0073.00018

27/1/16
0073.00018
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}


    (309) Tư hựu: Đều nhớ, cùng nhớ.

    (310) Vực: Nơi chốn.

    (311) Niệm: Suy-nghĩ chín-chắn.

    (312) và (313) Pháp: Phép, khuôn-phép nhất-định để cho mọi người tuân theo. Thủ-pháp: Giữ phép, tuân theo luật-lệ đã có. Phạm-pháp: Không tuân theo luật-lệ.

    (314) Quả quá: Ít lỗi.

    (315) Tội-lệ: Tội-lỗi, lầm-lỗi, phép nước.

    (316) Vị dân: Vì dân-chúng. Pháp-kỷ chi thiết, dĩ vị dân dã: Đặt ra hệ-thống pháp-luật là vì dân vậy.

    (317) Cáo: Nói cho biết.

    (318) Giới: Răn đe.

    (319) Hiểu thị: Chỉ-bảo, giải-thích rõ-ràng.

    (320) Mạn-pháp: Khinh-nhờn phép-nước, nói về pháp-luật mà cứ có vẻ chậm-chạp, thong-thả, lì-lợm, bất-cần, ra ý cho là không đáng quan-tâm, không có gì quan trọng.

    (321) Cố vị: Làm liều, cố tình làm.

    (322) Khí pháp: Bỏ phép, bỏ luật-lệ

    (323) Khinh phạm: Coi nhẹ mà đụng chạm tới pháp-luật.

    (324) Bất đạo bất hiếu chi luật: Luật trừng-phạt những người không theo đạo chính, không yêu thương, kính mến cha mẹ.

    (325) Tắc bất cảm vi: Thì không dám làm.

    (326) Can thường phạm nghĩa chi hành: Những việc làm chống lại đạo thường và lẽ phải.

    (327) Đấu-ẩu nhương-đoạt chi luật: Luật trừng-phạt những tội xâu-xé đánh lộn nhau, những tội ăn trộm ăn cướp.

    (328) Sính: Mặc sức làm theo như ý muốn.

    (329) Cường bạo hiệu-lăng chi khí: Sức mạnh hung-dữ ác-độc và ồn-ào đức-lác.

    (330) Gian dâm đạo-thiết chi luật: Luật ngăn cấm những hành động xấu-xa vụng trộm cướp bóc.

    (331) Át kỳ tà-tích chi tâm: ngăn-ngừa những hẹp-hòi quanh-quất của lòng. Tự-đức dịch tà tích chi tâm là ruột-rà quanh-co.

    (332) Tri việt-tố vu-cáo chi luật: Biết luật cấm việt-tố và vu-cáo. Viêt-tố: Kiện ở Tòa trên, không đi qua Tòa dưới. Vu-cáo: Trình Tòa những tội mà bị-cáo không phạm.

    (333) Cách kỳ kiện tụng chi tập: Thay đổi thói kiện-cáo.

    (334) Định-ngạch: Số tiền thuế bao nhiêu đã ra thông báo cho biết rồi.

    (335) Vật tư đồ bao-lãm nhi đà khiếm chính-cung: Chớ tìm cách nằm giữ hết cả mà mắc nợ tiền phải đóng góp. Đà khiếm: Thiếu nợ lâu không trả. Bao-lãm: Quơ-quét.

    (336) Can-liên: Bị tội chung với ai.

    (337) Quán-thông: Thông-đồng với nhau.

    (338) Oa tàng đào-phạm: Ẩn-giấu người phạm tội trốn-tránh.

    (339) Cẩn-tị: Tránh đi một cách thực-sự.

    (340) Khư: Trừ đi, đuổi đi.

    (341) Ngụy-vọng: Lầm-lẫn.

    (342) Tu-lương: Sửa lại cho tốt.

