0073.00021

27/1/16
0073.00021
  • PDF
    GoogleDocs

    [/MEDIA]
    {:Bang Tang Du Tu 1:}


    HUẤN-ĐỊCH THẬP ĐIỀU

    Vụ chưng bản-nghiệp, nghĩa phân rất hiền (17).

    Thư rằng: “nghiệp rộng tại siêng” (18),

    196. Chúng ngươi phải gắng (19) cho kền mới hay (20).

    ____________

    17) Vụ chưng bản-nghiệp, nghĩa phân rất hiền, dịch câu: thử vụ bản-nghiệp chỉ nghĩa dã, đó là chỉ vụ cái nghĩa bản-nghiệp vậy, cốt chú-trọng vào cái nghĩa bản-nghiệp, tức là nhắc lại đầu-đề. Nghĩa phân rất hiền: cái ý-chỉ của chủ-trương vụ bản-nghiệp được cắt ra một cách rành-mạch. Hiền nghĩa là tốt hơn, khôn-ngoan, vượt hẳn lên.

    18) Nghiệp rộng tại siêng: nghiệp quảng duy-cần, chỉ có chăm-chỉ là làm cho nghề-nghiệp phát-triển.

    19) Chúng ngươi phải gắng: nhĩ đẳng kỳ miễn chi.

    20) Cho kền mới hay: cho bền-vững, liên-tục. Chữ kền thường được hiểu là do chữ nickel của Pháp, và mới thực-dụng từ thời Pháp thuộc. Tự-vựng Alexandre de Rhodes (1649) chưa có, Tự-vựng Taberd, Phạm-đình-Hổ, ngay cả Tự-vựng Huỳnh-Tịnh-Của (1899) cũng không có. Âm kền cũng có thể đọc là kiền, chữ Hán nghĩa là vững bền, nhưng chữ kiền không có bộ tâm, ở đây chữ kền có thêm bộ tâm, vì vậy được đọc là kền.


    IV

    THƯỢNG TIẾT-KIỆM

    197. Bốn điều (1) Thượng tiết-kiệm này,

    Nghĩa rằng dùng của, chuộng hay sẻn chừng (2)

    Vả sinh của vốn có ngần,

    200. Sinh nhiều (3), ăn ít (4), làm nhanh (5), dùng từ (6),

    Vậy thì của luống đủ thừa (7),

    Thánh-hiền luật ắt kiệm vừa (8) trước minh (9)

    Thuở năm Minh-mệnh thừa bình (10),

    204. Dân-gian xa-xỉ, tục-tình chuộng theo.

    ___________

    1) Bốn điều: Điều thứ bốn.

    2) Câu 198 cắt nghĩa thế nào là thượng tiết-kiệm, đó là dùng của chuộng hay sẻn chừng.

    3) Sinh nhiều: Sinh chi giả chúng (chúng là nhiều), hiểu là: người sản-xuất thì đông.

    4) Ăn ít: Thực chi giả quả (quả là ít), hiểu là: người tiêu-thụ thì ít.

    5) Làm nhanh: Vi chi giả tật (tật là nhanh chóng), hiểu là: làm tích-cực.

    6) Dùng từ: Dụng chi giả thư (thư là từ-từ, thong-thả). Cả câu lấy chữ trong sách Đại-học, X,19.

    7) Đủ thừa: Dịch chữ túc, nghĩa là đầy đủ.

    8) Kiệm vừa: Dịch chữ tiết-kiệm, trên dịch là sẻn chừng (câu 198)

    9) Trước minh: Dịch chữ vi tiên, lấy làm trước hết.

    10)Thuở năm Minh-mệnh: Nguyên bản ghi là kim, nghĩa là nay ngày nay, thời Minh-mệnh tự nhận-định về triều-đại của mình.


    Mặc dùng (11) quá đỗi tốt nhiều (12),

    Khuyên mới qua lại (13) thảy đều phí nhăn (nhăng) (14)

    Lại thêm cúng Phật thờ Thần,

    208. Một đàn tiếu-tế (15) tính dần ngàn trăm.

    Lắm thay (16) đoàn dại tối-tăm (17),

    Mê-man nha-phiến, lung-lăm rượu cờ.

    Rồi đều nát của (19) chẳng dư,

    212. Làm hoang mắc tội, lòng thừa thương dân.

    ___________

    11)Mặc dùng: Dịch chữ y-phục, khí-dụng (áo mặc, để dùng).

    12)Quá đỗi tốt nhiều: Dịch chữ xa lệ quá độ, nhiều và đẹp quá mức cần-thiết.

