0073.00016

26/1/16
0073.00016
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}


    Chữ dĩ chi, cho đến, tiết-lộ cho ta thấy tổ-chức quân-đội chặt-chẽ đời Minh-mệnh vì chỉ có đời Minh-mệnh mới quan niệm đi lính cũng phải có nghề như các nghề khác, ngang hàng với sĩ, nông, công, thương, viên, phố, trạch, mục. Dĩ chi võ-biền quân-lữ, các hữu sở-nghiệp: Cho đến các quân-lữ võ-biền (các lính-tráng, cai, đội), đều có nghề-nghiệp của mình.

    (140) Tư: Của-cải, vống liếng (tư-bản, gia-tư); của tiêu dùng vào việc gì (quân-tư), tư-cấp, phú-bẩm cho (tư-chất), nhờ, chỗ nương nhờ. Giai tư chi dĩ sinh dã: Đều nhờ vào đấy mà sống vậy.

    (141) Đãi: Trễ-nải lười-biếng. Nhi phế ư đãi: Mà bị phế-bỏ vì lười-biếng, trái lại là nghiệp thành ư cần: Nghề làm nên được là nhờ chăm-chỉ.

    (142) Đản: Một chắc, một mình, chỉ cầu, bất quá là. Đản năng: Chỉ cầu rằng có thể.

    (143) Tự-nghiệp tinh-chuyên: Làm việc chăm-chỉ hết sức mình, với tất cả gắng sức.

    (144) Bất giải dụng lực: Không lười dùng sức. Giải cũng như đãi là trễ-nải, lười-biếng, chậm-chạp.

    (145) Thành-hiệu: Có kết-quả, xong việc đến cùng. Hiệu là học đòi, bắt-chước (hiệu-pháp, hiệu-vưu); đến cùng (hiệu-lực, báo-hiệu), đều có nghĩa là hết sức đến cùng; hiệu-nghiệm, có kết-quả rõ-ràng ai cũng trông thấy (minh-hiệu, thành-hiệu).

    (146) Vi sĩ-giả: Làm học-trò, người còn trẻ, phải noi gương người khác.

    (147) Tháo thân (cũng đọc táo thân): Tắm rửa, dùng nước kỳ-cọ cho sạch. Tự-đức dịch là sạch mình.

    (148) Lệ hạnh: Mài-giũa tính nết cho tròn-lặn, nhẵn bóng. Tự-đức dịch là trau nết. Đây là một quan-niệm điêu-khắc về giáo-dục, cho con người là một khối vật-chất và tinh-thần đã có sẵn chất-liệu, chỉ cần lấy đi những cái gì thừa, không cần-thiết, là bức tượng đã nặn xong. Như Rodin tuyên-bố về nghệ-thuật điêu-khắc của Ông: “Tôi lấy một khối cẩm-thạch và tôi lấy đi những gì thừa”. (Je prends un bloc de marbre et j’enveve ce qu’il y a de trop). Lệ hạnh là như thế, là giùi mài tính-nết cho trơn láng, cạo sửa những gì không liên-hệ đến đạo-đức, thế gọi là trau, và Tự-đức đã dịch rất khám-phá chữ lệ-hạnh là trau nết.

    (149) Bác học: Biết thiên-văn, địa-lý, nhân-sự. Tự-đức dịch: Học nhiều. Chữ trong sách Trung-dung.

    (150 Hiệp văn: Cái gì cũng đã nghe biết. Hiệp là chan hòa, thâm. Tự-đức dịch: Nghe khắp.

    (151) Thành-lập: Do chữ thành nhân lập nhân, người quân-tử thành công là làm cho người khác cũng được nên và được có chỗ đứng như mình. Kỳ dĩ cập vu thành lập: Mong tới được một chỗ đứng vững-vàng, Kỳ: mong-muốn, quyết-định. Thành-tập: Dựng nền.

    (152) Túng: Nếu, dẫu rằng.

    (153) Cự nhi: Vội-vã có tính-cách đột-ngột, thốt nhiên dồn đến không hay biết trước. Diệc bất khả cự nhĩ: Cũng đừng khá vội-vã, gấp-gáp. Tự-đức dịch: Cũng đừng tham gấp.