    (343) Điển: Sự cũ (cổ-điển), viết văn đẫn các tích xưa chuyện cũ; cũng có nghĩa là phép thường. Các thủ nhĩ điển: mọi người đều giữ phép thường. Nhượng-tống dịch: Điều giữ nền-nếp của các ngươi. (Thượng Thư, Thang-cáo, bản dịch của Nhượng-Tống trang 67).

    (34) Dĩ thừa thiên-hưu: Để mang lấy ơn trời. Nhượng-Tống dịch: để vâng chịu phúc trời (Xem Thượng-Thư, Thang cáo, bản dịch của Nhượng-Tống, trang 67).

    (345) Phong động chi hưu: Cái ơn may-mắn được phong-thói tốt-lành lan rộng.

    (346) Hình thố: Việc tù-tội được bãi bỏ

    (347) Dư-khánh: Phúc thừa.

    (348) Vô tha: Không có đường, không có gì khác là…

    (349) Thính: Nghe theo.

    (350) Miễn: Gắng sức.

    (351) Chư kỷ: Ở mình, trong mình.

    (352) Quảng âm-công: Làm rộng âm-đức, tăng thêm ơn đức về sau này cho con cháu.

    (353) Sảo-trì: Hơi chậm một chút.

    (354) Bằng-tạ: Nương nhờ vào tư-cơ, địa-vị sẵn, thời-thế sẵn.

    (355) Phồn-diễn: (cũng đọc phiền diễn): Nẩy-nở lan rộng ra nhiều.

    (356) Thịnh đại ư vô cùng: Giàu nhiều to lớn không bao giờ hết.

    (357) Tường: Điềm lành. Cả câu trong kinh Thư là: Tác thiện giáng chi bách tường, tác bất thiện, giáng chi bách ương, lời Y-Doãn nói, chép trong thiên Y-huấn, sách Thượng-Thư nghĩa là: người làm việc lành sẽ được ban trăm điều lành, người làm điều ác sẽ gặp trăm tai-nạn.

    (358) Hàm thể Trẫm ý: Tất cả đều vâng theo ý Trẫm.

    (359) Đôn-hành: Thúc đẩy để đi đến.

    (360) Bất đãi: Không lười biếng.

    (361) Bảo hợp thái hòa: Giữ-gìn hòa-thuận.

    (362) Tễ: Tới.

    (363) Hoán: Sáng-sủa, rực-rỡ.

    (364) Tháng giêng năm Canh-thìn(1820), Hoàng thái-tử Đởm lên ngôi, đặt niên-hiệu là Minh-mệnh.

    (365) Đã mười lăm năm: Tức là Minh-mệnh năm thứ 15, năm Giáp-ngọ(1834). Đây là soạn-niên của bản Thánh-dụ.

    (366) Ác côn: Nguyên-bản đề là ác-côn, những tay du-côn hung-ác độc-địa, vì chữ ác-côn không thông dụng nên dịch là ác-ôn.

    (367) Đây chắc ám-chỉ Lê-văn-Duyệt, Lê-văn-Khôi(1833).

    (368) Quí-sỉ: xấu-hổ, thẹn-thùng với người khác và với chính mình vì đã làm điều không chính-đáng.

    (369) Cắn rốn: hối-hận, dịch câu phệ tê hà cập nghĩa là cắn rốn bằng răng thì làm sao mà cắn cho tới được.




    Phần III

    Thánh-huấn thập điều

    Diễn-nghĩa ca

    Phiên-âm và chú-giải


    A

    KHAI MÀO.


    1. Vâng lời thánh-dụ([1]) đành-rành([2])

    Từ xưa, chúa thanh vua minh cầm quyền,

    Lấy đạo chính, dạy dân đen,

    4. Ắt toan dân hóa, tục nên, làm đầu([3]).

    Mình làm trước, chúng dõi([4]) sau,

    Thêm lời dạy-dỗ phép mầu đủ theo.