    13)Khuyên mời qua lại: Thù-tạc vãng-lai, người mời đi, kẻ mời lại, trao-đổi nhau luôn luôn nên trở thành tốn-kém.

    14)Thảy đều phí nhăng: Suất đa phù-phí, thảy đều là tốn kém hão-huyền quá-độ. Nhăng dịch chữ phù, nghĩa là nổi lềnh-bềnh, không căn-cứ vào đâu; bản Nôm viết sai là nhăn.

    15)Tiếu-tế: Lễ-nghi cúng Thần-Thánh; tiếu nghĩa đầu là uống rượu, sau chỉ lễ cưới và lễ đội mũ có uống rượu, sau cùng chỉ lễ cầu-cúng của sư-sãi hay đạo-sĩ. Muốn tiếu-tế, phải lập-đàn, mua nhiều rượu, rất tốn kém (tính dần ngàn trăm).

    16)Lắm thay: Nhiều thay, dịch chữ thậm giả.

    17)Đoàn dại tối-tăm: Dịch chữ minh-ngoan chỉ đồ, lại hippies bây giờ.

    18)Lung-lăm: Hung-dữ, ngang-tàng, không giữ lễ-phép, không kiêng sợ một ai.

    19)Nát của: phá-sản khuynh ti (ti là tiền của).



    Chúng ngươi vâng dạy (20) cho thuần,

    Sửa mình, nhà, (21) lấy kiệm-cần làm khôn.

    Mặc ăn chớ quá tốt ngon (22),

    216. Ở, dùng bền thật (23), tế, chôn phải thường (24)

    Còn như đứa dại (25) quân hoang (26),

    Lầm ăn nha-phiến, rượu quàng đánh thua.

    Đều mau quyết bỏ quyết xua (27),

    220. Thư rằng: “giữ kiện chỉn lo lâu dài” (28).

    ____________

    20) Vâng dạy: nghe lời giáo-huấn, chỉ bảo, dịch chữ tuân trẫm huấn.

    21) Sửa mình, nhà: dịch chữ trì thân trị gia: sửa mình, coi sóc việc nhà.

    22) Mặc ăn chớ quá tốt ngon: dịch câu y-phục bất khả quá xa, ẩm-thực bất khả vô tiết, quần áo không nên sang-trọng quá, ăn uống không được thiếu chừng-mực.

    23) Ở dùng bền, thật: dịch câu phòng ốc, khí-cụ, vụ thủ chất-phác.

    24) Tế, chôn phải thường: dịch câu quan hôn tang tế đãn quí đắc nghi.

    25) Đứa dại: ngu-nhân.

    26) Con hoang: đãng-tử.

    27) Quyết bỏ quyết xua: Hán-văn: tốc nghi tẩy trừ, nên mau mau rửa bỏ đi.

    28) Giữ kiệm chỉn lo lâu dài, dịch câu thận nãi kiệm-đức, duy hoài vĩnh-đồ; kỹ-lưỡng về đức kiệm, chỉ có cách đó mới lo được những toan-tính lâu dài. Bốn chữ duy hoài vĩnh đồ đã được dịch ra từng chữ: chỉn lo lâu dài.




    Chúng ngươi ở đặng như lời,

    222. Hiệu giàu (29), thói kiệm (30), đều noi mỹ-miều.

    _____________

    29) Hiệu giàu: tóm-tắt câu ân phú chi hiệu khả trí, cái kết-quả về một đời giàu sang lớn-lao có thể đến.

    30) Thói kiệm: dịch câu kiệm ước chi phong thành, cái thói kiệm ước đã thành.



    V

    HẬU PHONG-TỤC

    Hậu phong-tục ấy năm điều (1),

    224. Rằng trong thói tục (2) nên theo hậu hiền (3).

    Hễ cùng nhà nước chẳng hèn,

    Thói thuần, tục tốt, hình bèn đặt không (4).

    Bác binh cũng xếp chẳng dùng (5),

    228. Chưng trong bốn biển ngợi khong thái-bình (6).

    Người (7) nguyền ai nấy làm lành,

    Coi nhau bắt chước đều thành đạo khôn (8).

    ___________

    1) Năm điều: điều thứ năm.

    2) Thói tục: dịch chữ phong-tục.

    3) Hậu hiền: dày-dặn, tốt-lành.

    4) Thói-thuần, tục tốt, hình bèn đặt không: dịch câu phong thuần tục mỹ, tắc … …, nghĩa là thói lành, tục tốt thì sẽ không phải trừng-phạt ai nữa.

    5) Bác binh cũng xếp chẳng dùng: dịch chữ binh tẩm, thôi việc binh.

