0073.00019

27/1/16
0073.00019
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}


    Song dung-nuôi đặng thảnh-thơi([19]),

    Kể dư năm, với chẵn mười năm nay.

    Dạy khuyên sửa thói cho hay([20]),

    36. Thực là đã đáng buổi này chứ sao.

    Khắp nơi từng đã dụ rao,

    Hỏi người thảo-thuận, tiết cao, nghĩa dày.

    Tỉnh nào một có tâu bày([21]).

    40. Liền ban với hậu, bêu hay bảng ngời([22]).

    Lại cũng hiền-chính nhữn(những) ai([23]),

    Cũng truyền các tỉnh tìm vời dâng lên.

    Thực là có chước dạy khuyên,

    44. Hẳn làm kế chót sửa nên thói lòng.

    Nghĩ dân hay biết lý chung, ([24])

    Nhà tranh quạnh, cũng tín-trung, có người.

    47. Thật-thà, thuần-hậu tính trời,

    Vốn không thiếu kẻ ở nơi quê mùa.

    Khí chịu mếch, muốn riêng mờ([25]),

    50. Có người làm vậy phải từ([26]) dạy răn.

    Người([27]) thường xem án bộ dâng([28]),

    Thấy người mê-dại nhẹ thân lưới hình([29]).

    53. Thánh-nhân([30]) thật rất thương tình,

    Lòng người([31]) chẳng nỡ, chẳng đành mười phần,

    Vả như nhữn(những) đứa hung-hăng,

    56. Cùng loài si-quyệt, lung-lăng, hoang-đàng([32]),

    Giám([33]) làm việc lỗi phép thường,

    Thấy, liền nát thịt, tan xương cả bầy ([34]).

    59. Vậy thì thuận-nghịch lý này,

    Thật đà tỏ rõ lắm thay, nên dè([35]).

    Có tai mắt, thảy biết nghe,

    62. Lọ là phải nói đủ bề mới thông.

    Nghĩ dân cũng dễ bảo([36]) cùng,

    Nên làm tại buổi thong-dong ngày thường([37]).

    Truyền làm dạy bảo([38]) mười chương,

    66. Với nghi-chú, các địa-phương ban cùng([39]).

    Mày([40]), quan ngoài với quan trọng,

    Đều nên nương([41]) Trẫm([42]) tấm lòng rộng thương.

    Bản in sao cấp([43]) các làng,

    70. Khắp truyền phủ-huyện học-đường hương-thân([44]).

    Bộ giao nghi-chú đều vâng,

    Truyền cho kẻ sĩ, quân, dân, biết đều([45]),

    Khá đam dạy bảo mấy điều([46]),

    74. Cứ kỳ giàng đọc, rõ nhiều, biết chung([47]).

    Khiến cho người đọc, nhà thông([48])

    Kẻ khôn lại sửa bảo cùn người ngây([49]),

    Sao cho ngày thấm tháng lây,

    78. Ai ai đều cũng ở hay, về lành.

    Mày, dân cùng sĩ cùng binh,

    Chớ rằng([50]) văn-lệ([51]) mà khinh mà nhàm.

    Ắt tua mình dõi sức làm,

    82. Cùng nhau bắt chước, cùng ham đua tày.

    Hẹn cho đổi mỏng theo dày([52]),

    Nhiễm nên thói tốt([53]) từ rày lần lên.

    Nhờ trời rước tốt lâu bền,

    86. Thảy nhiều phúc-phận, tôi liền đến dân([54]).

    Đều lên cõi thọi đài xuân,

    Triều-đình thịnh-trị thêm phần bền giai([55]).

    Thì người([56]) thương nghĩ([57]) chúng ngươi,

    90. Muốn nên, nên phải dạy nuôi([58]) đủ điều.

    Tấm lòng khổ biết bao nhiêu,

    92. Mới là không phụ vì theo dạy([59]) này.


    ĐÔN NHÂN LUÂN

    93. Một điều ([42]) là dạy làm vầy([43]),

    Đôn nhân-luân gọi nên dày đạo ta([44])

    Đạo người lại có chi qua?

