0073.00020

27/1/16
0073.00020
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}

    Kẻ làm lại([18]) các nha tào([19]),

    Chớ gian chữ nghĩa tuôn(tuông)([20]) phao([21]) phép lề.

    Chớ ăn xâm([22]) của lê dân([23]),

    124. Ngày đêm siêng-sắn([24]) chẳng lìa việc công.

    Còn như đạo ở thảy đồng([25]),

    Thờ thân([26]) thảo-kính, vợ chồng hòa nhau.

    Anh em thương lắm tranh đâu,

    128. Bạn bè tin thực chẳng màu đối-khinh.

    Khá nghe lời sách Trung-kinh,

    “Người hiền giữ đạo ắt mình tốt-lâu”([27]).

    Chúng ngươi thật ở như cầu,

    132. Đạo thường([28]) đã định, phúc sau lại giành([29])

    Nước nhà lâu đặng trị bình,

    134. Rỡ thay([30]) phải vậy để danh không cùng.


    (II)

    CHÍNH TÂM-THUẬT


    Hai điều([14]) là sửa chước lòng ([15]),

    136. Chính tâm-thuật ấy nghĩa thông làm vầy.

    Vả lòng là cội([16]) người vay,

    Dòng theo nguồn sạch, bóng tày cây ngay([17]).

    Lòng ngay, muôn tốt thửa bày([18]),

    140. Mếch, sinh trăm chữ, há mày theo lơi([19])?

    Vị Hoàng thượng-đế là trời,

    Cho lòng dân dưới([20]) há sai tính thường,

    Nghĩa, nhân, lễ, trí rỡ-ràng,

    144. Mới sinh ai cũng bốn đường([21]) đủ sinh.

    Người([22]) nguyền trăm họ vẹn mình,

    Lòng lành ([23]) thường giữ, tính lành([24]) thường trau([25]).

    Nghiệp làm([26]) tuy có khác nhau,

    148. Về lành([27]) cũng một([28]) khác đâu chẳng về([29])

    Kẻ giàu có chớ phí khoe([30]),

    Kẻ nghèo thì cũng chớ hề dối gian([31]).

    Chớ theo điều lợi phỉnh man([32]),

    152. Chớ sa nhữn(những)([33]) thói gian-ngoan dữ-dằn([34])

    Một lời dầu chẳng thẳng bằng([35]),

    Nết làm một việc dầu chăng đặng lành([36]),

    Mình đà biết hổ-hang mình([37]),

    156. Lòng ăn-năng(năn) lắm, mình đành cải đi([38]),

    Giữ sinh phải muốn lành nghì([39]),

    Bỏ xiên, dẹp dữ, đều về chưng ngay([40]).

    Bằng chăng răn xét lầm ngây([41]),

    160. Ắt điều nhơ, xú, tà, tây, đều làm([42]).

    Mang hình mới nghĩ sao kham([43]).

    Ví như cắn rốn chỉn cam không gần([44]).

    Thư rằng: “theo thuận lành thân,

    164. Nghịch thì mang dữ, ứng thần bóng vang.”

    Lòng người ([45]) nuôi dạy dân nhàn([46]),

    Muốn xem nên đức, thường nhan mắc hình([47]).

    Chúng ngươi bằng muốn giữ sinh([48]),

    160. Mình nên ngẫm-nghĩ lấy mình mới nên([49])

    III

    VỤ BẢN-NGHIỆP


    Ba điều([50]) giữ nghiệp cho chuyên([51]),

    Trời sinh dân thảy phó riêng nghiệp làm.

    Người đều chọn nghiệp gì kham([52]),

    172. Dựng mình lấy đó chuyên ham vốn này([53]).

    Học-trò, làm ruộng, thợ, thầy,

    Bán buôn, vườn tược, lưới chài, chăn coi.

    Dẫu mà lính tráng, đội cai,

    176. Đều nhờ có nghiệp, để nuôi sống mình.

