0073.00023

27/1/16
0073.00023
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}


    Gây ra thù, kiện, tù, lao,

    346. Há chăng biết lý đón rào răn he (7) ?

    Lâu nay các tỉnh tâu về,

    Đàn bà vẹn tiết, gái kia vẹn mình (8).

    Người từng bêu thưởng đành-rành,

    350. Hoặc thờ miếu tốt, hoặc vinh bảng vàng.

    Đặng cho thiên hạ nghe tường,

    Thảy đều khuyên rán phen hàng tiết-trinh (9).

    Nguyền người cha mẹ vai anh,

    354. Có con em, phải dỗ dành dạy răn.

    Trai noi lễ-phép mình ngăn, (10)

    ------

    7) Hán-văn : thù hấn sinh yên, ngục tụng khởi yên, khả bất tri sở thống, giới át chỉ dã tai, nghĩa là : thù hấn sinh ra, ngục tụng dấy lên.

    8) Hán-văn : hướng lai chư địa-phương hữu tiết-phụ trinh-nữ giả, nghĩa là lâu nay các địa-phương có kẻ là đàn bà giữ tiết, con gái vẹn trinh. Trinh-nữ giả dịch là gái kia vẹn mình không được hay lắm.

    9) Hán-văn : Trẫm đặc-gia tinh-thưởng, hoặc kiến từ-sở, hoặc tứ biển-ngạch, dĩ vi thiên-hạ chi trinh giả khuyến, nghĩa là : Trẫm đặc-cách ban thưởng, hoặc dựng từ-miếu, hoặc ban biển-ngạch, để khuyến-khích những người trinh-tiết trong thiên-hạ. Từ-sở được dịch là miếu tốt hơi gượng ép để đối với bảng vàng ở vế sau. Phen : ganh đua. Phen hàng tiết-trinh : ganh đua nhau để được kê vào bậc tiết-trinh. Dỗ-dành : dùng lời nói ngọt-ngào hướng-dẫn con em làm điều toot. Chữ dành bản Nôm viết sai là giành. (xem bản Nôm)

    10) Mình ngăn : dịch câu nam dĩ lễ-pháp tự nhàn.

    -------

    Gái ham trinh-tiết giữ-giằn (11) cho hay.

    Gái trai tình đã đặng ngay.

    358. Ắt là trăm phúc từ đây nhóm (12) về.

    Như người giàu cậy lấn đè,

    Cùng quân gian-giảo múa nghề khiến xui.

    Rất hay làm hại dân đời,

    362. Lại quen làm dữ những loài quân hoang.

    Đầu thì phá cũi xoi tường,

    Sau thì hoặc chúng gây đường tai hung.

    Lý trời đều thửa chẳng dung,

    366. Lại thêm phép nước cũng đồng chẳng nhiêu (13)

    Kinh Thư rằng : “Đạo trời cao,

    Phúc điều lành phải, họa điều tà-dâm”.

    Ai đà phạm ấy do lầm, (14)

    370. Kíp nên cải dữ mà chăm về lành.

    Thảy nhờ chưng chốn yên mình,

    Khuyên cùng trăm họ đành-rành nghĩ thay.

    ----

    11) Giằn : bản Nôm viết dằn. Giữ giằn nghĩa là giữ gìn, giữ kỹ-càng.

    12) Nhóm : dịch chữ tập. Bản nôm viết chữ nhóm là chữ chiếm bên chữ đa.

    13) Nhiêu : tha-thứ (chữ Hán).

    14) Ai vì lầm-lẫn phạm vào điều ấy. Để ý cách đặt câu rất gọn mà nếu tác-phẩm được viết vào thế-kỷ thứ 20, có người sẽ chứng-minh đó là một cách viết văn theo mẹo Pháp.

    ----

    IX

    THẬN PHÁP THỦ

    Chín điều (1) Thận pháp thủ đây,

    Là khuyên giữ phép, chớ hay làm xằng. (2)

    Triều-đinh mà ở với dân,

    376 Muốn hay giữ phép, chẳng ưng phạm nhằm. (3)

    Bằng hay giữ phép chẳng lầm,

    Sau bèn ít lỗi, khỏi lâm ngục-hình.

    Ắt là an-nghiệp vẹn mình,

    380 Vậy thì đặt phép, vốn tình vì dân.

    Chúng ngươi khá nghĩ cho cần,

    Giữ khuông (4) (khuôn) phép ấy, giữ thân-phận mình.

    Bảo cùng nhà có cha anh,

    384 Con em ai nấy dạy minh cho tường.

    Làng thì tổng-lý trong làng,

    ------

    1) Chín điều : điều thứ chín.

    2) Định nghĩa thận pháp thủ.