    6) Chưng trong bốn biển ngợi khong thái-bình: … câu tứ hải chi nội, hữu thái-bình âm, nghĩa là ở trong bốn biển, có tiếng nhạc thái-bình. Ngợi khong: ca-tụng, khen.

    7) Người: vua Minh-mệnh, nguyên bản ghi trẫm.

    8) Coi nhau bắt chước đều thành đạo khôn: dịch câu tương-quan vi thiện giai chi đại đạo, cùng nhìn nhau làm lành, đều gọi là đạo lớn.


    Có ân-ý đãi bà con (9),

    232. Có tín-thuận, đãi xã-thôn thuận cùng (10).

    Hòa trên dưới, lấy khiêm-cung (11),

    Giàu không lấn khó, mạnh không lấn hèn (12).

    Cùng nhau thường giữ thương liền (13),

    236. Gặp khi có việc, chớ quên giúp phò (14).

    Chớ cưu thù-giận gianh-đua,

    ____________

    9) Có ân-ý đãi bà con: dịch câu hữu ân-ý dĩ hậu thân tộc, có ơn huệ, có tình-ý để làm cho tình họ-hàng được dày-dặn.

    10)Có tín-thuận, đãi xã-thôn thuận cùng, dịch câu hữu tín-thuận dĩ mục hương-đảng, có lòng tin, có lòng nghe theo nhau để cho làng xóm được hòa-hợp.

    11)Hòa trên dưới, lấy khiêm-cung, dịch câu hữu lễ nhượng dĩ hòa thượng hạ, có giữ tôn-ti trật-tự, có nhường-nhịn để trên dưới được ăn ý với nhau, không có mâu-thuẫn xung-đột.

    12)Giàu không lấn khó, mạnh không lấn hèn, dịch câu vô dĩ phú xâm bần, vô dĩ cường lăng nhược, không lấy tiền của ức-hiếp người nghèo, không lấy sức mạnh lấn át kẻ yếu kém.

    13)Cùng nhau thường giữ thương liền: dịch câu cư bình tắc tương bảo ái, ở bình thường thì cùng nhau yêu mến nhau. Chữ thương ở đây dùng theo nghĩa miền Trung, nghĩa là yêu-dấu, quí-mến, để ý động-từ thương của người Huế có tính-cách vương-vấn, kéo dài, không như chữ yêu có vẻ cộc-lốc. Thương nghiêng về tình-cảm, yêu nghiêng về lý-trí.

    14)Gặp khi có việc, chớ quên giúp phò, … câu hữu sự tắt chu tuất, khi có việc thì cứu giúp người hoạn-nạn.


    Chớ ham kiện-cáo, bỏ lo việc vàng (15).

    Giữ trông cùng dẹp trộm gian (16)

    240. Giấu gì trốn lính, khỏi can tội chuyền (17).

    Có lòng liêm thẹn ngay tin (18),

    Không làm những thói dối xiên hiểm nhèo (19).

    Học trò học ắt biết nhiều,

    244. Ở lòng thuần-hậu, gìn điều lặn (lặng) (20) an.

    Cày (21) thì chớ vượt lấn ngang,

    Chớ ngăn nước ruộng mà toan hại người.

    Thợ cùng buôn chớ tham lời,

    ___________

    15)Chớ ham kiện-cáo, bỏ lo việc vàng, dịch câu vật hiếu kiện-tụng dĩ phương sinh-lý, chớ háo kiện-tụng mà làm hại đến lẽ sống. Việc vàng dịch chữ sinh-lý, tuy hay, nhưng hơi xa nghĩa gốc.

    16)Giữ trông cùng dẹp trộm-gian: liên thủ vọng dĩ nhị đạo-tặc, cùng nhau giữ-gìn trông coi để dẹp trộm cướp.

    17)Giấu gì trốn lính, khỏi can tội chuyền: răn đừng cho đậy cho người trốn lính để tránh khỏi vạ lây, dịch câu giới nặc đào dĩ miễn châu liên. Châu liên là tội chuyền, tội vạ. Chữ giấu, bản nôm viết sai là dấu.

    18)Có lòng liêm, thẹn, ngay, tin, dịch câu; hữu liêm, sỉ, trung, tín chi tập, có thói quen biết liêm-sỉ, trung-tín.

    19)Không làm những thói dối xiên hiểm nhèo: vô phù ngụy hiểm trá chi phong, không có thói dối-trá, xiên-xẹo, hiểm-trá.

    20)Gìn điều lặng an; do chữ lập tháo điềm tĩnh, giữ yên-lặng, bình-thản. Chữ lặng, bản nôm viết sai là lặn.