    Còn lo dân cảm([5]) chẳng đều,

    8. Gần xa nghe thấy ít nhiều khó in([6]),

    Lại bày năm đến tháng giêng([7]),

    Có quan ra lệnh rao lên khắp đường,

    Cùng quan lớn ở châu làng,

    12. Nhóm dân([8]), đọc những phép thường, dạy chung.

    Khiến hay nhà biết cửa thông([9]),

    Dấy điều nhân-nhượng([10]) nên công trị bền.

    Nước ta Nam-Việt dựng nền,

    16. Hai trăm năm lẻ, thần truyền thánh noi.

    Đức lành thấm-thía đầy vơi,

    Chính-thuần thói tốt lâu dài mới nên.

    Ngửa vâng Thế-tổ([11]) nổi lên,

    20. Võ-công cả định([12]), rối nghiêng đã rồi([13]).

    Dựng làm nhà học nuôi tài([14]),

    Lại ban điều-lệ sửa giùi thói tây([15])

    Chính hay cùng phép dạy hay([16])

    24. Thấm dân, dạo chính tốt tày đời xưa.

    Đức Hoàng-tổ thánh có dư,

    Cơ-đồ lớn, phép-tắc thừa nối noi.

    Rát toan dạy kế giàu rồi ([17]),

    28. Lâu nay yên vỗ, tha thôi thuế thường.

    Một niềm đau-đáu xót-thương,

    Ra ơn nuôi giúp bốn phương trẻ già,

    Tuy chưa hay khiến([18]) dân ta,

    32. Nơi nơi đông-đảo, nhà nhà giàu vui.



    CHÚ-THÍCH: (Phần chú-thích này chỉ chú-trọng đến văn nôm, về điển-tích và từ-ngữ Hán, xin xem phần II, chương 3)

    [1] Thánh dụ: Lời dạy của vua, ở đây là vua Minh-mệnh. Minh-mệnh thập điều được ban-bố năm 1834. Tự-đức tuyên bố lý-do phiên-dịch của bản Thánh-dụ huấn-địch thập điều là vì muốn “vâng lời thánh-dụ đành-rành” nhưng có thực là vì tinh-thần kỷ-cương hay vì bị thúc-đẩy bởi lòng hối-hận phát-sinh từ những hành-động bất-đắc-dĩ năm 1854 và 1866? Dù sao cũng không thể phiến diện cho rằng Tự-đức đã vì tham-vọng mà đối-xử tàn-nhẫn với Hồng Bảo và gia-đình, bời vì Tự-đức là người không có tham-vọng chính-trị; sự đối xử tỏ ra tàn-nhẫn vì ta có thói quen nhìn nhận hành-động này dưới cạnh-khía tình-cảm, nhưng một ông vua như Tự-đức, dù đa-cảm, vẫn không thể xử-sự theo tình-cảm gia-đình. Đó là cái bi-đát trong đời sống tình-cảm của Tự-đức mà ta phải tìm hiểu cặn-kẽ.

    [2] Đành-rành: Rõ-ràng, rành-rọt.

    [3] Ắt toan dân-hóa, tục nên, làm đầu: Dịch câu: Tất dĩ hóa dân thành tục vi tiên vụ của nguyên-bản, nghĩa là: tất phải lấy việc hóa dân thành tục làm việc đầu tiên. Hóa dân là làm cho người được văn-minh tiến-bộ hơn; thành tục là làm cho việc người dưới bắt chước người trên được kết-quả (Chữ lấy trong Lễ-ký, xem chú-thích trong bản Hán-văn)

    [4] Dõi: Theo, bắt chước, nói rõ chữ tục nên ở câu trên. Câu 5 nói về nhiệm-vụ của nhà lãnh-đạo. Người lãnh-đạo phải làm gương, làm mẫu mực cho quần-chúng, phải nghi-hình, nghĩa là làm khuôn-mẫu cho người khác mới có thể lôi-cuốn họ, giáo-hóa họ.

    [5] Dân cảm: Dân hiểu được bài học.

