0077.00006_ThanhVan (type done) @Lại Thị Thu Hà (đã soát xong)

2/5/16
0077.00006_ThanhVan (type done) @Lại Thị Thu Hà (đã soát xong)
  • Dễ âu duyên mới du mà,

    Còn tình chăng nữa, cũng là luỵ thôi.

    Trăm năm danh tiết lỡ rồi,

    Dẫu thân chung đỉnh cũng đời bỏ đi.

    Đào tơ sen ngó từ khi,

    Ngây thơ đôi lứa ngờ chi nỗi này;

    Uyên ương chia rẽ bấy nay,

    Lạc bầy chắp cánh, thẹn ngày giao hoan;

    Tình xưa lai láng khôn hàn,

    Bến xưa ngoảnh lại muôn vàn thương tâm!

    *

    Thuyền ai, não khách ôm cầm,

    Dây tơ dìu dặt, âm thầm tiếng tơ;

    Khúc thành, lệ ứa như mưa,

    Cảm xoang điệu cũ bao giờ cho thôi.

    Thân này, đôi dẫu đủ đôi,

    Lòng này, riêng vẫn lẻ loi tấm lòng!

    Theo duyên ân ái đèo bòng,

    Trăm năm vẫn một khúc lòng bi thương.

    *

    Trông về lối cũ Bình Hương, (1)

    Sông quanh chín khúc đoạn trường quặn đau!

    Non cao, thẳm ngất non sầu,

    Cảnh xưa ai vẽ nên màu thê lương.

    Tình xưa càng nghĩ càng thương,

    Biết bao khoảng vắng đêm trường khóc nhau.

    Gối nghiêng tầm tã tuôn châu,

    Màn hoa chăn gấm giọt sầu chứa chan.

    Cửa hầu, gửi áng xuân tàn,

    Chén vinh hoa, nhắp muôn ngàn đắng cay.
    ______

    (1) Sông Hương-giang và núi Ngự-bình.



    Nỗi lòng chua xót ai hay,

    Tấm thân bồ liễu võ gầy riêng thương.

    Vì chàng tâm sự dở dang,

    Vì con, thôi mấy đoạn trường cũng cam,

    *

    Nghĩ vui đuốc tuệ hoa đàm,

    Cha già, con dại, dễ làm sao đây?

    Chàng từ cưỡi hạc chơi mây,

    Bụi hồng, nào biết những ngày gió mưa:

    Đau lòng thiếp, nỗi sau xưa,

    Cửa nhà, non nước như tơ rối bời.

    Lòng nào lòng tưởng vui cười,

    Cũng thân nghiêng ngửa với trời đa đoan.

    Nỗi đời nếm hết tân toan,

    Khôn ngoan chi mấy mà oan trái nhiều!

    *

    Nước non duyên nợ nghĩ liều,

    Cầm như con trẻ chơi diều đã xong.

    Nỗi riêng lệ ứa đôi dòng,

    Trăm năm để một tấm lòng từ đây!
    (1925)

    *

    Khúc thu hận

    Chàng đi buổi sớm thu sơ năm ấy,

    Thu năm về, nào thấy chàng về;

    Chàng đi, đi chẳng trở về,

    Thu về, thiếp những tê mê dạ sầu.

    Làng mây nước biết đâu nhắn gửi,

    Khoảng đất trời để mãi nhớ thương;

    Vì chàng, chín khúc đoạn trường,

    Vì chàng, trăm mối sầu vương tháng ngày.

    Thu xưa khóc, thu nầy lại khóc.

    Năm năm thu, mảng khóc mà già;

    Người xưa khuất, cảnh cũ qua,

    Non buồn, nước lạnh, cỏ hoa tiêu điều.

    Nỗi ly hận mây chiều gió sớm,

    Tình tương tư khoảng vắng đêm trường;

    Gió mưa tâm sự thê lương,

    Chỉ kim ai vá đoạn trường nhau đây!

    Sầu ngây ngất những ngày thu lại,

    Giọt ngâu tuôn lệ lại chan hoà…

    Ngàn xanh sắc úa vàng pha,

    Bông lau lả lướt là đà ngọn may.

    Non nước cỏ cây hiu hắt,

    Khói mây tuôn, mặt đất chân trời;

    Vời trông muôn dặm đường đời,

    Bước trăm năm, luống ngậm ngùi cho thân.

    *

    Kể từ độ phong trần lạc bước,

    Mười lăm năm mặt nước cánh bèo;

    Gieo lòng theo ngọn thuỷ triều,

    Lênh đênh thôi cũng mặc chiều nước sa!

    *

    Con măng sữa nay đà mười sáu,

    Chốn hầu môn nương náu đức dầy;

    Sách đèn cơm áo bấy nay,

    Vì con, nuốt hết chua cay nỗi đời!

