-lập năm 1832 có nhiệm-vụ chỉnh-đốn lề-lối làm việc của quan-lại, cho nghiêm phong-tục và pháp-chính (theo Nguyễn-Sĩ-Hải, Tổ-chức chính-quyền trung-ương thời Nguyễn-sơ, bản quay Roneo năm 1962, trang 163,213,221). Ngoài ra, việc điều-tra về đời sống luân-lý, kinh-tế của dân-chúng được giao cho các Trưởng cơ-quan địa-phương để tìm kiếm những người hiếu-thuận, tiết-nghĩa, hiền-lương, phương-chính.

    (34) Sưu-cầu: Tìm-kiếm.

    (35) Khuyến-lệ: Dùng lời nói và mọi hình-thức khen thưởng để thúc đẩy dân-chúng sống đạo-đức.

    (36) Chí kế: Kế lớn, những phương-thức, đại qui-mô.

    (37) Dân di: Di là thường, cái gì thông-thường nhưng không tầm-thường mà người ta thấy hằng ngày, có thể hỗn-phận với cái như-thực, đối-lập với cái kỳ-dị, lập-dị, phóng-cuồng, quái-đản; do đấy, di trở thành định-luật cho những người muốn sống một cách giản-dị như mọi người, hợp-nghi, trúng-tiết, phục-lễ, cẩn-trọng, nghiêm-túc, nghĩa là cổ-điển, sống theo lý-trí, không buông-xả theo tình-cảm. Chính vì thế mà danh-xưng di-luân đã được dùng để đặt cho Đại-giảng đường của Quốc-tử-giám, điện Di-luân.

    (38) Vật tắc: Định-luật, qui-củ của tất cả những gì có trong trời đất. Chữ trong kinh Thi: Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc (Thơ chưng-dân, thiên Đại-nhã). Xem lời bình của Khổng-tử trong sách Mạnh-tử, Cáo-tử thượng VI.

    (39) Chuyên trất bồng-lư. Lư là lều cỏ, lợp tranh, bồn là một thứ cỏ, thân cao hơn một thước ta, lá như lá liễu, có răng cưa, hoa rất nhỏ, màu trắng, mùa thu thì chết khô, rễ bật lên, gió thổi bay đi nên gọi là phi bồng, bồng bay. Bồng-lư là lều được lợp bằng cỏ bồng, chỉ nhà rất nghèo, chuyên trất là đóng kín, xa-xôi hẻo-lánh. Tự-đức dịch là nhà tranh quạnh, dịch rất hay và sát nghĩa. Chữ tất-hữu trung tín lấy trong Luận-ngữ V, Công-Dã-Tràng, 27.

    (40) Thành-phác thuần-hậu: Thực-thà, mộc-mạc, đều-đặn, dày-dặn, những đức-tính của người dân quê, và cũng là những đức-tính nhân-loại phổ-biến vì những đức tính ấy gắn liền với con người. Đây không phải là một lý-luận mỵ-dân mà là một nhận định đặt cơ-sở trên tâm-lý tự-nhiên. Điều này giải-thích tại sao các Nho-sĩ chân-chính dễ có khuynh-hướng thân-dân đề-cao lao-động như trường hợp Nguyễn-Trãi (ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày), Nguyễn-Khuyến (chú Đáo bên đinh lên với tớ…)

    (41) Bất phạp: Không thiếu.

    (42) Duyệt Hình bộ sở thượng án quyền: Bộ Hình là một trong Lục bộ, chưởng-lý pháp-luật, qui-định hình-phạt để cho hiến-pháp được nghiêm-túc. Án-quyền: Tức là các tập tấu, các tấu-bản đóng thành tập do Bộ Hình đệ-trình Hoàng-đế ngự-lãm và phê-thị. Lời phê được viết bằng son đỏ nên các tấu-bản được ngự-phê còn được gọi là châu-bản. Việc đọc kỹ các phiến tấu (tấu-bản ngắn, chỉ gồm một tờ giấy) và tập-tấu như vậy gọi là duyệt.

    (43) Căng-lân: Thương xót (thương tình).

    (44) Thù: Rất, lắm. Tự-đức dịch là mười phân. Trẫm tâm thủ sở bất nhẫn: lòng Trẫm rất lấy làm bất-nhẫn về điều ấy. Tự-đức dịch: Lòng người chẳng nỡ chẳng đành mười phân.