    96. Trước nên tỏ biết([45]) năm ba lý này:

    Vua tôi phải có nghĩa dày,

    Cha con thân lắm, khuyên mày thương hơn.

    Vợ chồng có biệt, chớ lờn.

    100. Anh em có thứ, bàn đoàn coó tin([46]).

    Đấng người năm ấy lớn trên,

    Đấng người đã tỏ mới nên đạo người([47]).

    Người([48]) nguyền khắp hết chúng ngươi,

    104. Đạo người đều biết hậu hoài([49]) làm hay.

    Làm quan vâng phép noi ngay,

    Hết lòng làm việc, sức này tiếc chi.

    Học-trò giảng học rõ nghi,

    108. Giùi mài nên giống để khi nước dùng.

    Làm binh cùng tráng cũng chung,

    Đi buôn cùng thợ cùng nông, là cày.

    Siêng vui nghề-nghiệp là hay([50]).

    112. Đạo thường mày toại, phận mày mày lo.

    Trong thì mới đặng ám no([51]),

    Trên([52]) thờ cha mẹ, dưới phò([53]) vợ con.

    Ngoài thì thuế viết([54]) nộp tròn,

    116. Lòng thường muốn phải giục dồn việc quan,

    Kẻ đi ở lính, phận an,

    Chớ lìa đội-ngũ mà toan trốn hoài.

    Chớ quen biếng nhát(nhác)([55]) hè lui([56]),

    120. Thường thì tập võ, có sai([57]), xốc([58]) vào.




    [19] Song dung-nuôi đặng thảnh-thơi: Dịch câu: Nhiên nhin hàm dưỡng an-dật. Hàm là dung-nạp, chứa-chất ở trên trong, dưỡng là nuôi-nấng cho lớn lên; hàm-dưỡng xét về giáo-dục là dung học-vấn để làm cho khí-chất biến-hóa đi. Vậy dung-nuôi là nói về công-trình giáo-huấn của vua mm, đức Hoàng-tổ thánh có dư(câu 25). Trong nguyên-bản, tác-giả xưng là Trẫm; trong bản Nôm, vua Tự-đức không giữ chữ Trẫm mà đổi ra là người.

    [20] Dạy khuyên sửa thói cho hay: Dịch câu giáo-huấn chính-tục, Chữ lấy trong Lễ-ký, Khúc-lễ thượng, nghĩa là dạy bảo, sửa đổi phong-tục, tập-quán.

    [21] Một có tâu bày: Dịch chữ nhất hữu tấu thượng: Nếu có một tỉnh nào tấu lên. Danh-xưng tỉnh( đầu câu 39) có từ năm 1831, thay cho trấn.

    [22] Bêu hay bảng ngời: Dịch chữ tinh thưởng, tinh là tiêu-biểu, là cái nêu, cái mốc để cho người khác nhìn lên mà bắt chước. Ngày xưa, người có đức-hạnh đáng khen được vua cho dựng nhà cao, treo bảng vàng rực-rỡ( bảng ngời) để tưởng-lệ và khuyến-khích người khác làm theo điều thiện. Bêu là treo lên, hay là cái tốt cái đẹp. Chữ bêu có thấy trong Quốc-âm thi-tập và Lâm tuyền kỳ-ngộ. (Khiêm-nhường ấy mới bêu quân-tử, Quốc-âm thi-tập, số 113)

    [23] Nhữn, đọc là những: Bản Nôm viết là nhẫn, nhữn, cách viết sai chính-tả của đồng-bào Trung-Việt. Tất cả mọi chữ những trong bản này đều viết sai như thế.

    [24] Nghi dân hay biết lý chung: Hay biết chữ dịch chữ tri năng, có thể biết, cái khả-năng hiểu biết. Nhà vua quan-niệm rằng cái lý chung, nói rõ hơn ở nguyên-bản là cái dân di vật tắc, cái đạo thường của người dân và cái khuôn phép của sự-vật thì ai cũng đều có biết biết hết. Câu này làm cho ta liên-tưởng đến câu của Decartes: Le bon sens est la chose du monde la mieux partagee trong cuốn Discours de la methode (lương-tri là cái gì trong đời được phân-phối đồng-đều nhất). Xem kinh Thi, thiên Chưng dân.

