0073.00022

27/1/16
0073.00022
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}


    Hẹn sau làm đặng những quyền cha anh.

    Nên xưa thương sắp trẻ sanh (9),

    264.Dạy chưng đường nghĩa chẳng đành để xiên (10).

    Nay người (11) nguyền kẻ vai trên,

    Với con em, phải cho siêng dặn-dò.

    Khiến đều giữ tính trời cho,

    268.Nghiệp chi giữ lấy, đời mô cũng truyền. (12).

    Chớ cho chơi nhát (nhác) (13) chẳng siêng,

    Chớ cho cờ bạc, say điên rượu chè.

    Chớ cho kết với người ta,

    272.Chớ cho tập chuộng điều xa-xỉ này.

    Làm thì thảo, thuận, siêng cày (14),

    ------

    9) Nên xưa thương sắp trẻ sanh, dịch câu thị dĩ cổ giả ái tử, ấy người xưa yêu con. Sắp trẻ sanh : Bọn trẻ, các con.

    10) Dạy chưng đường nghĩa chẳng đành để xiên : Giáo chi dĩ nghĩa phương, phất nạp ư tà, dạy con đường nghĩa, chẳng đề gần-gũi sự xấu, đi đến sự xiên-xẹo, gian-dối.

    11) Người : Vua Minh-mệnh.

    12) Nghiệp chi giữ nấy, đời mô cũng truyền, dịch chữ vô thất thế nghiệp, đừng để mất cái nghiệp cha truyền con nối.

    13) Chơi nhát : Chơi bời lười biếng, dịch chữ du nọa; và phải hiểu nhátnhác.

    14) Làm thì thảo, thuận, siêng cày : Dịch câu hành, tất trọng ư hiếu, để, lực điền.

    --------


    Lòng gìn lễ-nghĩa, liêm ngay, thẹn-thùng. (15)

    Lâu thì thuần tốt tấm lòng, (16)

    276. Càng ngày càng tới chưng trong điều lành (17).

    Kẻ hơn tài đức dặng thành (18),

    Làm nên công-nghiệp rạng vinh cửa nhà (19).

    Kẻ vừa cũng đặng thiệt-thà

    280. Làm tên dân, phải nghiệp ta, ta gìn (20).

    Chưng công thường bữa dạy khuyên,

    ---------

    15) Lòng gìn lễ-nghĩa, liêm ngay, thẹn-thùng : Dịch câu : Tâm tất tồn ư lễ nghĩa, liêm sỉ. Liêm được dịch là liêm ngay, sỉ là thẹn-thùng.

    16) Lâu thì thuần tốt tấm lòng : Dịch câu cửu chi tâm-địa thuần lương, lâu ngày thì lòng dạ tốt lành.

    17) Câu 276 dịch Hán-văn : Nhật tiến ư thiện.

    18) Câu 277 dịch Hán-văn : Cao-giả khả-di thành tài đạt đức. Cao giả được dịch là kẻ hơn.

    19) Câu 278, dịch Hán-văn : Quang-hiển môn-lư.

    20) Hai câu 279 và 280 dịch Hán-văn : Hạ giả diệc bất thất vi lương-dân, bảo-thủ gia-nghiệp, người dưới cũng không mất cái quyền làm một tên dân lương-thiện, để giữ-gìn nghiệp nhà. Hạ-giả được dịch là kẻ vừa, đối với cao-giả kẻ hơn ở trên. Chữ lương-dân được tách ra làm đôi, chữ lương ở câu trên được dịch là thiệt-thà (nghĩa là hiền-lành, lương-thiện), chữ dân ở câu sau được chuyển ra là làm tên dân. Cách dịch này khá độc-đáo.

    -------

    Há chăng chẳng lớn. chẳng bền vậy vay (21),

    Vả chăng con trẻ cháu ngây (22),

    284. Thánh-nhân thửa ắt sửa tày (23) đòi khi.

    Chức con em, sách Thiếu-nghi (24)

    Là người quân-tử nghiêm, suy dạy lần. (25)

    Lại như thầy Mạnh có rằng :

    “Ở yên không dạy thì gần muông chim” (26)

    Bao nhiêu lời sách rất nhằm (27),

    Chúng ngươi chớ khá chẳng chăm lờn này (28).

    ------

    21) Hai câu 281 và 282 dịch câu Hán-văn : Binh nhật giáo hối chi công, khởi bất đại thả viễn hồ tai? Cái công dạy dỗ thường ngày, há chẳng lớn và xa hay sao? Viễn đã được dịch là bền, rất đúng và hay.

