0073.00017

27/1/16
0073.00017
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}


    (234) Tị: Khiến, theo.

    (235) Khắc thủ thiên-lương: Cung-kính giữ lấy cái tính tốt của trời.

    (236) Thế nghiệp: Nghề truyền đời này đến đời kia.

    (237) Du-đọa: Chơi-bời biếng-nhác.

    (238) Hiếu bác túng tửu: Ham-mê cờ-bạc, buông-tuồng rượu chè.

    (239) Phi-nhân: Người tà, người ăn cắp ăn trộm (thổ-phỉ).

    (240 Hiếu-đễ: Yêu-mến và nhớ ơn nuôi-dưỡng của cha mẹ, khi sống cũng như khi chết, yêu-mén anh em, vâng mệnh anh và che-chở cho em, đó là những thuộc-tính căn bản của lòng nhân-ái trong phạm-vi gia-đình; hiếu-đễ là nền-tảng của nho-giáo, vì người có lòng nhân-ái như nhà nho đòi-hỏi tất nhiên phải hiếu-thảo với cha mẹ và hòa-thuận với anh em.

    (241) Lực điền: Dùng sức mạnh của thân-thể để cày-cấy. Hiếu-đễ lực-điền đi liền nhau vừa nghe có vẻ như thiếu liên-tục, nhưng sự thật nhà nho không bao giờ quan-niệm con người trừu-tượng tách rời khỏi hoàn-cảnh cụ-thể là gia-đình, quê-hương, xã-hội, đất nước. Chỉ có hiếu-đễ mà thôi, chưa đủ phải lực-điền, phải siêng-năng cày-cấy, vì nhờ làm ruộng mà con người có hoàn-cảnh thích-nghi để phát-triển sinh-hoạt cộng-đồng, khuếch-xung tinh-thần đoàn-kết, và từ đấy, xây-dựng tình nhân-ái.

    (242) Tâm tất tồn ưu lễ-nghĩa liêm-sỉ: Lòng tất-nhiên tồn-tại, với lễ-nghĩa, liêm-sỉ. Để ý đến chữ tất khẳng-định một hệ-luận tất nhiên giữa hai sự-kiện, biểu-lộ sự chú-trọng của nho-gia về vấn-đề người, được định-nghĩa như một thân-xác gắn liền với linh-hồn trong một hoàn-cảnh nhất-định.

    (243) Cửu chi: Lâu ngày rồi thì…

    (244) Thuần-lương: Dịu-dàng, ngọt-ngào, tốt-lành.

    (245) Môn lư: Môn là cửa 2 cánh, lư là cửa 1 cánh, lư là cổng làng. Lư còn có nghĩa là một làng có 25 nhà; môn lư nói chung là làng-xóm.

    (246) Lương-dân: Dân lành.

    (247) Ấu-tử đồng tôn: Con nhỏ cháu bé, con dại cháu ngây.

    (248) Tất giáo: Ắt phải dạy.

    (249 Thiếu-nghi, đệ-tử chức: Thiếu-nghi là thiên XV của sách Lễ-ký. Thiếu có thể hiểu là tiểu như Seraphin couvreur, (xem Memoires sur les bienseances et les ceremonies, II, 1) và như vậy, thiếu-nghi là những phương-thức xử thế nhỏ (petites regles de conduite); cũng có thể hiểu như Tự-đức là ấu, và thiếu-nghi nghĩa là những nghi-thức mà người ta phải học và phải hành ngay khi còn nhỏ tuổi.

    (250) Trí nghiêm: Đạt đến sự nghiêm-túc, đứng-đắn, thận trọng giữ-gìn; cũng có nghĩa là gây được sự tôn-trọng như nói sư-nghiêm [], ông thầy được tôn-trọng (Lễ-ký, XVI, 7)

    (251) Dật cưu nhi vô giáo, tắc cận ư cầm thú: Ở nhà mà không dạy-dỗ thì gần như cầm-thú (Mạnh-tử, thiên Đằng Văn-công thượng, chương V).

    (252) Vô hốt: Không sao-nhãng.

    (253) Học vi nhân: Học làm người, nhưng con người ở đây là con người nho-giáo, lấy nhân-nghĩa làm lẽ sống, coi hiếu-đễ là đầu.