    Siêng-năng nghiệp ấy mới thành,

    Bằng mà trễ-nải, nghiệp đành bỏ đi.

    Bằng chuyên gắng sức nghiệp chi([54]),

    Kế lần sau, cũng có khi đặng thành.

    Học-trò trau nết, sạch mình,

    Học nhiều, nghe khắp, quyết dành đến nên.

    Dẫu nhằm trước mắt lợi hèn,

    184. Cũng đừng tham gấp mà quên chí chờ([55]).

    Ruộng thì sửa cái cày bừa,

    Siêng công cấy gặt, quyết nhờ đủ no.

    Dẫu khi đặng mất khác mùa([56]),

    188. Cũng đừng thấy vậy, thôi lo nghiệp thường([57]).

    Với như thợ([58]) sắm hóa hàng ([59]),

    Bán buôn([60]), của-cải([61]) mọi đường nhiều thông([62]).

    Cùng quân nghề võ tập tòng([63])

    192. Những người có việc để dùng nuôi thân([64]).

    Tập an lại với làm cần([65]),



    [18] Làm lại: Làm các chức hành-chánh dưới quyền quan.

    [19] Nha tào: các công-sở.

    [20] Tuôn: xông tới, chạm phải. Phải viết là tuông.

    [21] Phao: Vất đi, ném đi. Tuông-phao dịch chữ lộng, nghĩa là khinh nhờn, coi là trò đùa. Lộng pháp dịch là tuông-phao phép lề rất sát và mạnh nghĩa.

    [22] Ăn xâm: không phải của mình mà cứ dùng sức mạnh để lấn-át tranh giành cho được.

    [23] Dân lê: dịch chữ tiểu-dân trong nguyên-bản, cũng gọi là lê-dân, dân đen, những hạng bần-cố-nông khổ-cực.

    [24] Siêng-sắn: tiếng đôi, nghĩa là chăm-chỉ, cần-mắn. Từ câu 105 đến 124, tác-giả binh-giải câu quân-thần hữu-nghĩa và ấn-định nhiệm-vụ của bầy tôi. Trong liên-hệ quân-thần, thần có nhiệm-vụ với quân, còn quân có nhiệm-vụ với dân. Sự phân-nhiệm kể cũng khá minh-bạch.

    [25] Câu đưa đẩy, không có trong nguyên-bản.

    [26] Thờ thân: sự phụ-mẫu, thờ cha-mẹ.

    [27] Người hiền giữ đạo ắt mình tốt lâu: dịch câu quân-tử thủ đạo sở di trường thủ kỳ hưu, nghĩa là: người quân-tử giữ đạo là giữ được lâu dài ơn phúc cho mình. Chữ trường thủ kỳ hưu dịch là ắt mình tốt lâu, rất sát nghĩa.

    [28] Đạo thường: dịch chữ di luân. Di là thường. Luân là luật tự-nhiên, di-luân đồng nghĩa với luân-thường. Dịch di-luân là đạo thường cũng đúng nhưng không được chính-xác như đã phân biệt ở câu 101 và 102.

    [29] Giành: Lấy lại, để sẵn đấy cứ việc đến lấy. Chữ Giành dịch chữ trăn nghĩa là đến, ( không được sát nghĩa). Đề-nghị dịch là: đạo thường đã định, phúc mầu đến nhanh.

    [30] Rỡ thay: Sáng-sủa thay. Bây giờ ta nói rạng-rỡ rực-rỡ, mừng-rỡ, không dùng chữ rỡ riêng biệt.

    [14] Hai điều: điều thứ hai.

    [15] Sửa chước lòng: dịch đầu đề số 2: chính tâm-thuật.

    [16] Cội: gốc, như nói cội cây là gốc cây. Cả câu 137 dịch Hán-văn: tâm giả thân chi bản dã, lòng ấy là gốc của người vậy. Chữ vay ở trên nghĩa là như vậy, như thế đó, có tính-cách khẳng-định.