    22) Con trẻ cháu ngây : Dịch câu ấu tử đồng tôn, con thơ cháu dại.

    23) Sửa tày : Dịch chữ giáo, nghĩa là dạy dỗ.

    24) Chức con em, sách Thiếu-nhi : Dịch câu Thiếu-nghi : đệ-tử chức, học sách Thiếu-nghi trong Lễ-ký để hiểu cái chức-vụ của con em.

    25) Là người quân-tử, nghiêm, suy dạy lần : Dịch câu : quân-tử chi sở trí nghiêm, đi đến được cái nghiêm-uy của của người quân-tử. Câu 286, chủ-tử của mệnh-đề suy dạy lần là chữ thánh-nhân ở câu 284. Dạy gì? Dạy cho con em lần-lần biết cái nghiêm của người quân-tử như thế nào, là người quân-tử thì phải nghiêm như thế nào trong chức-vụ, trong nghi-thức (câu 285).

    26) Ở yên không dạy thì gần muông chim : Dịch câu : Dật cư nhi vô giáo tắc cận ư cầm-thú, ở nhàn-dật mà không được giáo-dục thì gần với cầm-thú.

    27) Rất nhằm : Rất đúng, tiếng miền Trung. (Như rứa thì nhằm : như thế là đúng).

    28) Chẳng chăm lời dạy : Dịch chữ kỳ vô hốt : Không lơ-là, không chểnh-mảng.

    ------


    VII

    SÙNG CHÍNH-HỌC

    Bảy điều (1) là chuộng đạo ngay (2)

    Rằng Sùng chính-học rất hay trong đời.

    Học là học để làm người (3),

    294. Đời không một kẻ nên rời học đi (4)

    Một ngày cũng chẳng nên lìa (5)

    Nhưng mà sở-học, chính thì mới nên (6)

    Người (7) nguyền ai nấy đều siêng,

    298. Quyết tôn chính-học, rõ khuyên đạo người (8)

    Thuấn, Nghiêu thảo-luận mà thôi (9)

    ------

    1) Bảy điều thứ bảy.

    2) Chuộng đạo ngay, dịch câu : sùng chính-đạo.

    3) Học là học để làm người, dịch câu : học giả sở dĩ học vi nhân.

    4) Đời không một kẻ nên rời học đi, dịch câu : cố thiên hạ bất khả nhất nhân vô học, cho nên trong đời không thể có một người vô học.

    5) Một ngày cũng chẳng lên lìa, dịch câu : diệc bất khả nhất nhật vô học, cũng không thể một ngày không học.

    6) Nhưng mà sở học, chính thì mới nên, dịch câu : nhi kỳ sở học vưu bất khả bất chính, nhưng mà cái học của con người càng không thể không chính đáng.

    7) Người : chỉ Minh-mệnh.

    8) Hán văn : Vụ chính-học, giảng minh nhân-luân.

    9)Hán văn : Thuấn, Hii chi đạo, hiếu đễ nhi dĩ, đạo của Nghiêu, Thuấn chỉ là đạo hiếu-đễ mà thôi. Hiếu-đễ được Tự-đức dịch là thảo-thuận

    ------

    Thánh-hiền Khổng-Mạnh dạy lời nghĩa nhân (10)

    Ấy điều làm chính làm chân (11),

    502. Ấy điều nên học (12), chung thân nên gìn (13).

    Bao nhiêu đạo khác thánh-hiền,

    Đều là tả-đạo, bày nên mối kỳ (14).

    Chớ nghe phỉnh gạc (gạt) (15) lầm đi.

    506. Huống chi đạo khác (16) càng suy càng tà (17).

    ------

    10) Hán văn : Khổng Mạnh chỉ giáo, nhân nghĩa vi tiên.

    11) Câu này không có trong nguyên bản chữ Hán, vua Tự-đức tự thêm ra.

    12) Ấy điều nên học : thị giai sở đương giảng dã, ấy đều là những cái nên giảng vậy.

    13) Chung thân nên gìn : vua Tự-đức thêm ra cho đủ câu, và cho ý-nghĩa thêm mạnh.

    14) Đều là tả-đạo, bày nên mới kỳ, dịch câu nhất thiết tả đạo dị đoan. Tả-đạo là đạo trái, một tôn-giáo không chính-đáng. Dị-đoan là mối kỳ, mối lạ, không thường. Nhà Nho chống lại tất cả những gì quái-dị và chỉ chú-trọng đến những cái thường, những cái không thể không có được trong đời sống, cho nên tất cả những gì bất-thường, phi-thường, vô-thường đều bị phủ-nhận.