    (154) Cải đồ: Sửa chữa những ý-định đã có, những mưu-toan, những mơ-ước về tương-lai. Tự-đức dịch: Chí thừa. Chữ chí dịch chữ đồ rất chính xác. Chữ chừa dịch chữ cải không được rõ nghĩa, nhưng ngày nay và hiện nay ở thôn-quê, người ta thường nói chừa-cải. Vậy chí chừa là chí đổi, ý-định cải-tổ lại những gì đã hư-nát, ở đây là cái ý-chí hèn-kém chỉ nhằm vào tiểu-lợi, lợi hèn, mà không ngó-ngàng đến nghĩa, điều mà Mạnh-tử đã trách Lương Huệ-vương.

    (155) Tu kỳ lỗi cử: Sửa lại cày bừa của mình.

    (156) Cần kỳ giá sắc: Chăm-chỉ việc cấy lúa và gặt hái.

    (157) Doanh-ninh: (dinh-ninh): Đầy-đủ, yên-vui.

    (158) Phong-liễm: Được mùa, thu lượm được nhiều.

    (159) Xuyết-nghiệp: (cũng đọc chuyết-nghiệp): Cũng đừng vì thế mà thôi việc.

    (160) Sức hóa, nhập tài: Tô-điểm hàng-hóa cho đẹp hơn, cho phù-hợp với vật-liệu.

    (161) Phụ thông hóa-hối: Của-cải khắp nơi. Phụ: Rất. Thông: khắp mọi nơi, hóa-hối: của-cải; hóa là vàng ngọc, hối là vải lụa.

    (162) Thường chức: Công việc hằng ngày.

    (163) Tự sinh: Nuôi sống mình.

    (164) Nghiệp quảng duy cần: Chỉ có chăm-chỉ mới phát-triển được nghề-nghiệp. Lời Thành-vương khuyến-cáo bách quan, ghi trong Thượng-Thư, thiên Chu-quan. Câu này, Nhượng-Tống dịch là: Nghiệp rộng cốt ở siêng-năng (Sđd, trang 175).

    (165) Miên: Gắng sức.

    (166) Sinh chi giả chúng: Cái sinh-sản ra thì nhiều.

    (167) Thực chi giả tật: Việc làm nhanh-nhẹn.

    (169) Dụng chi giả thư: Cái tiêu dùng thì từ-từ, thong-thả.

    (170) Hải-vũ thừa bình: Hải là biển, vũ là dưới mái hiên, dưới gầm trời, bốn phương, hải-vũ: nói chung là bốn phương trời biển, thừa là người trên ban cho, kẻ dưới nhận lấy; thừa bình: được ơn trên ban cho yên vui, không có chiến-tranh.

    (171) Đa thượng xa-xỉ: Nhiều người chuộng tiêu-xài hoang-phí.

    (172) Xa lệ quá độ: Xa là nhiều, lệ là đẹp, tốt. Xa-lệ quá độ: Nhiều và đẹp quá mức. Tự-đức dịch từng chữ: quá đỗi tốt nhiều.

    (173) Thù-tạc vãng lai: Thù là mời rượu, chủ mời khách uống là thù, khách rót mời chủ gọi là tạc, vì thế thù tạc, ngoài việc chỉ uống rượu mời đi mời lại, còn chỉ việc người đời đi lại cho quà tặng bánh để tỏ tính thân-sơ. Thù-tạc vãng-lai: nhận cái gì của người rồi lấy vật khác trả lại để báo-trả.

    (174) Suất đa phù chí: Thảy đều tốn-kém, nhăng-nhít.

    (175) và (176) Nhất diên chi tiếu-tế: Một bữa tiệc cúng. Diên nghĩa đen là một cái chiếu, ngày xưa giải chiếu xuống đất ngồi, nên gọi chỗ ngồi là diên, cuối cùng chỉ một bữa cơm ăn trên chiếu ấy, thường chỉ một bữa cơm sang-trọng đãi khách, tiếu-tế là lễ-nghi cúng thần-thánh, bắt buộc phải lập đàn và có rượu.