    [17] Cả câu 138 và sáng-tác của dịch-giả, trong nguyên văn không có.

    [18] Lòng ngay muôn tốt thửa bày: Dịch từng chữ trong nguyên bản: kỳ tâm chính tắc vạn thiện sở do sinh, tâm chính là lòng ngay, vạn thiện là muôn tốt, sở là thửa, sinh là bày.

    [19] Mếch, sinh trăm dữ, há mày nên lơi: kỳ tâm chính bất chính bách ác sở tùng xuất, khả bất thận dư ? Mếch nghĩa là xiêu vẹo, lệch sang một bên, không thẳng, dịch chữ bất chính; trăm dữ dịch chữ bách ác, lơi nghĩa là nới rộng ra, không chặt-chẽ như trước, dịch rất gọn và rất đúng chữ bất thuận. Há mày nên lơi: chả nhẽ không thận-trọng hay sao? Chẳng lẽ lại cẩu-thả chàng?

    [20] Dân dưới: hạ dân.

    [21] Bốn đường: dịch chữ tứ đoan bốn mối, tức là: nghĩa, nhân, lễ, trí. Mới sinh dịch chữ sơ sinh.

    [22] Người: chỉ vua Minh-mệnh, dịch chữ Trẫm.

    [23] Lòng lành: dịch chữ lương tính.

    [24] Tính lành: dịch chữ lương tính

    [25] Trau: sửa-soạn mài giũa cho trơn bóng, chải-chuốt; ở đây, dịch chữ tồn dưỡng, nghĩa là luyện-tập nuôi-nấng, giữ gìn săn-sóc cho nẩy-nở hơn.

    [26] Nghiệp làm: dịch chữ sở-nghiệp, công việc của mình đã làm ra: chữ nghiệp ở đây là nghĩa thông-thường, không phải chữ nghiệp của nhà Phật, nghĩa là duyên-kiếp sẵn từ những đời trước.

    [27] Về lành: dịch chữ hướng thiện.

    [28] Cũng một: dịch chữ tắc nhất, nghĩa là tuy việc làm người ta khác nhau. Nhưng con đường hướng thiện chỉ có một mà thôi.

    [29] Khác đâu chẳng về: không có trong nguyên bản, dịch-giả thêm thắt ra cho trọn câu.

    [30] Phí khoe: dịch chữ kiêu xa, cậy mình giàu có và tiêu-pha quá đáng; kẻ giàu thì chớ phi khoe, dịch câu phú-giả vật chí ư kiêu-xa.

    [31] Kẻ nghèo thì cũng chớ hề dối-gian: dịch câu bần-giả vật lưu ư gian-ngụy.

    [32] Phỉnh-man: dịch chữ dạ, lấy lời nói đẹp mà lừa dối, mà giấu cái tính thực đi cho người ta không thấy.

    [33] Nhữn: bản nôm viết nhẫn, phải đọc là những.

    [34] Thói gian-ngoan dữ-dằn: dịch chữ ác-tập. Chớ sa những thói gian-ngoan dữ-dằn: vật hãm ư ác-tập.

    [35] Một lời dầu chẳng thẳng-bằng: cẩu hữu nhất ngôn chi bất chính, nếu có một lời nói nào không thẳng-thắn ngay thật.

    [36] Nết làm một việc đâu chẳng đặng lành: cẩu hữu nhất hạnh chi bất-thiện, nếu có một nết nào tốt. Nết làm dịch chữ hạnh, một việc chữ nhất, chẳng đặng lành, tức là chẳng được lành, dịch chữ bất thiện.

    [37] Mình đà biết hổ-hang mình: tất tri quí-sỉ ư tâm, tất dịch là đa, quí sỉ là hổ-hang, ư tâm, dịch bằng hai chữ mình.

    [38] Lòng ăn-năng lắm, mình đành cải đi: thâm tự cải hôi, dịch hơi dài dòng, nhưng mạnh nghĩa, trừ chữ đành có vẻ miễn-cưỡng. Chữ ăn năng, bản nôm viết là ăn-năng, phải hiểu là ăn-năn.