    (254) Vô học: Không đến trường để tìm hiểu nghĩa-lý thánh-hiền. Có hai loại học chính, học chuyên-môn gọi là chính-nghiệp (Lễ-ký, Học-ký, XVI, 7) và học thêm ở nhà gọi là cư-học (Sđd, như trên). Như vậy, vì học là học làm người, nên đã là người tất-nhiên không thể vô-học. Đây là một nguyên-tắc giáo-dục căn-bản của nho gia, được tuyên-xưng một cách gọn-gàng, mạnh-mẽ, nhờ đấy, ta thấy việc học ở Việt-Nam quan trọng như thế nào. Đọc thiên Học-ký trong Lễ-ký, ta cũng thấy một ngôn-ngữ như thế, như ở đây, vua Minh-mệnh có một cách diễn-tả chính-xác và súc-tích.

    (255) Sở học vưu bất khả bất-chính: Cái học lại càng không thẳng. Chính-học là cái học chính-đáng, tức là cái học làm người theo quan-niệm nho-gia. Sùng-thượng chính-học không có gì khác là giảng minh nhân-luân, cắt-nghĩa cho rõ-ràng thế nào là đạo người, biết thế nào là phải, thế nào là trái mà tu thân cho trở thành con người đức-hạnh. Học là tìm hiểu cái lý của sự-vật, tự mình tìm hiểu lấy nhưng lại dựa vào kinh-nghiệm của thánh-hiền, cho nên học là tập sửa mình, gắng sức sửa-chữa con người của mình cho thành người có đức-hạnh, tài-năng. (Xem Luận-ngữ, Dương-hóa XVII).

    (256) Nghiêu Thuấn chi đạo, hiếu-đễ nhi di: Đạo Nghiêu Thuấn chỉ là hiếu-đễ mà thôi. Nghiêu-Thuấn đời Đường Ngu tượng-trưng cho chế-độ vương-đạo, truyền hiền, dân-chúng sống thái-bình, no đủ. Nghiêu Thuấn có thể là hai nhân-vật lịch-sử, nhưng chắc-chắn đã được Khổng-tử điểm-xuyết rất nhiều vì vậy nói đạo Nghiêu Thuấn cũng chỉ là một cách nói đạo Khổng, đạo Nho(xem Mạnh-tử, thiên Cáo-tử hạ, chương II).

    (257) Khổng mạnh chi đạo, nhân-nghĩa vi tiên: Đạo Khổng Mạnh, trước hết là nhân-nghĩa. Quân-tử học đạo thì yêu người (Luận-ngữ, Dương-hóa, XVII), lấy đạo mà sửa mình, lấy nhân nghĩa mà sửa đạo (Trung-dung). Quân-tử chuộng nghĩa (Luận-ngữ, Dương-hóa, XVII), quân-tử giữ điều nghĩa để khiến các việc ở ngoài cho có khuôn-phép (Dịch, Văn-ngôn truyện); quân-tử đối với việc thiên hạ, không chuyên-chủ một việc nào, không cố-chấp không làm một việc nào, cứ theo nghĩa mà làm mọi việc (Luận-ngữ, Lý-nhân, IV); quân-tử lấy nghĩa làm cốt (Luận-ngữ, Vệ Linh-công, XV); đã biết đạo trời, lại đem mình làm những điều nhân-nghĩa, trang-sức mình bằng lễ-nhạc… Nhân-nghĩa-lễ-nhạc là cái hạnh của bậc thành-nhân, biết thần-thánh kỳ-cùng, biết rõ sự biến-hóa, cái đức đến thế thật là thịnh vậy (Khổng-tử tập-ngữ, Sở phạt Trần, XVIII). Đạo nhân-nghĩa, nói tóm lại, là yêu người và yêu lẽ phải.

    (258) Tả-đạo, dị đoan: Tả là bên tay trái, không chính-đáng, đạo là đường, tôn-giáo, dị-đoan là mối lạ, cái bất-thường, tất cả những gì không phải là Nho-giáo đều bị coi là tả-đạo, dị-đoan, như đạo Phật, đạo Lão, đạo Da-tô. Danh-xưng dị-đoan được Trương-Hán-Siêu dùng lần đầu tiên năm 1339 trong bài Linh-tế tháp-ký viết để công-kích đạo-Phật. (Đọc thêm Mạnh-tử, Đằng Văn-công hạ, IX).