    [25] Khí chịu mếch, muốn riêng mờ: dịch câu khi bẩm sở tế, vật dục sở hôn, cái khí-bẩm bị che, lòng vật-dục bị mờ. Ở dây, sở tế được dịch là chịu mếch, nghĩa là bị sai chạy, mẻ sứt đi, vật-dục được dịch là muốn riêng, cái ý muốn riêng tư của mỗi người.

    [26] Từ: từ-từ, thong-thả, lần-lần. Người nào bị vật-dục làm cho mù-quáng thì phải thong-thả, kiên-nhẫn mà khuyên-bảo.

    [27] Người: Vua Minh-mệnh. Trong bản Hán-văn, vua tự xưng trực-tiếp là Trẫm.

    [28] Bộ dâng: Các bộ đệ-trình nhà vua. Ở dây là bộ Hình.

    [29] Thấy người mê-dại, nhẹ thân lưới hình: Dịch câu: Kiến hữu ngoan-minh vô-tri, khinh-phạm pháp-võng, nghĩa là thấy có người ngu tối làm càn mà không biết, coi thường mà lấn vào vòng của phép nước.

    [30] và 31) Thánh nhân, lòng người: Chỉ Minh-mệnh



    [32] Cả hai câu 55 và 56, dịch câu: Thả như vô-lại ác-côn, cập cuồng giảo bất sinh chi đồ. Lung nghĩa là không giữ lễ phép. Không biết kiêng-sợ (tiếng miền Nam). Lung-tăng: ngang-tàng, theo tính nóng-nảy hung-bạo mà tỏ ra dữ-tợn, độc-ác.

    [33] Giám: Dịch chữ cảm, bản Nôm viết rõ-ràng chữ giám, như trong chữ giám-đốc. Như vậy, căn-cứ trên âm đầu gi mà người Trung và người Nam không bao giờ viết sai, ta có thể khẳng định âm giám do âm cảm mà ra, và phải viết với gi; viết dám là sai chính-tả. Tuy nhiên, chữ dám đã trở thành thông-dụng.

    [34] Thấy, liền nát thịt, tan xương cả bầy: Chủ-tử là vua Minh-mệnh. Nếu ta biết được, tất cả những bọn phạm-pháp ấy sẽ bị trừng-trị nghiêm-ngặt.

    [35] Nên dè: Phải cẩn-thận mà kiêng-nể, giữ-gìn. Chữ nên dè để ở cuối hai câu lục bát dài là cả một nghệ-thuật dùng chữ để làm cho người đọc chú-ý tới tầm quan-trọng của lời cảnh-cáo. Trong nguyên-bản Hán-văn, không có lời cảnh-cáo này.

    [36] Bảo: có thể đọc là biểu.

    [37] Nên làm tại buổi thong-dong ngày thường: Dịch bốn chữ: đương tại bình-thời.

    [38] Dạy-bảo: Dịch chữ huấn-địch, lời chỉ-bảo dạy-dỗ.

    [39] Với nghi-chú: Kèm thêm bản nghi-chú, lời chua thêm để làm mẫu do bộ Lễ nghĩ-soạn theo sắc-lệnh của nhà vua, và ban-hành đồng-thời(ban cùng) với bản huấn-địch. Như vậy, nhờ sự tiết-lộ này, ta có thể khẳng-định rằng vua Minh-mệnh chỉ soạn-thảo các tiêu-đề của bản Thánh-dụ huấn-địch thập điều và phần nghi-chú, tức phần bình-giải là của các quan trong bộ Lễ. Các quan đó là những ai? Ai là người bình-giải chính-thức? Vấn-đề này hiện chưa đủ tài-liệu để giải-quyết, nhưng phải được đặt ra.

    [40] Mày: Dịch chữ nhĩ. Quan trong là các quan kinh-doãn, quan ngoài là các quan tổng-đốc, tuần-phủ, bố-chính, án-sát như trong bản Hán-văn đã liệt-kê. Tổ-chức hành-chánh này bắt đầu hoạt động năm 1831

    [41] Nương: Dịch chữ thể nghĩa là mình đặt vào đấy, như nói thể theo.