    3) Hán-văn : Triều-đình chỉ ư dân, dục kỳ thử pháp nhi bất dục kỳ phạm pháp, nghĩa là : triều-đình đối với dân, muốn cho dân giữ phép mà không muốn cho dân phạm-pháp. Muốn hay giữ phép : ao-ước cho dân biết luôn luôn tôn-trọng pháp-luật ; chẳng ưng phạm nhằm : không muốn cho dân đụng phải đúng vào cái phép ấy.

    4) Giữ khuông phép : Hiểu là giữ khuôn phép. (Xem bản Nôm)

    ------

    Lớn trong dân, (5) phải biết đường dạy dân.

    Thường đam pháp-luật bảo lần,

    388 Chớ lờn bỏ phép, quyết mần liều thân.

    Từ đây nhẫn xuống luật răn,

    Như không đạo, chẳng thảo thân, hai điều. (6)

    Biết thì chẳng dám làm liều,

    392 Những điều can-phạm, bao nhiêu nghĩa-thường.

    ----

    5) Lớn trong dân : dịch câu hương chi thưởng chính, đứng đầu ở làng.

    6) Như không đạo, chẳng thảo thân, hai điều : hai điều luật về hành động bất đạo, bất hiếu. Từ câu 389, 390, 391, đến 392, phần dịch rất uyển-chuyển và tuy chữ dùng không theo sát vị-thứ của những chữ dùng trong nguyên-bản, nhưng những chữ trọng-yếu đã được duy-trì hay phiên-dịch. Cả đoạn Hán-văn là : như tri bất đạo bất hiếu chi luật, tắc bất cảm vi can thường phạm nghĩa chi hành : nghĩa là nếu biết luật bất đạo bất hiếu (không đạo hạnh, không thảo kính cha mẹ) ắt không dám có những hành-động liên-can xúc-phạm đến luân thường đạo-nghĩa. Chữ luật được giữ ở câu 389; bất cảm vi : chẳng dám làm, ở câu 391, thêm chữ liều cho mạnh nghĩa. Làm những gì ? Những điều can phạm (đến) bao nhiêu điều nghĩa (nhân nghĩa), điều thường (luân-thường). Mệnh-đề bao nhiêu nghĩa-thường không được rõ-ràng đối với độc-giả ngày nay vì chữ thường hiện nay là tĩnh-từ (nghĩa thường như vậy là nghĩa thông-thường) trong khi trong cổ-văn, thường là danh-từ ngang-hàng với chữ nghĩa đi đôi với nó (do đấy nghĩa-thường có dấu ngang).

    ----

    Biết điều (7) xâu-xé, cướp lường,

    Chẳng lung (8) chưng khí hung-hoang ngầy-ngà (9)

    Biết điều trộm cắp, dâm tà,

    396 Ắt hay ngăn thửa ruột-rà quanh-co (10).

    Biết điều thưa vượt, cáo hùa,

    Ắt hay đổi thói tranh đua kiện hoài (11).

    Biết điều thuế đã định rồi,

    -----

    7) Biết điều : biết luật. Biết điều xâu-xé cướp lường : biết điều luật trừng-phạt những tội xâu-xé (đấu-ẩu), cướp lường (nhương đoạt).

    8) Chẳng lung : Chẳng nóng-nảy, hung-hăng, không sợ ai, không sợ pháp-luật.

    9) Khí hung hoang ngầy-ngà : dịch chữ cường-bạo hiêu-lăng chi khí. Cường bạo : hung-hoang, dữ-tợn, dùng sức mạnh đàn-áp, chém giết. Hii-lăng : ngầy-ngà, ồn-ào, dức-lác mà lấn-lướt người ta.

    10) Hán-văn : tri gian-dâm đạo-thiết chi luật, tắc hữu dĩ át kỳ tà-tịch chi tâm, nghĩa là biết luật (trừng trị tội) gian-dâm trộm cắp ắt có cách để ngăn-ngừa những mưu-tính bậy-bạ. Tà-tịch chi tâm dịch là ruột-rà quanh-co rất đúng.

    11) Hán-văn : tri việt-tố vu-cao chi luật, tất hữu dĩ cách kỳ kiện-tụng chi tập. Việt-tố là không kiện ở tòa liên-hệ mà kiện vượt lên tòa an trên (thưa vượt). Vu-cáo : đến pháp-đình trình tòa những tội mà người ta không phạm (cáo hùa). Câu Hán-văn nghĩa là : biết luật trừng-trị những tội thưa vượt cáo hùa ắt có thể thay-đổi cái thói quen kiện-tụng.

    -----

    400 Thì không quơ-quét lôi-thôi thuế thường (12).

    Biết điều giấu phạm ắt mang,

    Thì không mách vẽ ẩn-tàng loài nhăn (nhăng) (13).