    Phong lưu để ngậm ngùi tấc dạ,

    Chén vinh hoa, lã chã giọt hồng!

    Khóc than khôn xiết sự lòng,

    Bèo xuôi sóng ngược cho lòng xót xa.


    Khăn lệ cũ , chan hoà lệ mới,

    Mối sầu xưa, chắp nối sầu nay;

    Tân sầu cừu hận bao khuây,

    Nắng sương, một vóc mai gầy thảm thương.

    *

    Thu năm về, thê lương dạ cũ,

    Nước dòng thu khôn rũ tâm sầu;

    Bi ca một khúc bên lầu,

    Trăng thu dãi bóng, gió thu lạnh lùng.

    Lầu Cao, Bịnh-viện Nam-thành

    mùa thu năm
    1931


    *

    Bình Hương lỗi nguyện

    Non xanh biếc, nước trong xanh,

    Bình Hương non nước hữu tình mấy mươi.

    Non nước hỡi! đâu người năm trước?

    Người cùng ta hẹn ước ba sinh;

    Nước non thề thốt bao tình,

    Sông Hương còn đó, non Bình còn kia.

    Trỏ lòng sông, cùng thề với nước,

    Chỉ đầu non, cùng ước với trăng:

    “Thề duyên bao nỗi bất bằng,

    Cũng tình trong đẹp như trăng nước này.

    Trăng nước có vơi đầy tròn khuyết,

    Tình đôi ta chỉ biết thuỷ chung!”

    Ngàn thông dưới bóng trăng lồng,

    Thông reo, trăng rọi, tấm lòng Bắc Nam.

    Bỗng một phút bình tan, gương vỡ,

    Để tình này dang dở, dở dang;

    Thề duyên thôi đã phụ phàng,

    Non sông trăng nước bẽ bàng vì ai!

    Nay trở lại ngậm ngùi cảnh cũ;

    Người xưa say giấc ngủ ngàn năm!

    Tử sinh xé giải đồng tâm,

    Trước mồ, lã chã khôn cầm hàng châu.

    Khóc nhau dễ gặp nhau đâu nữa,

    Tìm nhau đành tìm ở chốn này;

    Tro vàng lẫn khói hương bay,

    Tro tàn, khói toả bao khuây hận tình!

    (Huế, năm 1939)

    (Sau một buổi chiều đi thăm mộ Anh)


    *

    Chia phôi

    Còn đêm nay nữa, sao mà…

    Đêm chưa chợp mắt, canh gà đã ran.

    Giục người muôn dặm quan san,

    Giục người rẽ thuý chia loan não nùng.

    Đường xa, xa mấy muôn trùng,

    Kẻ đi người ở, tấm lòng ngổn ngang.

    Ngậm lời, ngồi ngẩn canh tàn,

    Nhìn nhau đôi mắt, bốn hàng lệ sa!

    (1961)


    *

    Nụ cười dưới trăng


    Nhớ xưa, anh cảm chị Hằng,

    Đa tình đến nỗi thương trăng lạnh lùng.

    Rẽ mây ước tới Thiềm-cung,

    Nguyện đem chăn gối bạn cùng Thường-Nga.

    Vợ gần, cảm bóng trưng xa,

    Ghen trăng, vợ bẳn: “Hằng-Nga … Nga gì!”

    Phá cười, tiếng Cụ hường Chi:

    - “Trời ơi, trời hỡi, ghen gì với trăng!”


    Nhân gian lắm nỗi bất bằng,

    Thà như cung Quảng ả Hằng, anh ơi!

    Yêu anh, em ước lên trời,

    Trên mây kết bạn muôn đời cùng trăng;

    Để mai đây, dưới cung hằng,

    Yêu trăng, anh lại nhìn trăng mỉm cười…

    (1919)

    *

    Ngày giỗ nhớ


    Hai nhăm tháng bảy, nhớ hôm nay,

    Thảm khóc, thương đau rắp một ngày.

    Hạc đón mây đưa, chàng rẽ lối.

    Trời nghiêng đất lở, thiếp chau mày.

    Hương xông khói toả, sầu man mác.

    Vàng hoá tro tàn, dạ ngẩn ngây;

    Phảng phất còn ngờ trong giấc mộng

    Ra, vào, đi, đứng, tưởng đâu đây!

    (1921)

    *

    Sương giá lòng em


    Sương giá lòng em bao ấm nữa!

    Anh đi, đi để lửa hương tàn.

    Trời đông lạnh lẽo muôn vàn,

    Lòng em, so tiết đông hàn, giá hơn!

    (Nghiêm-đông, năm 1923)

    *

    Tim em


    Tim em tan nát từ năm ấy

    Những vết thương đau, mãi chẳng lành,

    Tuổi trẻ dễ tin, em những chắc,

    Duyên sau chắp lại mối tơ mành.