    (177) Sở nhu: Đồ dùng, tiền cần-thiết để dùng vào việc cúng-tế ấy.

    (178) Lũy: Thêm ra, tính dần lên.

    (179) Minh-ngoan chi đồ: Đoàn trẻ dại-dột, tối-tăm. Minh là tối-tăm, ngoan là ngu-dốt, ương-ngạnh, không biết lại hay làm những việc càn-bậy.

    (180) Dâm: Chỉ chung tất cả những gì quá lắm (dâm-vũ, dâm-hình), động, mê-man quá độ; dâm vu nha-phiến: mê hút thuốc phiện, nghiện-ngập.

    (181) Đăng: Phóng-túng, lang-thang chỗ này chỗ khác, không biết giữ-gìn (đãng-tử, du-đãng). Đăng vu tửu-bác: Là-cà rượu chè cờ bạc.

    (182) Phá-sản khuynh-ti: Tan-tành đồ-đạc, ngả-nghiêng tiền của.

    (183) Mẫn: Thương xót (lân-mẫn)

    (184) Lẫm: Rét, nghèo-khổ, nghiêm trang, trọng-đại, nghiêm-chỉnh. Lẫm tuân: Nghiêm-chỉnh tuân-hành, làm những hiệu-lệnh của vua một cách đàng-hoàng, đứng-đắn thực-sự, chứ không được coi là chuyện đùa.

    (185) Trì thân trị gia: Giữ mình coi nhà. Trị là cầm giữ bằng tay (trì-tiết, chủ-trì), chủ-trương công việc gì, hay coi sóc một nơi nào (trụ-trì), Trì thân: Giữ chắc cho con người của mình không rời xa đạo-đức, giữ-gìn mình một cách bền-bỉ chắc-chắn. Trị gia cũng như tề-gia là coi sóc việc nhà cho thứ-tự, ngăn-nắp.

    (186) Chất-phác: Mộc-mạc, chỉ cốt cái phần thực-sự ở bên trong không chú-trọng tô-điểm ở bên ngoài. Phòng-ốc, khí-cụ, thủ chất-phác đã được Tự-đức dịch rất gọn: Ở, dùng bền, thực (câu 216).

    (187) Quan, hôn, tang, tế: Lễ đội mũ cho con trai, lễ cưới gả cho con gái, lễ chôn người chết, lễ cúng giỗ.

    (188) Đản quí đắc-nghi: Chỉ cốt đúng hợp với lễ-phép, không cần ra ngoài những qui-thức đã định.

    (189) và (190) Ngật (cũng đọc cật): Ăn. Tằng ngộ ngật nha-phiến: Từng lỡ hút thuốc phiện.

    (191) Tẩy trừ: Rửa bỏ, chừa bỏ đi.

    Đoạn văn này nhắc người đọc nhớ đến một đoạn văn tương-tự trong Khổng-tử tập-ngữ: “Trung nhân chi tình hữu dư tắc xỉ, bất túc tắc kiệm, vô cấm tắc dâm, vô độ tắc thất túng dục tắc bại. Cố ẩm-thực hữu lượng, y-phục hữu tiết, cung-thất hữu độ, súc-tụ hữu số, xa-khí hữu-hạn, dĩ phòng loạn chi nguyên dã” (Khổng-tử tập-ngữ: Tề-hầu vấn, XIII). Cái thường tình của hạng người trung-nhân, kể có thừa thì xa-xỉ, không đủ thì cần-kiệm, không cấm-đoán thì dâm-dật, không tiết-độ thì thất-thố, tình-dục phóng-túng thì suy-bại, cho nên ẩm-thực phải có hạn-lượn, y-phục phải có tiết-chế, cung-thất phải có mức-độ, súc-tụ phải có định, xa-mã khí-dụng phải có hạn để đề-phòng mầm loạn vậy. Câu “thận nãi kiệm đức, duy hoài vĩnh đồ” nghĩa là: cẩn-thận lấy đức sẻn, hãy nghĩ lo đến sự lâu dài (Thượng-thư, thiên Thái-giáp thượng, bản dịch của Nhượng-Tống, trang 70).