    (259) Cuống hoặc: Lừa dối, gieo-rắc sự nghi-ngờ, khỉnh-phờ gạt-gẫm.

    (260) Da tô chi thuyết: Học-thuyết của Đức Chúa Giê-su, chủ-trương kính Chúa, yêu người, tuyên-bố mọi người nam và nữ, vua và tôi, cha và con, vợ và chồng v.v… tất cả đều bình-đẳng, chế-định hôn-nhân độc-thê, bất-khả-ly, vận-động giải-phóng nô-lệ, giải-phóng phụ-nữ ra khỏi chế độ trọng-nam bất-công của phong-kiến.

    (261) Vưu vi vô-lý: Lại càng không có một lẽ nào đứng vững, Minh-mệnh cho đạo công-giáo là vô-lý vì nhà vua thấy đạo này tương-phản với Nho-giáo về nhiều phương-diện, như về vấn-đề trọng nam khinh nữ, vấn đề bình-đẳng giữa quân-quyền và công-dân v.v… Giữa thời thịnh-vượng của chế-độ quân-chủ triệt-để tập-quyền, đạo Da-tô phải xuất-hiện như một hiện-tượng chẳng những chỉ vô-lý mà thôi, mà còn quái-dị nữa vì nó phủ-nhận tất cả mọi chủ-trương của chế-độ, nó là tiếng nói của tình-yêu, của lòng vị-tha bác-ái, trong khi Nho-giáo đời Minh-mệnh là một học-thuyết chủ-lý tuyệt-đối.

    (262) Nam nữ hỗn-hào: Trai gái lộn-xộn, không có thứ-tự trên dưới, đây có lẽ là một mâu-thuẫn căn-bản giữa học thuyết Da-tô và Nho-giáo vì trong khi Nho-giáo tuyên-bố nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô (một con trai gọi là có, mười con gái gọi là không) thì đạo Công-giáo chủ-trương mọi người đều có uy-quyền và nhiệm-vụ như nhau. Chỉ một nguyên-tắc này đủ làm đảo-lộn cả cơ-cấu xã-hội và điển-chương văn-hiến Nho-giáo. Sách Lễ-ký cấm nam-nữ không được ngồi chung, không được trao cái gì tận tay (Lễ-ký, Khúc-lễ, I, 31).

    (263) Hạnh đồng cầm-thú: Tính-nết giống như loài vật. Đây là một nhận-định nghiêm-khắc và bất-thường đối với ngữ-ngôn của một bậc chí-tôn trong một vài chế-văn quan-trọng là bài Thánh-dụ thập điều này. Tuy nhiên, trong sách Mạnh-tử, nói về cái đạo không cha không vua của Mặc Địch và Dương Chu, Mạnh-tử cũng đã dùng chữ cầm-thú(Mạnh-tử, Đẳng Văn-công hạ, IX). Hỗn-hào: Tự-đức dịch là lộn pha, nết làm quấy-quá.

    (264) Phiến gian thụ đảng: Dấy gian dựng đảng.

    (265) Tự đạo hình tru: Tự giẫm lên phép nước.

    (266) Đổ luân: ( cũng đọc dịch luân): Làm bại-hoại, hư nát đạo thường.

    (267) Vưu bất khả tín: Càng không thể tin.

    (268) Nghiệp: Sự đã rồi. Hữu nghiệp vi sở dụ: Đã bị đạo ấy dụ-dỗ.

    (269) Cải-trừ: Chừa bỏ, thay đổi đi.

    (270) Quốc-lễ: Lễ-nghi, nghi-thức của nước. Phải công-nhận các nghi-thức tang, tế của Công-giáo có khác với phong-tục Việt-Nam và đã gây ra nhiều hiểu lầm đáng tiếc. Mãi đến nay, phải chờ đến Cộng-đồng Vatican II mới tạm giải-quyết được những mâu-thuẫn đáng lẽ không nên có này về phong-tục, tập-quán địa-phương.

    (271) Tha-kỳ: Đường rẽ khác, nẻo khác.

    (272) Chính-đạo: Đường thẳng, tức đạo Nho, trái với dị-đoan, tả đạo.