    [6] Câu 7 và câu 8 dịch câu: Hựu lự dân chi quan-cảm bất-nhất, thị-thính nan tề (nguyên-bản), nghĩa là: lại còn lo sự xem hiểu của dân không giống nhau, việc thấy nghe của dân không đều nhau… Khó in dịch chữ nan tề, nghĩa là khó đều-đặn với nhau, khó đi đúng với nhau theo một khuôn-khổ.

    [7] Lại: Dịch chữ tắc, phải hiểu là còn, cho nên. Năm đến tháng giêng: Cứ vào tháng giêng mỗi năm. Lệ này căn-cứ vào kinh Thư(xem chú-thích bản Hán-văn)

    [8] Nhóm-dân: Họp người làng lại tại chỗ.

    [9] Khiến hay nhà biết cửa thông: DỊch câu: Dụng năng gia dụ bộ hiểu: làm thế nào cho nhà dạy cửa hiểu, nghĩa là tất cả mọi nơi, người dân ở bất-cứ chỗ nào cũng được nghe giảng và hiểu rõ.

    [10] Dấy điều nhân-nhượng: Hưng nhượng, hưng nhân, làm cho tinh-thần khiêm-tốn, nhường-nhịn nhau, lòng thành-thật yêu-thương nhau được nẩy-nở. (Xem Đại-học, IX, 3)

    [11] Thế-tổ: Vua Gia-long (Hoàng-khảo Thế-tổ Cao-hoàng đế)

    [12] Cả định: Đại định, đã dẹp yên nạn lớn, đã sắp đặt mọi sự yên ổn (Chữ lấy trong kinh Thư, quyển IV, Vũ thành, 3)

    [13] Rối nghiêng đã rồi: Giải-thích chữ cả định. Rối nghĩa là xong xuôi. Rối nghiêng chỉ những khó-khăn chính-trị do nhà Tây-sơn gây ra.

    [14] Nhà học nuôi tài: Nhà Dục-tài, một bộ-phận nội-trú của Quốc-tử-giám, có học-bổng.

    [15] Sửa giùi thói tây: Dịch chữ chính tục, làm cho thói quen của người học được thẳng-thắn, chính-xác. Giáo-dục cổ Việt-nam rất chú-trọng đến vấn-đề huấn-luyện những thói quen tốt, điều mà ở Âu-châu, phải chờ đến Montessori mới hấy đề-cập đến. Thói tây: Thói xấu, hèn, ti-tiện.

    [16] Chính hay cùng phép dạy hay: Dịch chữ thiện chính thiện giáo, Chính là chủ-trương về xã-hội, kinh-tế, giáo là quan-điểm về văn-hóa, sư-phạm. Giáo-dục xưa đề-cao sự hòa-hợp giữa lý-thuyết và thực-hành, cả hai phải đi đôi với nhau(cùng) mới gây được truyền-thống dân-tộc(tốt tày đời xưa). Các nhà giáo-dục cổ quan-niệm giáo-dục là một công-trình lâu dài, phải liên-tục từ đời trước đến đời sau; tác-dụng của nó rất chậm chạp, nhưng chính-xác và hữu-hiệu. (Xem Mạnh-tử, Tận-tâm thượng, XIV, 2.)

    [17] Rất toan dạy kế giàu rồi: Dịch câu thâm tư phú nhị hậu giáo chi nghĩa: Suy-nghĩ sâu-xa làm thế nào cho dân giàu-có đã rồi mới dạy họ; đây là chủ-trương của Khổng Mạnh, làm cho dân có tiền đã, rồi mới dạy chữ nghĩa, phú chi rồi mới giáo chi.(Xem Luận-ngữ, Tử-lộ XIII).

    [18] Hay khiến: Dịch chữ năng sử, có thể làm cho. Cả câu 31, dịch câu: Tuy vị năng sử ngôn dân: tuy rằng chưa có thể cho dân.
  • Chia sẻ trang này