    15) Phỉnh gạc, dịch chữ cuống hoặc. Bản Nôm viết sai chữ gạt gạc.

    16) Huống chi đạo khác, trong nguyên bản, Minh-mệnh ghi rõ là Da-to chi thuyết tức là đạo Công-giáo. Trong bản dịch, Tự-đức không nói rõ là đạo Da-tô vì chính-sách của ông về tôn-giáo mềm dẻo hơn Minh-mệnh.

    17) Càng suy càng tà, nguyên-bản ghi là vưu vi vô lý : lại càng là không hợp lẽ. Ta ghi nhận chủ-trương ôn-hòa và tiến-bộ của Tự-đức về tôn-giáo.

    -----

    Đến chưng trai gái lộn pha (18)

    Nết làm quấy-quá, thể là chim muông (19).

    Dấy gian dựng đảng (20) khéo khôn,

    310. Từ xưa mình nỡ mình tuôn (tuông) (21) phép hình.

    Làm hư nát phép đạo lành (22).

    Thực đà chẳng khá chút tình khá tin (23).

    Ai đà lầm, phải dỗ khuyên (24).

    314. Cũng nên kíp cải, cũng nên kíp chừa (25).

    Những điều cưới, hỏi, chôn, thờ (26),

    Thảy theo lễ nước, chớ mờ theo ai (27).

    --------

    18) và (19) Bản Hán nói rất mạnh : thậm chí nam-nữ hỗn-hào, hạnh đồng cầm-thú.

    20) Hán văn : phiến gian thụ đảng.

    21) Tuôn : Xông tới, đạp lên, phải sửa lại là tuông như giọng đọc thông-thường.

    22) Làm hư nát phép đạo lành, dịch Hán-văn : Hoại giáo đố luận.

    23) Hán-văn : vưu bất khả tín, lại càng không thể tin.

    24) Ai đà lầm phải dò khuyên, dịch Hán-văn, kỳ hữu nghiệp vi sỏ dụ, nghĩa là : ai đã trót bị dụ-dỗ. Chữ nghiệp được dịch là lầm rất đúng, nhưng lầm ở đây phải hiểu là đã lỡ rồi, đã trót làm mất rồi. Chữ dụ dịch là dỗ khuyên có lẽ hơi sai nhưng vì vần cuối câu nên bắt buộc phải vậy.

    25) Hán-văn : Đương tốc cải trừ.

    26) Hán-văn : phàm quan hôn tang tế.

    27) Hán-văn : tất tuần quốc-lễ.

    ----------

    Dầu mà nẻo khác chẳng noi (28)

    318. Bèn về đường thẳng (28), còn ai chê khờ?

    Học-trò giảng-tập thi-thư,

    Ắt thông nghĩa-lý, nỡ nhơ đến mình.

    Còn như các món dân binh (30),

    322. Mấy ai đọc sách cho minh chữ nhiều (31)

    Nhưng ưa người nói phải điều (32)

    Thấy người làm phải, học theo làm lành (33)

    Tính thường đức tốt nguyên sinh (34)

    --------

    28) Hán-văn : cẩu bất hoặc ư tha kỳ, nghĩa là nếu không ngờ-vực đường khác, nếu không bị mê-hoặc bởi đường khác.

    29) Hán-văn : tự năng qui ư chính-đạo, nghĩa là tự mình có thể trở về đạo chính.

    30) Bản Hán-văn nói đủ hơn : binh, nông, công, cổ, nhà binh, nhà nông, người thợ, nhà buôn, gọi tát là dân binh (dân-sự và quân-sự).

    31) Hán-văn : khởi tất giai năng, độc thư thức tự, nghĩa là há có phải ai cũng đều có thể đọc sách biết chữ.

    32) Hán-văn : nhiêu kỳ kiến nhân chi thiện ngôn, duyệt nhi tùng chi, nghĩa là : nhưng mà khi thấy người nói điều phải thì ưa thích mà nghe theo.

    33) Hán-văn : kiến nhân chi thiện hành, hiệu nhi vi chi : thấy người làm phải thì bắt chước làm theo như thế.

    34) Hán-văn : binh di hiếu đức, nghĩa là giữ đạo thường mến đức tốt.

    ----------

    VIII

    GIỚI DÂM-THẮC.

    Giới dâm-thắc ấy tám điều (1)

    Là răn những nết mê xiêu dâm-tà (2).