    [42] Trẫm: Ta đây, tiếng xưng chung của mọi người quí-tộc, sau nhà vua mới độc-quyền sử-dụng.

    [43] Sao cấp: Sao ra và cấp-phát, chép lại nhiều bản và tống-đạt đi các nơi.

    [44] Hương-thân: Trong nguyên-bản để rõ là tổng-lý xã-thôn, ở đây dịch gọn là hương-thân. Thân là các nha-quan, các vị chức-sắc.

    [45] Biết đều: cùng biết cùng hiểu

    [46] Khá đam dạy bảo mấy điều: Dịch câu tương thử đẳng giáo-điều, đem mấy điều giáo-huấn ấy. Dạy bảo mấy điều hiểu là mấy điều dạy bảo, tức mấy giáo-điều này.

    [47] Cứ kỳ giảng đọc rõ nhiều, biết chung: Dịch câu dĩ kỳ tuyên độc giảng minh, định một ngày nào đó rồi cứ đến ngày ấy, các hương-thân nhóm họp dân-chúng đến, đọc to bản huấn-dụ cho mọi người nghe, rồi cắt-nghĩa rõ-ràng từng chữ. Rõ nhiều là nhiều người rõ, nhiều người hiểu; biết chung, tất cả điều biết, điều hiểu nghĩa. Kỳ giảng đọc thường định vào tháng Giêng theo ý của nhà vua (xem câu 9). Lệ này có thấy đề-cập tới trong kinh Thư(xem lời chú trong chú-thích phần phiên-âm Thập điều).

    [48] Khiến cho người đọc, nhà thông: Dịch câu vụ sử gia truyền nhân tụng. Cốt làm cho nhà này đem tài-liệu học-tập sang nhà kia, mỗi người đều có cơ-hội đọc to lên một cách rành-rọt, rõ-ràng. Phải công-nhận lời dịch không được sát nghĩa.

    [49] Kẻ khôn lại sửa bảo cùng người ngây: tự giáo-dục lẫn nhau. Ngày xưa nền giáo-dục tráng-niên rất được chú-trọng và phổ-biến.

    [50] Chớ rằng: Đừng cho rằng, chớ nói.

    [51] Văn-lệ: Dịch chữ cụ-văn, nghĩa là văn sáo, văn đủ câu cách không có gì hay.

    [52] Đổi mỏng theo dày: Dịch chữ cách bạc tùng trung, đổi lòng khinh bạc mà ăn ở theo lòng trung. Chữ dày hợp với chữ hậu hơn với chữ trung, nhưng ta thường nói trung-hậu nghĩa là đãi người một cách dày-dặn, tử-tế, vậy dịch trung là dày rất đúng nghĩa, vừa đối chỉnh với chữ mỏng ở trên vừa bóng-bảy.

    [53] Nhiễm nên thói tốt: Dịch chữ huân-thành mỹ-tục. Hun thành thói tốt, nhiễm nên thói tốt. Huân nghĩa là hun, bốc lên như lửa, khí-thế mạnh mẽ hơn chữ nhiễm.

    [54] Tôi là thần, nghĩa là các quan.

    [55] Giai: Bản Nôm viết chữ giai là đẹp, đúng ra phải viết là dai (chữ Nôm dùng chữ di trong mọi rợ). Nhiều chỗ nhầm-lẫn hai âm đầu gi-di như ta phỏng-đoán rằng người soạn nghi-chú của bản Thánh-dụ có lẽ là một người Bắc.

    [56] Người: Dịch chữ Trẫm trong nguyên-bản chỉ vua Minh-mệnh

    [57] Thương nghi: Dịch chữ quyến niệm, nghĩ đến không rời.

    [58] Dạy nuôi: Dịch chữ giáo-dục của bản Hán-văn.

    [59] Vì theo dạy này: Vì theo giáo-điều này. Câu này không có trong nguyên-bản chữ Hán.

    [42] Một điều: Điều một

    [43] Làm vầy: Như thế này.