    21)Cày: người cày, nhà nông.



    248. Gianh nhau với rẻ tốt-tươi đắc (đắt) hàng (22).

    Thư rằng: “ những chúng dân thường,

    Không làm bầy vạy, không nương loài tà” (23).

    Ý này ai nấy nghiệm qua,

    252. Thảy chừa thói bạc, đổi ra tục lành.

    Rước hoài (24) chưng phúc hòa-bình,

    Đến điều cả thuân, thảy tính gắng thay.

    _______________

    22)Gianh nhau với rẻ tốt-tươi đắt hàng, dịch câu: vật huyễn hóa nhi cầu thụ, đừng khoe-khoang quảng-cáo cho hàng của mình mà mong bán chạy. Đắc hàng: hiểu là đắt hàng, người miền Trung, nhất là người Huế, thường đọc âm t cuối ra cuối.

    23)Những chúng dân thường, dịch câu phàm quốc thứ dân; không làm bầy vạy, dịch câu vô hữu dâm bằng; không nương loài tà, dịch câu vô hữu tị đức, trong kinh Thư, quyển Chu thư, thiên Hồng-phạm, VI, 10. Dịch dâm bằngbầy vạy rất đúng vì dâm quá đáng, xấu-xa, bằng là bạn-bè, đảng-phái theo nghĩa xấu của danh-từ này, vì vậy, dịch là bầy rất sát nghĩa, bầy chỉ về số đông loài vật hơn là chỉ về người. Thẩm Quỳnh dịch vô hữu dâm bằng là không ai có bè đảng, như vậy là dịch thiếu chữ dâm; Nhượng Tống khá hơn, dịch là không ai có bè-đảng gian-tà, đúng nhưng dài dòng; Tự-đức dịch là bầy vạy, đúng từng chữ, và quá hay. Câu không nương loài tà dịch câu nhân vô hữu tị đức cũng có giá trị súc-tích như thế.

    24)Rước hoài: dịch chữ vĩnh nhạ, vĩnh là lâu dài, mãi-mãi, tiếng miền Nam gọi là hoài; nhạ là đón, gặp, đi mời, lo-liệu, được miền Nam gọi tắt là rước, có ý-nghĩa cung-kính.



    VI

    HUẤN TỬ-ĐỆ

    Sáu điều (1) Huấn tử-đệ này,

    256. Là con em dại tại hay dạy điềm (2)

    Người đầu (3) làm sắp con em (4),

    Cha, anh, thầy, lớn, sau thêm làm lần (5).

    Bằng nay đạo nhỏ (6) chưa từng,

    260. Ngày sau đạo lớn (7) ắt mần chẳng nên (8).

    Nên xưa dạy dưới mà lên,

    ____________

    1) Sáu điều: Điều thứ sáu.

    2) Dạy điềm: Chưa hiểu nghĩa, bản Nôm viết chữ quang (sáng) bên chữ điềm (yên lặng), bản Hán văn không có câu này.

    3) Người đầu: Người ta đầu tiên, dịch chữ nhân thủy.

    4) Làm sắp con em: Làm cấp đàn em. Sắp là một danh từ cổ chỉ về cấp bậc, loại, hồi, đàn lớn, như nói sắp học trò là một bầy học sinh: đánh cho một sắp: đánh cho một hồi. Chữ Hán: Nhân thủy vi đệ-tử: người ta bắt đầu làm con em. Những từ ngữ miền Nam trong bản Nôm sở dĩ có là do ảnh hưởng của bà mẹ vua Tự-đức là bà Phạm-thị-Hằng, con Phạm-Đăng-Hưng, nhập cung năm 1824, người tỉnh Gò-công.

    5) Cha, anh, thầy, lớn sau thêm làm lần: Hậu vi phụ, huynh, sư, trưởng. Lớn là người lớn, dịch chữ trưởng, chứ không phải là một tĩnh-từ bổ nghĩa cho chữ thầy.

    6) Đạo nhỏ: Đạo làm con em, dịch chữ tử-đệ chi đạo.

    7) Đạo lớn: Đạo làm người lớn, dịch chữ phụ, huynh, sư, trưởng chi đạo.

    8) Ắt mần chẳng nên: Dịch câu tức bất năng tri, ắt không thể biết được. Mần chữ đằng trong, nghĩa là làm.



    ).

    n chỉn lo lâu dài"a (27),

    thua.

    i thường (24)

    g kiêng sợ một ai.

    ăm).

    và lễ đội mũ có uống rượu, sau cùng chỉ lễ cầu-cu
  • Chia sẻ trang này