    Hạnh phúc đời em, ai cướp cả?

    Em theo ân ái chẳng may gì,

    Hờn duyên, em lại nhìn cha khóc,

    Ứa lệ, cha em ngoảnh mặt đi!


    Từ đấy thương cha, em nín khóc,

    Cha em thường thấy mặt em vui.

    Người đời cũng ngốt em sung sướng.

    Em biết tim em đã nát rồi!


    Em cười phong kín hai hàng lệ,

    Lệ ứa thương em lỡ cuộc đời;

    Thổn thức canh dài em dẫu khóc,

    Nhưng mai, son phấn lại tươi rồi!


    Vì đứa con côi, em phải sống,

    Nuôi con rỏ lệ máu tim hoà,

    Muôn vàn hạnh phúc hy sinh hết,

    Tim nát, thời gian lặng lẽ qua!...

    (1933)

    *

    Thu tâm sự

    Thu tâm sự đầy với nước mắt,

    Dồn trăm năm này tập văn này!

    Thời gian qua, hận chẳng khuây,

    Lứa đôi vẫn nhớ bạn ngày tuổi xanh.

    Đời trống trải, buồn tênh mọi nỗi,

    Năm lại năm, thôi nói năng chi;

    Cõi trần kẻ ở, người đi,

    Thế gian phong vị còn gì là vui!

    Tử sinh để ngậm ngùi một kiếp,

    Nỗi quạnh hiu lòng biết với lòng;

    Có đêm trước án đèn chong,

    Mỗi câu, mỗi chữ, mỗi dòng châu sa.

    Khoảng trời đất, bao la man mác,

    Mối sầu riêng ký thác văn chương;

    Mực hoa ghi sử đoạn trường,

    Lệ Thu lai láng, Sông Tương dạt dào.

    Kiếp này biệt, kiếp nào gặp nữa?

    Những âm thầm nghĩ nhớ thương nhau;

    Hoa râm chớm điểm mái đầu,

    Lòng son khôn gột, dạ sầu khôn nguôi.

    Đời hiu quạnh, năm trôi lặng lẽ,

    Bóng tà dương ai vẽ cảnh chiều;

    Duyên xưa dang dở đã nhiều,

    Tình xưa còn lệ bấy nhiêu là tình!

    (1943)

    *

    Sau cơn mưa gió

    Vũ sơ tình hề, phong khởi sầu.

    Ba sinh lỡ dở mối duyên đầu,

    Chiếc bách lênh đênh nước thẳm sâu.

    Yên trí sang ngang gây lại phúc;

    Đau lòng dấn bước vướng thêm sầu.

    Má hồng phận mỏng cay son phấn;

    Nước loạn canh tàn khóc bể dâu

    Mưa gió Sông Tương thơ đẫm lệ,

    Đoạn trường ai cảm khách qua cầu?

    Tương-Phố tự bạt

    PHAN KHÔI

    1887 – 1959


    PHAN KHÔI sinh năm 1887, tại làng Bảo-an, huyện Điện-bàn, tỉnh Quảng-nam (Trung-phần).

    Cụ xuất thân từ một gia đình vọng tộc, thân sinh cụ là Phan Trần. Trước làm Tri-phủ Điện-bàn sau đó từ quan về quê dạy học. Thân mẫu cụ là con của Tổng-đốc Hà-nội Hoàng-Diệu. Cụ Hoàng-Diệu là một anh hùng dân tộc, đã anh dũng tuẫn tiết khi thành Hà-nội thất thủ vào tay Henri Rivière năm 1882.

    Cụ Phan Khôi là một nhà nho học, giỏi Hán văn, lên 18 tuổi (1905) cụ đỗ tú tài Hán học, nhưng không lấy làm mãn ý vì nhận thấy không còn thích hợp với hoàn cảnh nữa, nên cụ bắt đầu học chữ quốc ngữ.

    Trong khoảng thời gian này, đất nước đang ở trong tình trạng chống Pháp, cụ may mắn gặp được hai nhà cách mạng tiền phong nổi tiếng là Phan bội Châu và Phan chu Trinh, tiêm nhiễm được tinh thần ái quốc nên cụ bắt đầu có tư tưởng cách mạng từ đó.

    Đến năm 1907, Phan Khôi chính thức tham gia phong trào Đông-kinh Nghĩa-thục tại Hà-nội, và viết cho tờ Đăng cổ tùng báo do phong trào này chủ trương và xuất bản. Nhưng chẳng bao lâu, phong trào Đông-kinh Nghĩa-thục bị khủng bố, tạp chí Đăng cổ tùng báo bị đóng cửa, tất cả nhân viên trong phong trào và cộng sự viên của báo này bị đàn áp thẳng tay. Phan Khôi phải về Nam-định rồi về Hải-phòng để tránh tầm lưới truy nã gắt gao của bọn công an Pháp đang bủa vây. Ở Hải-phòng chỉ mấy tháng, cụ tìm về quê nội ở Quảng-nam. Về đây, cụ chính thức tham gia phong-trào Văn-thân Cứu-quốc do nhà chí sĩ Huỳnh thúc Kháng khởi xướng.