    [39] Giữ sinh phải nói muốn lành nghì: lạc thiện hiếu nghĩa dĩ bảo kỳ sinh, yêu điều lành, mến điều nghĩa để giữ-gìn cho sự sống của mình. Giữ sinh dịch chữ bảo sinh, phải muốn dịch hai động-từ lạc là một động-từ hay và hàm-súc nhất của từ-ngữ triết-học Khổng-tử, nghĩa thường là vui, ưa thích, nghĩa triết-học là thích đến nỗi như muốn để cho mình tan vào trong cái mình thích, để cho chủ-thể đồng-nhất với đối-tượng, nói lạc ư nghệ, lạc ư đạo (hay lạc đạo) là theo nghĩa này. Vua Tự-đức dịch lạc hiếu, là phải muốn kể cũng đã khá công-phu, nhất là khi ta hiểu chữ muốn không phải như là một tác-động của ý-chí, mà như là một tác-động sinh-lý(muốn: thèm).

    [40] Bỏ xiên, dẹp dữ đều về chưng ngay: tị ác khử tà, hàm qui vu chính; tị ác: dẹp dữ; khử tà: bỏ xiên; hàm qui: đều về; vu chính: chưng ngay.

    [41] Bàng chăng răn xét lầm ngây: nhược bát tư cảnh-tỉnh, nếu không lo cảnh tỉnh; cảnh là răn, tỉnh là xét, chăng là không.

    [42] Ắt điều nhơ, xú, tà, tây đều làm: dâm, tịch, tà, uế, vô sở bất vi.

    [43] Mang hình mới nghĩ sao kham: đáo thử hãm vu hình tru, đễn nỗi bị hãm vào hình tru, bị mang hình-áp

    [44] Cắn rốn chỉn cam không gần: phệ tê hà cập? cắn rốn(ăn-năn) sao còn kịp nữa, sao cho đến gần rốn được?

    [45] Lòng người: Chỉ vua Minh-mệnh, nguyên-văn là chữ Trẫm.

    [46] Nuôi dạy dân nhàn: Giáo-dưỡng vạn dân.

    [47] Muốn xem nên đức, thường than mắc hình: Nhà vua thích được thấy dân-chúng trở thành một cái gì, trở thành đạo-đức hơn chẳng hạn (bản Hán chỉ nói thành trống không mà thôi không có túc-từ) mà không thích thấy dân-chúng phải mắc vào vòng tù tội. Nguyên-văn: Lạc quan nhĩ đẳng chi thành, nhi bất lạc kiến nhĩ đẳng chi li vu cửu dã (lạc: ưa thích, quan: xem, nhĩ đẳng: các ngươi, li: mắc; cửu: tội-lỗi, tù-tội). Như vậy, câu văn trên của Tự-đức có thể cắt nghĩa là: Nhà vua được xem thấy dân-chúng trở thành đạo-hạnh hơn, nhưng chỉ buồn thấy cái cảnh dân-chúng bị lâm vào cảnh tù-tội, chỉ vì đã không theo thuận về lành.

    [48] Chúng người bằng muốn giữ sinh: Nếu chúng ngươi muốn cho đời sống của mình được bảo-vệ, được duy-trì, Bằng: nếu như

    [49] Mình nên ngẫm-nghĩ lấy mình mới nên: Nhĩ đẳng kỳ thận tư chi, chúng người phải suy-nghĩ về điều đó một cách kỹ-lưỡng.

    [50] Ba điều: Điều thứ ba

    [51] GIữ nghiệp cho chuyên: Dịch chữ vụ bản-nghiệp

    [52] Gì kham: Có thể làm được, phù-hợp với khả-năng của mình.

    [53] Dựng mình lấy đó chuyên ham vốn này: dĩ vi lập thân chi bản, lấy đó(nghiệp làm) làm gốc cho sự lập thân(dựng mình).