    (192) Sở uan phi tế: hễ cùng nhà nước chẳng hèn (câu 225)

    (193) Hình thố: Việc hình, việc trừng-phạt của quan-án được bãi bỏ.

    (194 Binh tẩm: Việc lính-tráng được đỉnh-chỉ, được xếp một chỗ.

    (195) Tương quan: Cùng nhìn nhau, trông nhau để bắt chước.

    (196) Ân-ý: Ân là ơn, điều tốt-lành thực-hiện cho hạnh-phúc của người khác, yêu người và giúp đỡ cho người được tốt đẹp (ân-tình, ân-ái, ân-nghĩa), ý là phần thứ bảy của trí-tuệ, có khả-năng phân-biệt, đắn-đo, ức-đạc (bất-ý), nói chung, ý là tất cả những gì toan-tính ở trong lòng. Ân-ý chú trọng đến việc làm ơn-ích cho người khác.

    (197) Dĩ hậu thân-tộc: Để cho tình họ hàng bà con được tốt-đẹp, đầy-đặn, có bề dày bề ngang hẳn-hoi. Hậu là tốt, nhiều (hậu-đãi, trọng-hậu, phúc-hậu).

    (198) Tín thuận: Tin và chiều theo. Minh-mệnh đặc-biệt chú-trọng đến chữ tín nên bất-cứ trong giáo-điều nào, nhà vua cũng nhấn mạnh đến đức-tính này vì nhà Nho vẫn chủ-trương từ xưa là dân vô tín bất lập (Luận-ngữ XII, 7) không gây được lòng tin của dân thì không đứng vững được.

    (199) Mục: Nhìn bằng con mắt hiền-lành, dịu-dàng, với tất cả lòng mong-muốn, tốt-đẹp.

    (200) Hương đảng: Làng xóm, láng giềng. Hương là một khu gồm 12.500 nhà, đảng gồm 500 nhà. Hương đảng nói chung về chỗ ở chung với nhau, có phong-tục, luật-lệ chung.

    (201) và (202) Xâm và lăng: Xâm là không phải của mình mà cứ tìm mưu-kế hay dùng sức mạnh để lấn hiếp; lăng nghĩa đen là lớp váng, lớp giá vì lạnh mà tích-tụ lại thành lớp, nghĩa bóng là lấn-lướt đụng chạm tới, Vô dĩ phú xâm bần: Đừng lấy giàu lấn nghèo. Vô dĩ cường lăng nhược: Không lấy mạnh hiếp yếu.

    (203) Bảo-ái: Giữ-gìn, che-chở, giúp-đỡ và yêu mến. Cư binh tắc tương bảo-ái: Lúc thường thì cùng nhau bảo-trì lòng yêu thương.

    (204) Chu-tuất: Cứu giúp bằng tiền của, vật-liệu, lương-thực.

    (205) Thù phản: Ghét giận hằn-học.

    (206) Tranh đoan: Đầu mối giành-giật. Vật tích thù-phẫn dĩ cấu tranh đoan: Đừng chất-chứa hận-thù mà tạo nên mối tranh-giành.

    (207) Kiện-tụng: Khỏe tố-cáo nhau trước cửa quan.

    (208) Di phương sinh-lý: Để hại tới lẽ sống. Chữ sinh-lý hiện nay dịch chữ physiologie hay vie physiologique của Âu-châu nghĩa hẹp hơn và chỉ hoạt động của cơ-thể mà thôi.

    (209) Liên thủ-vọng: Họp nhau lại để giữ-gìn trông coi.

    (210) Nhị: Thôi, nghỉ. Nhị đạo-tặc: Dẹp trộm cướp.

    (211) Nặc đào: Che đậy cho người đào-ngũ, trốn lính.

    (212) Châu-liên: Châu là gốc cây, liên là liền, vướng-vít vào nhau như gốc này liền với gốc kia, nghĩa bóng là lấy tội một người mà dây-dưa liên lụy đến nhiều người. Giới nặc đào dĩ miễn châu-liên: Đừng che giấu những người trốn lính để khỏi bị liên-lụy.