    (45) Bất-nhẫn: Không nhịn được, không nỡ để xảy ra như vậy, không đành lòng. Mạnh-tử: [] nhân giai hữu bất-nhẫn nhân chi tâm, nghĩa là người ta ai cũng có lòng bất-nhẫn (Mạnh-tử, Công-tôn Sửu thượng VI).

    (46) Vô-lại ác-ôn: Lại là lời-lãi, ích-lợi, vô-lại là không có ích-lợi gì cho gia-đình, có tính dối-trá, lừa bịp, làm hại người khác; ác-ôn là cái gậy xấu, hung-dữ, chỉ những người tạo-tợn sống bằng gậy gộc; ác-côn đồng nghĩa với du-côn, côn-đồ nhưng ít thông dụng. Tự-đức dịch là những đứa hung-hăng.

    (47) Cuồng-giảo bất-sính: Cuồng là điên-dại, ngông-nghênh, dữ-dội, thiếu lý-trí và đạo-đức, giảo là ngông-cuồng, ngang-trái, xỏ-xiên, quỉ-quyệt, thích điên-đảo để lừa dối người ta; bất-sinh là người bất đắc-chí. Tả truyện: Ngũ-tộc tụ-quần bất-sính chỉ nhân [] năm họ quần-tụ những người bất đắc-chí. Cuồng-giảo bất-sinh chi đồ: những loài xỏ-xiên quỉ-quyệt bất đắc-chí. Tự-đức dịch: Những loài ngày-quyệt lung-lăng hoang-đường (câu 56). Lung-lăng: Dịch chữ bất-sính và có nghĩa là lộn-xộn, vô-hạn độ, xỏ lá ba-que.

    (48) Bất-quỹ: Không theo phép-tắc, thích làm loạn, làm ngược lại những gì cái đã được qui định. Quỹ là vết bánh xe, con đường đã định sẵn (thiết-quỹ, quỹ-đạo). Người chỉ chĩ đến việc làm khác xã-hội là mưu vi bất quỹ [] Tự-đức dịch: Việc lỗi phép thường.

    (49) Tùy tức: Sau đó, ngay sau đó, liền.

    (50) Tận đạo hình tru: Hết thảy phải gánh chịu mọi hình phạt. Tự-đức địch là: Thịt nát xương tan cả bầy.

    (51) Chiêu: Sáng sủa, rõ-rệt (chiêu-dương), bộc-bạch cho tỏ rõ ra (chiêu-tuyết). Lương dĩ chiêu nhiên: Thật là đã rõ-ràng rồi. Tự-đức dịch: Thật là tỏ rỏ lắm thay (câu 60).

    (52) Đệ: Nhưng, dùng làm chuyển mạch. Dũ: Nghĩa đen là cửa sổ khoét giữa vách hay tường xung-quanh có khuôn, trong có trấn-song đóng tréo thành hình mũi trám, nghĩa bóng là những lời nói ở dưới cửa sổ, chỉ lời dạy-dỗ của ông thầy. Âm dỗ trong dạy-dỗ là do âm dũ [], còn âm dỗ trong dỗ-dành là do âm dụ [].

    (53) Khổng: Rất, lắm; khổng-dị: rất dễ. Đệ tư dũ dân khổng dị. Tự-đức dịch là: Nghĩ dân cũng dễ bảo cùng.

    (54) Viên: Bên, chưng ấy, do đấy.

    (55) Huấn-địch: Huấn là dùng lời nói để dạy người, địch là tới, đi tới, dẫn dắt, chỉ bảo cho biết đường phải. Viên mệnh soạn huấn-địch chỉ từ: Bèn sai người biên-soạn những lời dẫn-dạy. Chữ Huấn-địch lấy trong kinh Thư, quyển VI, thiên chu-quan 4.