    Người trong trời đất sinh ra,

    338. Quý gìn tính thẳng chẳng pha luông-tuồng (3).

    Quý noi đường phải, lý khôn,

    Chẳng sa vào thói phao tuôn (tuông) lăng-hoằng (4).

    Vả khi trai gái đặng gần,

    342. Là điều tình-dục rất nhăn (nhăng) dễ mờ (5).

    Dầu chăng lấy lễ ngăn ngừa,

    Mối tuy nhỏ lắm, họa vừa lắm sao (6)?

    ----

    1) Tám điều : điều thứ tám.

    2) Định nghĩa thế nào là giới dâm-thắc. Dâm-thắc là những điều ham dục gian tà. Dâm-thắc được Tự-đức dịch là mê xiêu dâm tà.

    3) Hán-văn : Nhân tại thiên-địa chi trung dĩ sinh, quí thủ chính tính nhi bất lưu ư dâm đãng : người ta sinh ra ở trong trời đất, quí giữ tính thẳng mà không trôi dạt vào dâm-đãng. Thủ được dịch là gìn (giữ-gìn); bất lưu : chẳng pha; dâm đãng : luông-tuồng.

    4) Hán-văn : quí do thiện đạo nhi bất nhập ư tà-thắc : quí do đường lành mà không sa vào tội-lỗi. Tà-thắc được dịch là phao-tuông lăng-hoằng ; nhưng chữ tuông viết sai là tuôn.

    5) Là điều tình dục rất nhăng, dễ mờ, dịch câu tình dục tối vi dị hoặc, nghĩa là tình dục rất dễ làm mê đắm. Chữ dị hoặc được dịch là dễ mờ rất khám-phá. Chữ nhăng, bản Nôm viết sai là nhăn.

    6) Hán-văn : cẩu bất dĩ lễ tự phòng, tắc kỳ đoan thậm vi, kỳ họa thậm cự, nghĩa là nếu không lấy lễ đề-phòng, thì mối tuy rất nhỏ, nhưng họa rất lớn.

    ----

    326. Chẳng quên lòng sẵn, thấy đành dễ minh (35)

    Vào thì thờ đặng cha anh (36),

    Ra thì thờ đặng hơn mình vai trên (37).

    Dẫu mà chưng học thánh-hiền (38),

    330. Chẳng qua đường ấy (39) nên gìn cho chuyên

    Như lời thầy Mạnh cũng khuyên :

    “Lời dâm, nói vạy, nết xiên, thảy đùa” (40)?

    Lời người (41) gắn bó dặn-dò,

    334. Vốn thương ai nấy (42) khá tua (43) nghe đều

    -----

    35) Hán-văn : bất thất bản-tâm, không mất bản-tâm. Bản-tâm được dịch là lòng sẵn, lòng đã có từ gốc ; bất thất được dịch là chẳng quên, chẳng để mất đi vào quên lãng. Còn mệnh-đề thấy đành dễ minh chỉ là phần Tự-đức thêm ra cho đủ câu, và có nghĩa là nhận thấy một cách rõ ràng như thế; nếu không đánh mất bản tâm thì dễ-dàng bắt gặp bỉnh di hiếu đức.

    36) Hán-văn : nhập túc dĩ sự phụ-huynh.

    37) Hán-văn : xuất túc dĩ sự trưởng-thượng.

    38) Hán-văn : thánh-hiền chi học.

    39) Hán-văn : diệc bất ngoại thị.

    40) Hán-văn : tức tà-thuyết, cự bí-hạnh, phóng dâm-từ : Ba động-từ tức (làm cho mất hết đi) cự (chống lại), phóng (buông bỏ) được dịch bằng động-từ chung là đùa, thảy đùa nghĩa là cả ba điều : tà-thuyết, bí-hạnh, dầm-từ đều không chính-đáng. Lời dâm dịch chữ dâm-từ, nghĩa đen là nói quá nhiều, nói ra ngoài nghĩa đen nghĩa chính của kinh sách, nói vạy dịch chữ tà-thuyết; nét xiên dịch chữ bí-hạnh ; bí nghĩa là xiên-xẹo, bất-chính (Xem thêm chú-thích ở bản Hán-văn)

    41) Người : chỉ vua Minh-mệnh.

    42) Vốn thương ai nấy : bản dục gia huệ ngã dân, nghĩa là : vốn muốn ra ơn tốt cho dân ta.

    43) Khá tua : khá nên.

    ------
  • Chia sẻ trang này