    Những điều phép thửa cấm ngăn :

    404 Giữ đà khỏi, ắt lành tăng, quấy trừ (14)

    Xét trong lời dạy kinh Thư,

    “Mày đều giữ phép, đặng nhờ trời thương” (15).

    ----

    12) Hán-văn : tri thuế khóa chi tự hữu định-ngạch, tắc vật tư đồ bao lãm nhi đà khiếm chính cung, nghĩa là biết rằng thuế đã định ngạch rồi, ắt không tìm cách nắm hết mà thiếu tiền nộp cho đủ. Đà-khiếm : tiền nợ lâu ngày không trả. Chính-cung : tiền nộp đủ, tiền thuế thường. Bao-lãm : dịch là quơ quét ; đà khiếm : lôi thôi, dây-dưa không trả ; chính cung : thuế thường.

    13) Hán-văn : tri nặc phạm chi tất chí can-liên, tắc vật hỗ-tương quán-thông nhi oa-tàng đào-phạm, nghĩa là : biết việc che đậy cho người phạm tội có liên-can đến mình (giấu phạm ắt mang) thì không liên-lạc với nhau mà ẩn-giấu người phạm tội trốn tránh. Nặc phạm : giấu phạm ; can-liên : mang ; quán-thông : mách vẽ ; oa-tàng : ẩn tàng; đào-phạm : loài nhăng. Bản Nôm viết sai giấu ra dấu, nhăng ra nhăn. (Xem bản Nôm).

    14) Hán-văn : phàm nhất thiết công-pháp sở cấm, giai đương cẩn tị, tự năng khư kỳ ngụy-vọng, tiến nhi tu lương, nghĩa là tất cả những phép công ngăn cấm, đều nên cẩn-thận tránh bỏ, thì tự mình có thể bỏ được những sự sai quấy mà tiến đến việc sửa nết tốt. Sở cấm : thửa cấm; như kỳ ngụy vọng : quấy trừ ; tiếm nhi tu lương : lành tăng.

    15) Hán-văn : các thủ nhỉ điển, dĩ thừa thiên-hưu, nghĩa là giữ tất cả mọi phép của mày để vâng chịu phúc trời. (Xem chú-thích trong bản Hán-văn)

    ----

    Dưới đều đặng tiếng thuận-thường, (16)

    408 Trên mừng hình dạt, (17) thịnh-cường biết bao.

    ----

    16) Tiếng thuận-thường : dịch chữ phong động chi hưu : cái phúc lành của thói tốt nổi dậy.

    17) Hình dạt : dịch câu hình thố chi trị : nền cai-trị đặt trên việc bãi bỏ hình-phạt. Hình thố : bỏ hình, không dùng hình phạt nữa. Âm dạt, bản Nôm viết đạt, thường được đọc là : đạt, đát, đợt, đật. Hoặc giả Tự-đức dịch lầm hình thố là đặt ra phép hình, hình-pháp được đặt ra để cho sự thưởng-phạt được nghiêm-minh, thì âm đạt phải được đọc là đặt và cả câu 408 phải được phiên-âm là : Trên mừng hình đặt, thịnh-cường biết bao.

    ----

    X

    QUẢNG THIỆN HẠNH

    Rộng làm lành ấy nết cao (1),

    Quảng chưng thiện hạnh lại sao mười điều (2).

    Chứa lành ắt đặng phúc nhiều,

    412 Mới hay lành ấy phúc theo nhóm về (3).

    Vả như gọi thửa lành kia,

    Cũng không gì khác mà e khó tuyền (4).

    Chẳng qua thảo, thuận, ngay, tin,

    416 Với nhân, nghĩa, lễ, trí, hiền, mà thôi (5).

    Nay người (6) dạy khắp chúng ngươi,

    ----

    1) Rộng làm lành : dịch chữ quảng thiện. Nết cao : dịch chữ hạnh.

    2) Sao mười điều : chép điều thứ mười.

    3) Hán-văn : tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh, thiện giả phúc chi tập dã, nghĩa là : nhà chứa điều lành, ắt có dư-dả ơn phúc (chứa lành ắt đặng phúc nhiều), điều thiện ấy là sự nhóm họp của phúc (lành ấy phúc theo nhóm về)

    4) Hán-văn : sở vị thiện giả, vô tha, nghĩa là : cái gọi là thiện ấy, không có gì khác. Sở vị thiện giả : gọi thửa lành kia ; vô tha cũng không gì khác. Mệnh-đề mà e khó tuyền là tự vua Tự-đức viết thêm ra cho rõ nghĩa hơn, và cho đủ câu dĩ-nhiên.