    (273) Thi-thư: Kinh Thi và Kinh Thư. Cách dạy người của Khổng-tử, trước hết dùng Thi, Thư mà dạy(Khổng-tử gia-ngữ, Đệ-tử hạnh XII). Không học Thi không lấy gì mà nói (Luận-ngữ, Thái-bá, VII). Kinh Thi là bộ sưu-tập ca-dao Trung-hoa từ đời thượng-cổ đến Chu-Bình-Vương. Nội-dung kinh Thi đề-cập đến tính-tình, phong-tục, chính-trị các thế-hệ chư hầu Trung-quốc, giúp cho kẻ học có thể di-dưỡng tính-tình, mở-mang kiến-thức, thích-nghi hành-động (Luận-ngữ, Dương-hóa, XVIII). Kinh Thư là bộ sách ghi chép những điển-mô, huấn-cáo, thệ-mệnh từ đời vua Nghiêu, Thuấn cho đến đời Đông Chu. Nội-dung kinh Thư bàn về tư tưởng đạo-lý của cổ-nhân, chế-độ, phép-tắc các đời v.v… Vua Minh-mệnh đã dẫn-chứng kinh Thư trong tất các những cấu kết-đề của Thập điều, nhưng phải công nhận nhà vua đã lược bỏ những câu cơ-bản của kinh Thư.

    (274) Tự tri nghĩa lý: Tự mình suy-nghĩ mà biết được vấn đề được đặt ra như thế nào, giải-thích làm sao và làm thế nào để thực-hiện trong đời sống.

    (275) Cổ: Buôn-bán, chất hàng-hóa để bán tại nhà.

    (276) Độc-thư thức tự: Đọc sách biết chữ.

    (277) Binh di hiếu đức: Lấy chữ trong kinh Thi, thơ Chưng-dân, thiên Đại-nhã: Dân chi bỉnh di, hiếu thị ý đức [], dân cầm lấy cái đạo thường của trời, nên yêu-mến các đức tốt ấy(xem lời bàn của Khổng-tử rong sách Mạnh-tử, thiên Cáo-tử thượng, chương VI)

    (278) Bất thất bản-tâm: Không mất cái lòng gốc của mình, cái cội-rễ của lòng mình, tức là con người đích-thực của mình. (Xem Mạnh-tử, Cáo-tử thượng X, 8)

    (279) Tức tà-thuyết, cự bí-hạnh, phóng dâm-từ: Dẹp tà-thuyết, chống cái nết thiên-lệch xiên-xẹo, buông bỏ những lời lẳng lơ đĩ-thỏa (Mạnh-tử, thiên Đằng Văn-công hạ, chương IX). Tà-thuyết trong Mạnh-tử là học-thuyết vô phụ vô quân của Dương Mặc (Dương-Chu, Mặc-Địch), Mạnh-tử kêu gọi mọi người chống lại chủ-trương cá-nhân ích-kỷ của họ Dương họ Mặc: [] năng ngôn cự Dương Mặc giả, thánh-nhân chi đồ đã: Ai có thể lên tiếng chống Dương Mặc là học-trò thánh-nhân vậy (Mạnh-tử, thiên Đằng Văn-công hạ, Ch. IX).

    (280) Trảm khải hối truân thiết: Trẫm mở lời dạy-dỗ thành-thực.

    (281) Gia huệ: Ơn tốt-lành ban-bố xuống cho dân nhờ.

    (282) Dâm đãng: Trai gái giao-tiếp ngoài luân-lý và pháp-luật.

    (283) Tà-thắc: Tà là cong-vậy, xiên-nghiêng, thắc là ác ngầm, điều ác còn ẩn núp ở trong lòng; tà-thắc là những khuynh-hướng tự-nhiên về cái giống, về tính-giao.

    (284) Tế: Tới, đi đến để gặp nhau( giao-tế, tế-ngộ). Nam-nữ chi tế: Việc trai gái đi lại chơi-bời với nhau.

    (285) Dị-hoặc: Dễ ngờ, dễ mê-đắm (cổ-hoặc, nghi-hoặc, mê-hoặc).