    (56) Tái sắc Lễ-bộ nghĩ-soạn nghi-chú: Bộ Lễ có nhiệm vụ quản-chưởng các nghi-thức điển-chương(tiết-lễ, tế-tự) và sinh-hoạt văn-hóa giáo-dục (đào-luyện nhân-tài, tu-thư, chỉnh-sức phong-tục). Nghĩ soạn: Suy-xét đắn đo rồi tìm ra cầu văn thích-hợp để quảng-diễn chính-sách của nhà vua. Công-tác nghĩ-soạn là của nhân viên Bộ Lễ, nhưng các nhà nghĩ-soạn phải căn cứ trên ý-kiến của nhà vua, và bản chiếu-dụ chỉ được ban-hành khi có sự đồng-ý hoàn-toàn của nhà vua là người đứng tên trong bản văn. Nghi-chú: Lời bàn giải dùng làm khuôn mẫu.

    (57) Phân-tống: Phân-phối để tống-đạt, chia các bản văn để gửi đi các địa-phương ngoài Kinh-đô.

    (58) Kinh-doãn: Chức trưởng-quan ở Kinh-kỳ, có từ đầu đời Trần, nhưng mang nhiều danh-xưng khác nhau như đời Trần gọi là Kinh-thành bình bạc ty, đời Trần Thánh-tông(1258-1273) đã đổi là Kinh-sư đại-doãn, cuối đời Trần đổi là Trung-đô doãn. Nhà Lê dặt Trung-đô phủ-doãn, đời Hồng-Đức đổi là Phụng-thiên phủ-doãn. Đời Nguyễn-sơ, đất Kinh-kỳ gồm 4 dinh là Quảng-bình, Quảng-trị, Quảng-đức, Quảng-nam, đứng đầu mỗi dinh là một Lưu-thủ có các quan Cai-bạ và Ký-lục phụ-tá. Năm 1822, Quảng-đức dinh đổi gọi là Thừa-thiên phủ, do quan Kinh-thành đề đốc điều-khiển, có 1 phủ-thừa và 1 phủ-doãn phụ-tá. Năm 1831, khi bắt đầu thực-hiện chính-sách tập-quyền triệt-để, toàn-quốc được chia làm 30 tỉnh, phủ Thừa-thiên vẫn giữ danh xưng và tổ-chức cũ. Vậy Kinh doãn là chức Kinh-thành đề-đốc. Nguyễn-Công-Trứ năm 1825 được bổ làm Phủ-thừa phủ Thừa-thiên, năm 1847, làm Phủ-doãn phủ ấy.

    (59) Đốc, phủ, bố, án: Tức là tổng-đốc, tuần-phủ, bố-chính, án-sát. Tổng-đốc quản-trị quân-dân, khảo-hạch quan-lại, quyền-nhiếp 1 tỉnh (Thanh-hóa), hoặc 3 tỉnh (Sơn Hưng Tuyên) hoặc 2 tỉnh (13 Liên-tỉnh); Tuần-phủ phụ-trách chính-sự, giáo-dục và chỉnh-đốn bảo-trì phong-tục trong một tỉnh-hạt; Bố-chính coi việc thuế-vụ, đinh-điền, quân-sự; Án-sát phụ-trách về hình-sự và bưu-dịch. Nói chung, việc tuyên-đạt chiếu-dụ của nhà vua là đặc-trách của Bố-chính.

    (60) Tổng, lý, xã, thôn: Liệt-kê những đơn-vị hành-chánh này để hiểu chữ “biến’tống”, gửi đi các nơi, và thấy rõ ý-lực của nhà vua muốn phổ-biến triệt-để bản chiếu-dụ

    (61) Tịnh: Cùng, đồng-thời.

    (62) Học-chính: (hay học-chánh): Một chức khá lớn phụ-trách về giáo-dục, ngạch tòng lục-phẩm, ngang với Tri-huyện, lớn hơn Giáo-thụ (cấp Phủ) một trật, lớn hơn Huấn-đạo (cấp Huyện) hai trật.

    (63) Biến-sức: Cũng như biến-tổng, nhưng có tính-cách hành-chánh hơn.

    (64) Di kỳ: Cử vào ngày đã định, tức là vào tháng giêng.

    (65) Tuyên-độc giảng-minh: Đọc lớn giọng và giải thêm ra cho rõ nghĩa.

    (66) Gia truyền nhân tụng: Nhà này trao sang cho nhà kia, mọi người đọc to giọng từng lời từng chữ. Tự-đức dịch: Người đọc nhà thông.

    (67) Tương qui: Lấy phép khuôn xử lẫn cho nhau khỏi sai-lạc, khỏi trật đường. Tương qui dĩ thành: Chỉ-dẫn lẫn nhau để cùng nên tốt.