    Cuối năm 1907, trong vụ biểu tình của Phong-trào Văn-thân Cứu-quốc chống đối chính quyền thực-dân Pháp, đòi giảm thuế cho dân chúng, cụ bị bắt và cầm tù tại nhà lao Quảng-nam.

    Đến năm 1914, thế chiến thứ nhất bùng nổ, quân Pháp và Đức đánh nhau dữ dội. Để lấy lòng dân chúng bản xứ, toàn quyền Pháp tại Đông-dương lúc bấy giờ là Albert Sarraut ân xá một số thường phạm và chính trị phạm, trong đó có cả Phan Khôi.

    Ra khỏi nhà tù, Phan Khôi viết cho tạp chí Nam phong của Phạm Quỳnh, nhưng không được bao lâu vì bất đồng ý kiến, cụ bỏ vào Sài-gòn viết cho tờ Lục tỉnh tân văn.

    Năm 1920, Phan Khôi trở ra Hà-nội viết trên Thực nghiệp dân báo và tạp chí Hữu thanh. Trong khi cộng tác với hai báo này, cụ bút chiến với Hải-Triều, một nhà văn có khuynh hướng cộng sản về vấn đề duy tâm và duy vật. Cuộc bút chiến đã gây xôn xao dư luận trong nước. Sau đó, hai tạp chí này bị đình-bản, cụ lại vào Sài-gòn viết cho tờ Thần Chung và tạp chí Phụ nữ tân văn. Chính khoảng thời gian này (1920) cụ dịch quyển Kinh Thánh Tin Lành và tác phẩm đầu tiên của cụ chính thức chào đời mang tên Nam âm thi thoại.

    Năm 1931, cụ lại cộng tác với Phụ nữ thời đàm tại Hà-nội.

    Năm 1936, Phan Khôi viết cho báo Trường an và năm này chính cụ cho xuất-bản tờ báo Sông Hương và tái bản quyển Nam âm thi thoại, lần này cụ đổi tên lại là Chương dân thi thoại. Vì Chương-Dân là bút hiệu của cụ.

    Năm 1937, tờ báo Sông Hương bị đình bản, cụ lại vào Sai-gòn viết báo và trong năm nay cụ cho ra đời quyển tiểu-thuyết phong tục Trở vỏ lửa ra.

    Giữa năm 1945, khi Sài-gòn đang trong tình trạng chiến tranh, Nhật đảo chính Pháp và sau những lần bị oanh tạc tàn khốc, cụ trở về quê nhà lánh nạn, cho đến ngày chính quyền lọt vào tay Việt-minh.

    Đến năm 1954, sau hiệp định Genève ký kết phân chia lãnh thổ, cụ sống với chế độ miền Bắc và tỏ ra luôn luôn chống đối.

    Năm 1956, trong phong trào chống đối của các văn thi sĩ miền Bắc, cụ chính thức tham gia và gây thành vụ án Nhân văn giai phẩm. Cụ đả kích dữ dội, lên án gắt gao chính quyền miền Bắc bằng cách cho đăng nhiều bài báo mà điển hình là truyện ngắn Ông Năm Chuột, Ông Bình Vôi ( chúng tôi trích ở sau) đăng trong báo Văn số 36, ngày 10 tháng 1 năm 1958, chính vì những bài báo nầy cụ bị thanh trừng và báo Văn bị đóng cửa.

    Cụ mất vào ngày 16 tháng 1 năm 1959, hưởng thọ 72 tuổi.


    Các bạn vừa đọc qua phần tiểu sử của Phan Khôi, chúng tôi thiết nghĩ cũng không phải thừa thãi khi ghi lại đôi nét về cá tính độc đáo của con người đã táo bạo làm một cuộc cách mạng thi ca. Dưới đây là tài liệu của Ông X X (Thiếu-sơn) đăng trên nhật báo Thần chung số 316, ngày 23, 24-7-1967 dưới tựa đề:


    Bài học Phan Khôi

    “Ông Phan Khôi với bút hiệu Chương-Dân và nhiều bút hiệu khác nữa có một địa vị đặc biệt trong làng báo và làng văn hồi tiền chiến.

    “Trong Thi tù tùng thoại cụ Huỳnh thúc Kháng đã phải hạ bút khen ông khi ông còn thanh niên cùng ở tù chung với các cụ tại đề lao Faifo. Hồi đó, vào năm 1908, các cụ bị tập trung ở khám Faifo để rồi sẽ bị phân tán đi các nơi khác. Hôm sau có một số người bị đày ra Côn-đảo thì hôm trước các cụ tổ chức một bữa tiệc trong tù để cùng nhau xướng hoạ với đề tài kẻ ở, người đi. Cụ Huỳnh đã viết: “Trong khi các bạn tiễn, có mấy bài tứ tuyệt của ông Tú Phan Khôi là xuất sắc hơn cả.”