    5) Hán-văn : bất quá hiếu đễ (thảo-thuận) trung tín (ngay tín), nhân nghĩa, lễ trí nhi dĩ (nhân nghĩa lễ trí mà thôi). Chữ hiền thêm ra cho có vần.

    6) Người : chỉ vua Minh-mệnh.

    ----

    Há rằng trước ấy các lời đã bao (7).

    Song mà luân-lý lớn-lao,

    420 Dùng thường tại đó, có sao ra ngoài. (8)

    Bao nhiêu quân, sĩ, dân, tôi (9),

    Đều nên kính ngẫm nghe lời người (10) khuyên.

    Làm lành phải gắng lần lên,

    424 Nay làm nên một, mai nên một lành.

    Lâu thì thực đặng trong mình,

    Chưa hoài ắt khá rộng thênh công thầm.

    Tự-nhiên tai-họa chẳng lâm,

    ----

    7) Hán-văn : tư trẫm giáo nhĩ hữu dân, phi vị tiền hạng đẳng điều chi sở năng tất, nghĩa là : nay trẫm dạy bảo dân-chúng các ngươi, không nói đến việc phải biết hết các điều kể trên. Câu “há răng trước ất các lời đã bao” dịch thiếu chính-xác. Hoặc giả chữ “bao” là một động-từ cổ có nghĩa là bảo, nói, mà ta không rõ nghĩa chăng ! Dù như thế đi chăng nữa, chữ “há rằng” ở đầu câu không dịch đúng nguyên-bản, và làm cho câu thơ dịch bị tối nghĩa. Tuy-nhiên, có thể hiểu bao là tính gộp lại, dịch chữ tất.

    8) Hán-văn : nhiên kỳ di-luân nhật dụng chi thường, đại yếu diệc bất ngoại thị, nghĩa là những điều luân-lý là cái thường dùng hàng ngày, phần chính-yếu không ngoài những điều ấy.

    9) Dân, tôi : thứ dân.

    10) Người : chỉ vua Minh-mệnh.

    ---

    428 Ngày ngày phúc-lộc xăm-xăm tới hoài (11).

    Dẫu mà báo-ứng lâu dai (12),

    Thân mình chưa hiển lại roi (13) phúc thừa,

    Dòng sau con cháu ắt nhờ,

    432 Đời đời sang cả, nhiều dư không cùng (14).

    Kinh Thư rằng : “Đạo trời chung,

    Làm lành trăm phúc cho cùng chẳng sai” (15).

    ----

    11) Hán-văn : miễn tiến ư thiện, kim nhật hành nhất thiện, minh nhật hành nhất thiện, cửu chi nhi thực đắc chư dĩ, tích chi nhi khả quảng âm-công, tự-nhiên tai-ương bất chí, phúc-lộc nhật lại. Đoạn này đã được dịch thành những câu 423, 424, 425, 426, 427, 428, và nghĩa là : gắng tiến đến thiện (làm lành phải gắng), hôm nay làm một việc thiện (mai nên một lành), lâu ngày thì thực-sự đắc-thụ được những điều ấy (lâu thì thực đặng), súc-tích mãi thì có thể làm cho âm-công (công thầm) rộng lớn hơn (rộng thênh), tự nhiên tai-ương không đến (tai-họa chẳng lâm), phúc-lộc ngày một tới (ngày ngày phúc-lộc xăm-xăm tới hoài).

    12) Lâu dai : dịch chữ sảo trì. Chữ dai , bản Nôm viết sai là giai.

    13) Roi : bắt chước theo, đồng nghĩa với noi dịch chữ bằng tạ, nghĩa là ỷ lại vào tư-cơ, hay địa-vị sẵn, thời-thế sẵn, (xem Đào-Duy-Anh, Hán-Việt từ-điển, nhà xuất-bản Minh-tân, trang 49), nhưng cũng có nghĩa nhẹ hơn là nhờ cậy, thân có chỗ nhờ cậy. (Thiểu-chửu, Hán-Việt tự-điển, trang 575). Vậy roi ở đây chỉ có nghĩa là noi theo, nghĩa yếu hơn chữ bằng-tạ của nguyên-bản.

    14) Dịch Hán-văn : phồn-diễn thịnh-đại ư vô-cùng hĩ, nghĩa là lan-tràn ra rộng lớn vô-cùng. Thịnh-đại đjc dịch là sang cả, phồn-diễn là nhiều dư ; vô-cùng là không cùng.

    15) Kinh Thư : tác thiện giáng chi bách tường, nghĩa là làm lành đổ xuống trăm phúc, trời ban nhiều phúc xuống cho (Xem Kinh Thư, quyển Thương-thư, thiên Y-huấn IV, 8).

    ----
  • Chia sẻ trang này