    (68) Nhật nhiệm nguyệt nhu: Nhu là dùng nước mà thấm vào cho ướt, thấm càng lâu càng tốt, vì thế cái gì lâu ngày tập quen cũng gọi là nhu như nói: nhĩ nhu mục nhiễm [] quen tai quen mắt. Nhật nhiễm nguyệt nhu: có thể dịch là ngày quen tháng thuộc. Tự-đức dịch: Ngày thấm tháng lây.

    (69) Đồng qui vu thiện: Cùng trở về lành

    (70) Cụ-văn: Văn suông, văn đủ câu chủ ngữ, không có giá trị gì, không nói lên được cái gì. Thiết vật thị vi cụ căn: Xin đừng xem là văn suông. Tự-đức dịch là văn lệ, văn viết cho có lệ, cho có. Vua Minh-mệnh rất ghét lối văn sáo. Trong bài Dụ năm Minh-mệnh thứ 13, nhà vua đã định nghĩa thế nào là sáo-ngữ và cấm-chỉ không cho dùng loại “cụ-văn” ấy trong các tờ thỉnh-an, một thể-thức báo-cáo hành-chánh đời Nguyễn-sơ. Vua Minh-mệnh cấm: “Không được dùng lời-lẽ hoa-mỹ, hoặc nói về thời-tiết, hoặc nói về cảnh-vật, những chữ trăng dọi sáng, gió đưa hương, đều là sáo-ngữ phủ-từ (Dụ năm Minh-mệnh thứ 13, trích theo Nguyễn-sĩ-Hải, Sđd , trang 80). Vì không cho văn mình là văn suông, mà là một thứ văn sống, thiết-thực nên nhà vua bắt quân-nhân sĩ-thứ phải “thân thể lực hành”, thân là con người của mình, thể là đặt mình vào, là đồng-nhất với, hòa-hợp với, như danh-từ Phật-giáo, gọi là thể-nhập, hay danh-từ Công-giáo gọi là nhaaj- thể. Thân-thể lực hành: là cái xác của mình phải đặt vào bài văn ấy, vào quan-niệm hoạt-động ấy và sức-lực của mình phải được triệt để thực-hiện những giáo-điều đã đề-cập tới trong bài văn. Xem đấy thì biết văn-học cổ-điển bao giờ cũng đòi-hỏi tinh-thần và hành-động nhập cuộc.

    (71) Tu hiệu: Cùng nhau bắt chước mà làm. Tư nhiên: cùng nhau tồn-tại, cùng nhau sống chung.

    (72) Cách bạc: Đổi cái mỏng-manh yếu-ớt đi. Tùng trung: Theo cái thực, cái tinh-thần dày-dặn đã làm cái gì thi làm hết mình hết sức mình, dốc lòng tận-tâm tận-lực làm đến nơi đến chốn. Tự-đức dịch bạc là mỏng, trung là dày rất đúng.

    (73) Huân thành: Huân nghĩa là đen là cỏ thơm, ngửi hương thơm ấy làm cho người nóng ran lên, có nghĩa là đầm-ấm, vui-hóa, hun nóng lên như có ngọn lửa ở trong bốc lên vậy. Huân-thành: lâu ngày trở nên.

    (74) Vĩnh nhạ: Điều-khiển việc nước trải qua nhiều năm, xây-dựng được một nền hòa-bình lâu-dài.

    (75) Trường-trị cửu-an: Điều-khiển việc nước trải qua nhiều năm, xây-dựng được một nền hòa-bình lâu dài.

    (76) Quyền-niệm: Nhìn lại và nghĩ đến. Được vua nhìn đến gọi là thần-quyến, được quan trên yêu gọi là hiến-quyển, người trong nhà và có họ với nhau là qua-quyến, thân-quyến.

    (77) Giáo-dục: Dạy-dỗ nuôi-nấng theo một kỷ-luật nhất-định.

    (78) Đào-thành: Nặn-nên, rèn-luyện, uốn-nắn cho ra cái bình mà mình lấy làm mẫu.

    (79) Hư-phụ: Vô-ơn, không biết đến, trông-cậy một cách vô-ích. Bất hư phụ: Chẳng luống phụ, không phụ.
  • Chia sẻ trang này