    “Xướng hoạ với những ông cử, ông nghè bằng chữ Hán mà được chính một ông nghè khen là xuất sắc hơn cả đủ thấy cái giá trị của Tú Khôi ngay từ ngày ông chưa có chỗ ngồi ở làng văn, làng báo.

    “Ông đã viết cho những tờ Đăng cổ tùng báo, Nam phong, Hữu thanh, Thực nghiệp dân báo, Lục tỉnh tân văn, v.v…Ông đã làm thư ký cho công ty Bạch Thái Bưởi, dịch Thánh-kinh cho đạo Tin Lành. Nhưng người ta chỉ bắt đầu biết tới ông khi ông viết cho Đông Pháp thời báo, Thần chung và nhất là Phụ nữ tân văn.

    “Ông Diệp văn Kỳ là con người sành điệu đã để ý tới ông, mời ông hợp tác, nhưng lúc đó nhiều ngôi sao sáng đã gặp nhau ở một chỗ nên Phan Khôi chưa nổi bật.

    “Ông chỉ nổi bật khi ông được mời viết cho Phụ nữ tân văn của ông bà Nguyễn đức Nhuận. Hồi đó, vào khoảng 1930, một bài văn được trả 5 đồng tiền nhuận bút là hậu lắm rồi.

    “Vậy mà Phụ nữ tân văn dám trả 25 đồng một bài cho ông Phan. Một tháng bốn bài 100 đồng tức là hơn lương công chức ngạch cao cấp cỡ Huyện, Phủ. Như vậy thì đâu phải văn chương hạ giới rẻ như bèo. Phải nói là mắc như vàng mới đúng. Nhưng cũng phải nói thêm là chỉ văn chương của Phan Khôi mới được giá đến thế và chỉ có ông bà Nguyễn đức Nhuận mới dám trả tới giá đó mà thôi. Trả như vậy mà tôi còn cho rằng chưa tới mức vì hầu hết độc giả bỏ 15 xu ra mua Phụ nữ tân văn đều chỉ muốn được coi bài của Phan Khôi hay Chương-Dân, những bài gãy gọn, sáng sủa, đanh thép với những đề tài mới mẻ, những lý luận thần tình làm cho người đọc say mê mà thống khoái. Cái đặc biệt ở Phan Khôi là chống công thức (non conformiste).

    “Những cái gì người ta cho là phải, là đúng thì ông đưa ra những lý luận, trưng ra những bằng chứng để đi tới kết luận là trái là sai. Võ-hậu là một con dâm phụ chuyên quyền, ông Phan Khôi dẫn chứng ở sách vở ra để chứng minh rằng bà ta là một người đàn bà vượt khuôn khổ, một bộ óc thông minh tuyệt vời, một phụ nữ phi thường.

    “Cố nhiên là nhiều khi ông nguỵ biện nhưng nguỵ biện một cách rất tài tình và ngay trong khi nguỵ biện ông cũng dẫn chứng được phần nào những ưu điểm của một nhân vật mà thành kiến chỉ cho thấy khuyết điểm mà thôi.

    “ Đạo Nho người ta cho là khuôn vàng, thước ngọc, là xương tuỷ của đạo lý dân tộc. Ông Phan Khôi, một nhà Nho chánh thống lại viết cả loạt bài để đả phá đạo Nho cho là một đạo bảo thủ phản tiến hoá.

    “Thú vị nhất là khi ông đóng vai tuồng ngự sử trên văn đàn để bắt “phốt” (faute) những nhà văn có tên tuổi vào hạng tiền bối hay đàn anh. Cả tới cái tên của người ta ông cũng không tha. Ông bắt lỗi cụ Nguyễn chánh Sắt sao lại viết Sắt, phải viết Sắc mới đúng theo chánh tả, một nhà Nho không có thể có tên Sắt (sắt thép) mà phải có tên Sắc (hương sắc, sắc không), vả lại theo chữ Nho thì đích thị là chữ Sắc. Ông bắt lỗi cụ Đặng thúc Liêng sao lại để dư một chữ g? Liên là hoa sen mới đúng. Còn Liêng là vô nghĩa.

    “ Ông bút chiến toàn những “tay tổ” với ông Phạm Quỳnh, ông gia cho chữ học phiệt.

    “ Với ông Trần trọng Kim, ông phê bình gắt gao bộ Nho giáo với những kiến thức sâu rộng và những lý luận danh thép của ông. Nhưng ông cũng có những sơ hở để đối phương đập lại ông. Ông mới ông Trần về với Mr. Logique.