    [44] Đôn nhân-luân gọi nên dày đạo ta: Đôn là dày-dặn, như nói đôn-hậu, đôn-hóa, đôn-huệ, đôn-mục; nhân-luân là đạo thường con người phải noi theo. Dày đạo ta là giải-thích ý-nghĩa của ba chữ Hán đôn nhân-luân.

    [45] Tỏ biết: Biết tỏ, hiểu rõ-ràng, cặn-kẽ. Các câu 94,95,96, dịch câu Hán-văn: Nhân-đạo mục tiên ư minh luân, đạo người không gì là làm cho sáng đạo thường trước hết.

    [46] Các câu 97,98,99,100 dịch câu Hán-văn: Quân-thần hữu nghĩa, phụ-tử hữu thân, phu-phụ hữu biệt, huynh-đệ hữu tự, bằng-hữu hữu tín: Vua tôi có nghĩa, cha con có tình thân, vợ chồng có phân-biệt, anh em có trên dưới, bạn bè có lòng tin.

    [47] Câu 101 và 102 dịch câu: thử nhân chi đại-luân dã, nhân-luân minh nhi hậu nhân-đạo lập; tác-giả phân-biệt nhân-luân và nhân-đạo và ta phải định-nghĩa chính-xác hai danh-từ này mới có thể dịch đúng ý câu văn trên. Luân là luật tự-nhiên, cũng có nghĩa là loài, bậc, đấng, do đấy, vua Tự-đức đã dịch nhân-luân là đấng người; đấng người năm ấy lớn trên (câu 101). Năm ấy tức là đại-luân hay ngũ-luân là quân-thần, phụ-tử, phu-phụ, huynh-đệ, bằng-hữu (xem chú-thích số 5); lớn lên dịch chữ đại trong đại-luân, như vậy câu tử nhân chi đại luân đã có thể dịch là: ấy cái thứ bậc lớn-lao của con người là như vậy. Đạo nghĩa đen là con đường cái, thẳng suốt, dẫn đến một chỗ nào nhất-định. Sách Trung-dung định-nghĩa đạo là suất tính chi vị đạo, tuân theo tính, theo thiên-mệnh gọi là đạo, đạo là con đường đưa đến thực-hiện cái tính bản-nhiên của con người. Vậy nhân-đạo là phương-tiện, và nhân-luân là cứu-cánh, do đấy, nhân-luân minh nhi nhân-đạo lập nghĩa là đấng người có tỏ rõ thi đạo người mới đứng vững. Tự-đức dịch là: đấng người đã tỏ mới nên đạo người (câu 102) thật là rành-mạch và chính-xác từng chữ. Nhân-luân có thể hiểu là nhân-vị như chủ-trương của Mounier.

    [48] Người: Vua Minh-mệnh, Nguyền: xin cho, mong cho.

    [49] Hậu hoài: ôm-ấp trong lòng một cách thiết-tha, quý-trọng.

    [50] Siêng vui nghề-nghiệp: dịch câu lạc nghiệp phục cần, nghĩa là vui với nghề của minh và chịu khó chăm-chỉ làm việc.

    [51] Mới đặng ấm no: sáng-tác của Tự-đức, trong chính bản có.

    [52] Trên: dịch chữ ngưỡng, ngẩng lên trên.

    [53] Dưới phò: dịch chữ phủ dục, cúi xuống nuôi-nấng dạy bảo. Chữ dục được dịch là phò, hơi tối nghĩa và ít có vẻ thông-minh nhất nam-tử. Dục có nghĩa là nuôi cho khôn lớn.

    [54] Thuế viết: dịch chữ tô-phú, tiền phải nộp cho nhà nước.

    [55] Biếng nhát: bản nôm viết sai chính-tả, phải hiểu là biếng nhác.

    [56] Hè lui: rủ nhau bỏ công việc.

    [57] và (17) Có sai: dịch chữ hữu sự là có việc, có sai bảo làm gì thì xốc vào nghĩa là xông vào làm ngay, dịch câu phấn dũng hướng tiền, mạnh-mẽ xông đến trước.
  • Chia sẻ trang này