    [54] Bằng chuyên gắng sức nghiệp chi, kế lần sau, cũng có khi đặng thành: dịch câu đản năng năng nghiệp tinh-chuyên, bất giải dụng lực, tăc nhật kế bất túc, nguyệt kế tắc dư, chung tất kiến kỳ thành-hiệu hĩ: nếu có thể làm việc một cách chăm-chú, siêng-sắn, không lười dùng sức, mưu tính một ngày không đủ, mưu tính một tháng chắc thừa, cuối cùng chắn-chắn sẽ kết quả vậy . Gắng sức: dịch chữ: bất giải dụng lực; Kế lần sau: tính dần dần rồi cuối cùng; đặng thành: thành hiệu.

    [55] Chí chờ: dịch chữ đồ, nghĩa là mưu-toan về tương-lai.

    [56] Đặng mất khác mùa: mùa được mùa mất.

    [57] Thôi lo nghiệp thường: dịch chữ xuyết nghiệp hay chuyết nghiệp, bỏ nghề nửa chừng.

    [58] Thợ: người sống bằng nghề chân tay, dịch chữ bách công.

    [59] Sắm hàng hóa: dịch chữ sức hóa nhập tài, nghĩa là làm cho đồ vật đã làm đẹp hơn và mua sắm vật-liệu để làm đồ mới, ý nói người thợ chuyên-cần làm việc luôn tay không nghỉ. Câu với như thợ sắm hóa-hàng dịch không sát nguyên-văn nên khó rõ nghĩa; phải đọc câu chữ Hán: dĩ chí bách công chỉ sức hóa nhập tài, và hiểu dĩ chí là cho đến: (chứ không phải là với như) bách công: thợ thuyền; sức hóa nhập tài: sắm-sửa vật liệu, và hiểu cả câu là: thợ thuyền: sức hóa nhập tài: sắm-sửa vật liệu, và hiểu cả câu là: đến như thợ thuyền thì phải sắm-sửa vật-liệu,

    [60] Bán buôn: hiểu là người buôn-bán, dịch chữ thương cổ. Thương là mang đi bán, cổ là bán hàng tại nhà, vậy thương dịch là buôn, cổ là bán.

    [61] Của-cải: dịch chữ hóa-hối, vàng ngọc gọi là hóa, vải lụa gọi là hối.

    [62] Mọi đường nhiều thông: dịch Hán văn: phụ thông: phụ là nhiều, thông là truyền đạt đi từ chỗ này suốt qua chỗ khác. Đã làm nghề buôn-bán, phải làm sao cho hàng-hóa lưu-thông dễ-dàng, đó mới là một nhà thương-mại lành nghề và cần-mẫn.

    [63] Cùng quân nghề võ tập ròng: dịch câu: quân ngũ tắc giảng tập võ-nghệ. Quân nghĩa là người ở trong đội ngũ có tổ-chức chứ không phải là một loại-tự có tính-cách miệt-thị. Tập ròng là giảng-tập, tập đi tập lại.

    [64] Những người có việc để dùng nuôi thân: dịch câu: phàm hữu thường chức dĩ trị sinh giả, tất cả những người có công ăn việc làm để sinh sống. Những câu 189,190,191,192 là chủ từ chung của động-từ tập an, làm cần ở câu 193.

    [65] Tập an lại với làm cần: dịch câu: mạc bất tập nhi an yên, cần nhi hành yên, chẳng ai là không làm đi làm lại mà xong, chăm-chỉ mà làm. Chữ lại với là chữ thêm ra cho đúng luật thơ, nhưng có tác dụng tai-hại là làm cho câu thơ tối nghĩa. Chữ tập an và làm cần vì dịch không thống-nhất nên cũng khó hiểu, đáng lẽ phải dịch tập an cần hành, hoặc an tập, hành cần (làm cần) có thể rõ nghĩa hơn.
  • Chia sẻ trang này