    “ Ông Trần nhắc chừng cho ông nhớ Logique thuộc về giống cái thì phải gọi là Cô chứ sao gọi là Me-sừ.”

    “Những giai thoại về Phan Khôi nhiều lắm, nói không hết. Nhưng có điều nên biết là ông cố ý chơi ngông để được tiếng là ngông.

    “ Ông muốn làm hề để chọc cười thiên hạ. Ông thật tình muốn phục vụ chân lý và lẽ phải, thấy bậy thì nói, thấy sai thì sửa.

    “ Đã có lần ông sửa cả văn chương chữ hán của những bậc đại nho. Ông nói: Không phải tôi chê các cụ viết sai, nhưng tôi chê các cụ chưa viết đúng theo lề lối và tinh thần của người Tàu. Nên nhớ chữ Nho là chữ Tàu. Cũng như chữ Tây viết đúng mẹo luật mà chưa, đúng theo lề lối của Tây thì Pas francais, chữ Hán cũng vậy, viết theo lề lối Việt-nam thì cũng Pas chinois.

    “ Phải nhìn nhận rằng ông Phan Khôi là một người thông minh, học rộng, biết nhiều, chịu khó suy nghĩ, có óc nhận xét tinh tế, cốt cách tánh tình, tác phong đều đàng hoàng nghiêm cẩn, nhưng cố tình vươn mình để tiến xa hơn những nhà nho khác mà ông cho là cố chấp, bảo thủ, lạc hậu. Ông tự học để đọc được sách Pháp. Ông dịch Thánh kinh cho đạo Tin Lành chính là để đọc thêm chữ Pháp.

    “Ông sở đắc khá nhiều về học thuật, tư tưởng của Pháp. Nhưng ông cũng có tật là được mới nới cũ. Cái học cũ là cái học căn bản của ông.

    “Nhờ cái học mới mà ông thấy được những nhược điểm và khuyết điểm của cái học cũ. Nhưng người như ông làm sao thoát ly khỏi cái học căn bản nó đã đi sâu vào máu huyết của ông, xây dựng nên con người ông.

    “ Do đó mà ông không thể đi xa được trên con đường tân học. Ông có cái hăng say của kẻ nhập môn nên chưa có cái chính chắn của người thuần thục.

    “Ông Phan văn Hùm đã chê ông chỉ mới hiểu được cái luận lý hình thức (logique formelle) nên nhiều khi có phiến diện. Ông cũng Pas francais nhưng thật ra ta có cần gì Francais hay Pas francais.

    “ Ta chỉ cần đi xa hơn cái học tư sản mà người ta thường lấy nó làm khí giới và đồ trang sức để phát triển những khả năng tiểu xảo của mình.

    “ Có như thế ta mới đi tới cái học nhân bản hiểu mình, hiểu người, hiểu đời, để tổng hợp thành cái vốn tinh thần cho ta thấy những liên quan mật thiết với dân tộc, với nhân loại.

    “ Có như thế ta mới từ bỏ được lối chơi cá nhân để hoà mình vào tập thể. Ông Phan Khôi mới có lối chới cá nhân và chưa có lối chơi tập thể.

    *

    “Như trên, tôi đã nói nhờ căn bản nho học và những gì ông đã sở đắc về học thuật Tây-phương, ông Phan Khôi đã có lối chơi cá nhân rất vững vàng và ngoạn mục tạo cho ông một địa vị đặc biệt trong làng văn.

    “Ông không a dua theo thời thượng, chống công thức gắt gao, không để một thế lực nào chi phối nên nhất thiết những gì ông nói ra, viết ra đều do ông suy nghĩ theo đầu óc của ông. Mà đầu óc ông như ta biết là một thứ đầu óc thông minh, phong phú, chịu suy nghĩ, độc lập, bướng bỉnh nên nói khác với mọi người. Hồi đó dường như ông đã dịch chữ original là “cổ quái” nhưng có lẽ nên dịch là “độc đáo”.

    “Tôi muốn gọi ông là độc đáo chứ không nỡ cho ông là cổ quái. Đã có lần ông bút chiến với cụ Huỳnh thúc kháng. Cụ Huỳnh nói tới tuổi tác của cụ, ông trả lời là đừng nêu vấn đề tuổi tác ra, cãi nhau là để làm sáng tỏ chân lý, ai đuối lý là thua, không cần biết người đó lớn hay nhỏ, trẻ hay già. Ở trên mặt báo thì ngáo ngổ như thế, nhưng kỳ thật trong thâm tâm ông vẫn kính phục cụ Huỳnh cũng như ông vẫn có cảm tình với tất cả những người sạch sẽ, lương thiện, có tư cách và tiết tháo. Còn những kẻ thiếu căn bản, thiếu giáo dục, đê hèn, bần tiện, ông khinh ra mặt và chẳng muốn làm quen.