    (213) Vi sĩ-giả: Người làm học-trò.

    (214) Tất tri xử tâm thuần-hậu: Ắt biết ở lòng thuần-hậu, hiền-lành, dày-dặn, tròn-trĩnh.

    (215) Lập tháo điểm-tĩnh: Lập là đứng, dựng nên, tháo là cái chí của mình giữ vững; điềm-tĩnh là yên-lặng. Lập tháo điềm-tĩnh: Giữ điều yên-lặng.

    (216) Nong phố: Nhà làm ruộng, lầm vườn.

    (217) Việt bạn: Vượt bờ cõi phân chia ruộng đất.

    (218) Khúc phòng: Khúc là cong, chỗ cong-queo chật-hẹp; phòng là cái đê, phòng-bị (đề-phòng), canh gác (hải-phòng); ở đây, phòng là đê nhỏ ngăn nước giữa hai thửa ruộng, khúc-phòng là đắp đất thành hình vòng để làm đê ngăn nước. Vật khúc-phòng dĩ hại nhân: Chớ ngăn nước ruộng mà hại người. Chức khúc-phòng lấy trong sách Mạnh-tử (Cáo-tử hạ, VII) có nghĩa là đắp vòng đê ngăn nước. Vô khúc phòng [] là một trong năm điều minh-thệ của Tề Hoàn-công ở Qui-khưu.

    (219) Công cổ: Làm thợ, đi buôn.

    (220) Vật xạ lợi nhi giao-tranh: Chớ tranh cướp mối lợi mà giành giật nhau. Xạ là cho tên vào cung nỏ, tống mạnh cho tên bật ra xa, cũng có nghĩa là tìm kiếm, chú-ý mà mưu-toan cho được phần thắng-lợi; xạ-lợi; cướp giật mối lợi.

    (221) Huyễn-hóa: Huyễn là tự khoe mình, kẻ làm trò tự khoe tài mình ở nơi đường-sá; hóa là của, vật gì có thể đổi lấy tiền được, bán, như sách Mạnh-tử nói: Vô xứ nhi quỹ chi, thị hóa chi dã [], không có cớ gì mà đưa cho, thế là bán đấy vậy. Huyễn-hóa là tự khoe hàng để bán. Tự-đức dịch là: tốt tươi đắt hàng, hiểu là: nói cho hàng đẹp tốt hơn để dễ bán cho đắt hàng. Cầu thụ: mong bán đi, bán ra cho được.

    (222) Phàm quyết thứ dân: Tất cả mọi thường-dân.

    (223) Vô hữu dâm bằng: Không có bạn bất-chính, bạn xấu, chỉ làm những việc bè-phái.

    (224) Vô hữu tị đức: Không có những đức-tính riêng tây (Xem Thượng Thư, Quyển Chu-thư VI, Hồng-phạm 10).

    (225) Dụ: Bảo rõ, lời dạy, biết so-sánh. Nhĩ đẳng nghi dụ thử ý: Chúng ngươi nên biết ý ấy. Tự-đức dịch: Ý này ai nấy nghiệm qua (câu 251).

    (226) Kiêu-phong: (cũng đọc nghiêu-phong): Phong-tục kiêu-bạc, những thói mỏng-manh, hợm-hĩnh, khinh-rẻ.

    (227) Duật tễ: Bên tới, đi tới, chỉ tới.

    (228) Chiên: Ấy, đấy. Nhĩ đẳng kỳ miễn chiên tai: các ngươi nên gắng sức nhiều về điều ấy vậy thay.

    (229) Thủy: Bắt đầu (thủy-chung).

    (230) Tử-đệ: Con em, vi tử-đệ: làm sắp con em, làm đàn em.

    (231) Hậu: Sau.

    (232) Phụ huynh sư trưởng: Cha, anh, thầy,lớn: người lớn, người đứng đầu một cơ-quan hành-chánh. (Chữ lấy trong Mạnh-tử, Lương Huệ-Vương thượng, V, 3)

    (233) Phất nạp: Đứng gần-gũi.
  • Chia sẻ trang này