    (286) Lễ: Lễ là đi, cái người ta làm để thờ thần và đạt đến phúc trời [], lí dã, sở sự thần tri phúc dã (Thuyết-văn). Lễ là một trong 4 đức-tính căn-bản, nhân, nghĩa, lễ, trí, mà Mạnh-tử coi là bẩm-sinh đối với mọi người ([], nhân giai hữu chi) và định-nghĩa là: [] cung kính chi tâm, cái cảm-thức tự-nhiên về xã-nghi và long tôn-trọng mọi người(Mạnh-tử, Cáo-tử thượng, ch. VI, 2). Mục đích của lễ là ước-thúc([], Phu-tử…ước ngã dĩ lễ, Luận-ngữ, Tử-hãn, IX)

    (287) Kỳ đoan thậm vi: Cái đầu mối về vi-tế, nhỏ bé.

    (288) Kỳ họa thậm cự: Cái tai-nạn rất lớn.

    (289) Thống: Đau-đớn, khổ-sở.

    (290) Át chi: Cấm tiệt, ngăn-cản. Tự-đức dịch là đón rào.

    (291) Tính-thưởng: Ban ơn để khuyến-khích những người có đức-hạnh đáng làm tiêu-biểu cho đời.

    (292) Nhàn: Ngăn-cản. Tự-nhân: Tự mình không sống phóng-túng. Nam dĩ lễ-pháp tự nhân: Trai nói lễ-pháp mình ngăn.

    (293) Thủ: Giữ.

    (294) Tập: Dồn về một chỗ.

    (295) Hiệp-thế: Hiệp là dùng tay xốc nách cho đi đứng được, cậy vào sức mình; hiệp thế; cậy cái hoàn-cảnh tốt của mình. Hào-đảng hiệp-thế dĩ xâm-lăng: Bọn nhà giàu cậy vào thế lực đế lấn đè (câu 359).

    (296) Điêu-hoạt: Gian-giảo, điêu là giỏi về nghề lừa dối, bịp-bợm, hoạt là xỏ-lá.

    (297) Vũ trí: Múa óc, dở hết thông-minh ra.

    (298) Túng-dũng: Xui-giục làm những điều không muốn.

    (299) Vô-lại: Lại là nhờ cậy, lời-lãi, ích-lợi. Vô lại là không có ích-lợi gì cho nhà, suốt ngày lêu-lổng chơi-bời, rồi về nhà dối-trá, dở những trò giảo-quyệt.

    (300) Du côn: Du là không có căn-cứ mà hay dối-đời, côn là gậy bằng gỗ; du-côn là hạng người vô-công rồi nghề, đi lang-thang ngoài đường phố, làm những chuyện càn-bậy.

    (301) Quán: Quen.

    (302) Phát qui huyệt tường: Phà hòm xoi vách.

    (203) Phiến hoặc tư sự: Phiến là quạt lửa cho bùng lên, thúc-giục người ta làm những điều độc-ác; hoặc là ngờ-vực, mê-mẩn, độc-ác; tư là gây thêm ra cho nhiều, cho rắc-rối, sự là việc. Phiến hoặc tư sự; Xúi-giục người làm điều xấu và gây ra nhiều khó-khăn nguy-hiểm.

    (304) Hựu: Rộng-rãi sâu-xa, tha-thứ, rộng-rãi tha-thứ. Bất hựu: không dung-thứ.

    (305) Thế: Vay, cho thuê, tha-thứ xá tội cho. Ở đây, thế nghĩa là tha-thứ. Bất thế hay bất nhiêu là không tha-thứ. Tự-đức dịch bất-thế là chẳng nhiêu, nhiều chữ Hán nghĩa là bỏ qua đi cho.

    (306) Thiên đạo, phúc thiện họa dâm: Đạo trời, làm lành thì gặp phúc, ăn ở xấu-xa thì gặp họa. (Thượng-thư, Thang-cáo). Nhượng-tống dịch là: Đạo trời, ban phúc cho kẻ hay, giáng họa cho kẻ dở (Xem bản dịch Thượng-thư, Tân-việt, xuất-bản, 1963, trang 66).

    (307 Phạm: Đụng phải, mắc lầm-lỗi.

    (308) Úy-hối: Sợ-hãi mà ăn-năn(nhà Phật gọi là sám-hối)
  • Chia sẻ trang này