    “Ông Bùi thế Mỹ đã nói đúng khi ông nói: Ông Phan “bát cận nhân tình” nhưng thực ra ông chỉ bất cận với những kẻ nào mà ông không muốn gần chứ khi ông thấy có điểm nào chơi được thì ông cũng “chịu chơi”.

    “Có điềulà chính ông mới là con người khó chơi vì ông thẳng thắn, phân minh, trực ngôn và không hay nhân nhượng.

    “Ông không bao giờ lợi dụng ai, nhưng ông không để cho ai lợi dụng mình.

    “Một tờ báo nào mời ông viết thì trước hết ông hỏi giá cả đàng hoàng, làm giao kèo kỹ lưỡng, phải nghiêm chỉnh tôn trọng giao kèo. Phần ông không bao giờ ông bội ước với ai nhưng ông không bằng lòng cho người ta bội ước với ông. Nhưng ở đời đâu phải chỉ có những con đường thẳng, tới những khúc quanh co thì ông không đi được. Do đó mà có chuyện. Có rất lắm chuyện về ông.

    “Tú Mỡ” làm thơ chọc ông, ông phản công lại và ký bằng bút hiệu “Tú Sơn”, Sơn này không phải là núi. Sơn này là Seul. “Tú Sơn” tứ là Tout seul nghĩa là “chỉ có một mình”. Độc lập cũng được, cô độc cũng được.

    “Nhưng miễn là ông không lệ thuộc ai, không ai chi phối ông được. Ông hoàn toàn tự chủ, triệt để tự do. Ông tài cao, học rộng nên có lối chơi cá nhân rất đẹp. Nhưng thời cuộc biến chuyển bắt buộc mọi người phải hoà mình vào tập thể. Người ta làm được mà ông không làm được.”

    X X

    *

    Dưới đây là một trong những nét bút sắc bén điển hình cho lối châm biếm, chế riễu bọn quan lại dốt nát chỉ vì hiểu sai sách vở đã gây oan ức cho dân lành vô tội. Chúng tôi thuật lại theo trí nhớ ý nghĩa một bài báo của Phan Khôi đã đăng trên Phụ nữ tân văn vào khoảng năm 1930.


    Đọc lệch … giết lầm!

    Thừa đêm mưa gió, một tên đạo chích lén trộm chiếc chuông của chùa làng và bị bắt được. Nội vụ giải đến Huyện-quan. Ai ai cũng tưởng tên trộm sẽ bị tù. Nào ngờ quan Huyên tha ngay hắn về.

    Không bao lâu, làng lại bắt được một tên ăn trộm chiếu và cũng giải nạp lên huyện đường. Nhưng lạ thay, quan Huyện dạy đem chém đầu tên trộm chiếu.

    Hội đồng làng chẳng hiểu ra sao cả, trộm chuông là trọng tội mà được tha, còn trộm chiếu coi như cắp vặt mà bị giết. Thế là cả hội đồng làng kéo nhau lên tận huyện đường để nhờ quan trên chỉ dạy.

    Huyện quan tỏ ra là bậc “dân chi phụ mẫu”, dạy rằng:

    “Các người làm sao hiểu thấu cách thức chăn dân trị nước của bậc Thánh hiền. Ta đây xét xử mọi việc đều theo sách vở nghìn xưa để lại; bởi câu: Phu tử chi đạo kỳ chung thứ giả, nghĩa là phu tử dạy, trộm chuông thì hãy tha. Lại có câu: Triều văn đạo tịch tử khả hỉ, nghĩa là Triều đình truyền, ăn trộm chiếu thì phải tội chết.Bởi lẽ các người còn tối sách vở Thánh hiền thì làm sao thấu đáo nghĩa lý.”

    Hội đồng làng đầu gật gù, tỏ vẻ khâm phục, xá dài nói:

    “Bẩm quan Ngài, Ngài quả là người thông đạt thiên kinh vạn sử, lũ chúng con sao sánh bằng.”

    Vì bị chết oan, hồn tên trộm vất vưởng xuống Diêm-đình đầu cáo. Diêm-vương cho quỉ sứ lên bắt hồn quan Huyện xuống đối chất.

    Diêm-vương hỏi Huyện-quan:

    “Nhà ngươi xét xử thế nào mà tên này xuống đây kêu oan?”

    Huyện-quan thưa:

    “ Bẩm Diêm-chúa, chúng con đứng ra chăn dân, cầm cân nẩy mực lẽ nào không thông hiểu lời Thánh hiền dạy.

    Sách có câu: Phu tử chi đạo kỳ chung thứ giả Triều văn đạo tịch tử khả hỉ. Con đã theo đúng sách vở mà tha cho tên trộm chuông và giết tên trộm chiếu để răn dạy kẻ khác.”

    Nghe xong, Diêm-vương vỗ án:

    “Thôi rồi! Nhà ngươi làm đến chức Huyện-quan mà hiểu sai bét cả sách vở Thánh nhân thì sao không giết oan uổng mạng người. Câu: Phu tử chi đạo kỳ trung (không phải chung) thứ giả, nghĩa là Đạo của Phu tử là đạo trung thứ. Chữ trung trung dung, tức cái đạo đức không thiên về mặt nào mà mi đọc lệch chung là cái chuông. Còn câu kia: Triêu (không phải triều, là chữ đồng tự dị âm) văn đạo tịch tử khả hỉ, nguyên là câu của ông Nhan-Hồi, học trò đức Khổng Tử viết để tỏ nhiệt tình với đạo của Thầy, có nghĩa: Sáng mà nghe được mùi đạo trung thứ, chiều chết cũng cam. “Triêu” mà mi đọc lệch triều là “triều đình”, còn tịch là “buổi chiều” mà mi hiểu là “chiếu” để rồi giết oan một mạng người, lẽ ra tội nó chỉ phạt tù hay phạt vạ thôi. Cái dốt của nhà ngươi sẽ còn gây thêm nhiều oan khổ cho dân gian. Vậy ta bắt nhà ngươi đầu thai làm chó để đền bù tội lỗi.”

    Quan Huyện sợ hãi khúm núm van xin:

    “Thưa Ngài, Ngài có cho con đầu thai làm chó xin Ngài thương tình cho con làm chó nái.”

    Diêm-vương ngạc nhiên trước lời cầu xin lạ lùng của Huyên-quan; Ngài trừng mắt hỏi:

    “Chó thì đực hay cái cũng đều là kiếp chó. Tại sao nhà ngươi xin đầu thai làm chó nái?”

    “Bẩm Ngài. Sách có chữ: Lâm tài mẫu cẩu đắc, lâm nạn mẫu cẩu miễn, con muốn đầu thai làm chó nái để: Gặp tiền thì chó mẹ được hưởng, gặp nạn thì chó mẹ được miễn. Xin Diêm-chúa Ngài cho con làm chó nái.”

    Diêm-vương lắc đầu, chán nản:

    “Thôi! Lại là một cái dốt đặc cán mai của nhà ngươi nữa. Lâm tài mẫu cẩu đắc, lâm nạn mẫu cẩu miễn nghĩa là: Gặp tiền tài không nên lấy bừa bãi, gặp tai nạn không nên bỏ qua. Thế mà nhà ngươi lại hiểu ra. Chó nái dễ được tiền và tránh được tai nạn. Thôi, ta không cho nhà ngươi đầu thai làm chó mà phải chôn sống nhà ngươi tại âm phủ.”

    Huyện-quan khóc lóc, kêu thương:

    “Con dập đầu trăm lạy nghìn lạy Ngài, nếu Ngài chôn sống con xin Ngài rộng lượng cho chôn từ cổ trở xuống.”

    “- Chừa đầu cho mi… thở à?”

    “- Thưa, sách có câu: Thiên niên mai cốt bất mai tu (1). Dạ Ngàn năm chôn xác (xương) chẳng chôn râu. Con khẩn cầu Diêm-chúa Ngài ban ân huệ cuối cùng cho con. Tội nghiệp con.”


    Tháng 3 năm 1932, khi mà các thi sĩ trên giải đất nầy vẫn còn làm thơ theo những vần điệu xưa cũ. Bỗng một sự kiện đột khởi trên thi đàn Việt-nam, một nhà văn đứng lên hô hào cho lối thơ phá thể, nói phá thể nghĩa là làm thơ ngoài lề lối xưa, thoát khỏi cái vỏ cũ kỹ nghìn đời, người đó là ông Tú Phan Khôi.

    Phan Khôi đã đem đến làng thơ Việt-nam bầu không khí khác lạ, một thể thơ mới hoàn toàn từ hình thức đến nội dung. Nó đã phá vỡ cái cổ lệ để chính thức cho chào đời một lối thơ mới, mở màn cuộc thay dổi quan trọng của nền thi ca dân tộc.

    Cuối xuân năm 1932 (năm Nhâm-thân), trên tạp chí Phụ nữ tân văn số 122 ngày 10-3-1932 xuất bản tại Sài-gòn, có đăng một bài thơ nhan đề: Tình già, tác giả là ông Phan Khôi. Bài thơ được tung ra với lời giới thiệu: “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” đã làm kinh ngạc mọi người và tạo thành luồng dư luận xôn xao không ít. Có người lạc quan cho đó là sự thành hình của nền học

    (1) Thể xác ngàn năm còn chôn được, chớ không bao giờ lấp được tiếng xấu xa.




    :rose:
  • Đang tải...