0077.00015_Team8 - Nhapcua (type done). + thaole92 đã soát xong

6/5/16
0077.00015_Team8 - Nhapcua (type done). + thaole92 đã soát xong
  • (Giọng kiêu hay buồn không ai hiểu,

    Nhưng thật dễ thương.) : “ Ôi! vì ta ! ”


    Thủy-Tinh năm năm dâng nước bể,

    Đục núi hò reo đòi Mỵ-nương.

    Trần gian đâu có người dai thế,

    Cũng bởi thần yêu nên khác thường !

    (4-1933, tập thơ Ngày xưa)


    *

    Chùa Hương

    Thiên ký sự của một cô bé


    Hôm nay đi Chùa Hương,

    Hoa cỏ mờ hơi sương.

    Cùng thầy me em dậy,

    Em vấn đầu soi gương.


    Khăn nhỏ, đuôi gà cao,

    Em đeo giải yếm đào ;

    Quần lĩnh áo the mới,

    Tay cầm nón quai thao.


    Me cười : “ Thầy nó trông !

    Chân đi đôi dép cong,

    Con tôi xinh xinh quá !

    Bao giờ cô lấy chồng ? ”


    Em tuy mới mười lăm

    Mà đã lắm người thăm,

    Nhờ mối mai đưa tiếng,

    Khen tươi như trăng rằm.


    Nhưng em chưa lấy ai,

    Vì thầy bảo người mai

    Rằng em còn bé lắm !

    (Ý đợi người tài trai).


    Em đi cùng với me.

    Me em ngồi cáng tre,

    Thầy theo sau cưỡi ngựa,

    Thắt lưng dài đỏ hoe.


    Thầy me ra đi đò,

    Thuyền mấp mênh bên bờ :

    Em nhìn sông nước chảy,

    Đưa cánh buồm lô nhô.


    Mơ xa lại nghĩ gần,

    Đời mấy kẻ tri âm ?

    Thuyền nan vừa lẹ bước,

    Em thấy một văn nhân.


    Người đâu nhanh lạ thường !

    Tướng mạo trông phi thường.

    Lưng cao dài, trán rộng.

    Hỏi ai nhìn không thương ?


    Chàng ngồi bên me em,

    Me hỏi chuyện làm quen :

    “ Thưa thầy đi chùa ạ ?

    Thuyền đông, trời ôi, chen ! ”


    Chàng thưa : “ Vâng, thuyền đông ! ”

    Rồi ngắm trời mênh mông,

    Xa xa mờ núi biếc,

    Phơn phớt áng mây hồng.


    Dòng sông nước đục lờ.

    Ngâm nga chàng đọc thơ.

    Thầy khen : “ Hay ! Hay quá ! ”

    Em nghe rồi ngẩn ngơ.


    Thuyền đi. Bến Đục qua,

    Mỗi lúc gặp người ra,

    Thẹn thùng em không nói :

    “ Nam vô A-Di-Đà” !


    Réo rắt suối đưa quanh.

    Ven bờ, ngọn núi xanh.

    Nhịp cầu xa nho nhỏ.

    Cảnh đẹp gần như tranh.


    Sau núi Oản, Gà, Xôi,

    Bao nhiêu là khỉ ngồi.

    Tới núi con Voi phục,

    Có đủ cả đầu đuôi.


    Chùa lấp sau rừng cây,

    (Thuyền ta đi một ngày)

    Lên cửa chùa em thấy,

    Hơn một trăm ăn mày.


    Em đi, chàng theo sau,

    Em không dám đi mau,

    Ngại chàng chê hấp tấp,

    Số gian nan không giàu.


    Thầy me đến điện thờ,

    Trầm hương khói tỏa mờ.

    Hương như là sao lạc,

    Lớp sóng người lô nhô.


    Chen vào thật lắm công.

    Thầy me em lễ xong,

    Quay về nhà ngang bảo :

    “ Mai mới vào chùa trong. ”


    Chàng hai má đỏ hồng.

    Kêu với thằng tiểu đồng

    Mang túi thơ bầu rượu :

    “ Mai ta vào chùa trong ! ”


    Đêm hôm ấy em mừng.

    Mùi trầm hương bay lừng.

    Em nằm nghe tiếng mõ,

    Rồi chim kêu trong rừng.


    Em mơ, em yêu đời !

    Mơ nhiều... Viết thế thôi !

    Kẻo ai mà xem thấy,

    Nhìn em đến nực cười !


    Em chưa tỉnh giấc nồng,

    Mây núi đã pha hồng.

    Thầy me em sắp sửa

    Vàng hương vào chùa trong.


    Đường mây đá cheo veo,

    Hoa đỏ, tìm, vàng leo.

    Vì thương me quá mệt,

    Săn sóc chàng đi theo.


    Me bảo: “Đường còn lâu,

    Cứ vừa đi vừa cầu

    Quan-Thế-Âm Bồ-Tát

    Là tha hồ đi mau ! ”


    Em ư? Em không cầu,

    Đường vẫn thấy đi mau.

    Chàng cũng cho như thế.

    (Ra ta hợp tâm đầu).


    Khi qua chùa Giải oan,

    Trông thấy bức tường ngang,

    Chàng đưa tay lẹ bút

    Thảo bài thơ liên hoàn.


    Tấm tắc thầy khen: “ Hay !

    Chữ đẹp như rồng bay. ”

    (Bài thơ này em nhớ,

    Nên chả chép vào đây).


    Ô! Chùa trong đây rồi !

    Động thắm bóng xanh ngời.

    Gấm thêu trần thạch nhũ,

    Ngọc nhuốm hương trầm rơi.


    Me vui mừng hả hê :

    “ Tặc! Con đường mà ghê ! ”

    Thầy kêu: “ Mau lên nhé !

    Chiều hôm nay ta về. ”


    Em nghe bỗng rụng rời

    Nhìn ai luống nghẹn lời !

    Giờ vui đời có vậy,

    Thoảng ngày vui qua rồi !


    Làn gió thổi hây hây,

    Em nghe tà áo bay,

    Em tìm hơi chàng thở.

    Chàng ôi, chàng có hay ?


    Đường dây kia lên trời,

    Ta bước tựa vai cười.

    Yêu nhau, yêu nhau mãi !

    Đi, ta đi, chàng ôi !


    Ngun ngút khói hương vàng

    Say trong giấc mơ màng,

    Em cầu xin Trời, Phật

    Sao cho em lấy chàng.

    (Thiên ký sự đến đây là hết. Tôi tin rồi hai người lấy nhau, vì không lấy được nhau thì cô bé còn viết nhiều. Lấy nhau rồi là hết chuyện.)

    (trích tập thơ Ngày xưa)



    *


    Một buổi chiều xuân


    Hôm đó buổi chiều xuân,

    Trông mây hồng bay vân,

    Liền gập pho kinh sử,

    Lững thững khỏi lầu văn.


    Đường leo, nhà lom khom,

    Mái xanh, tường rêu mòn.

    Ta nhìn, ngâm nga đọc

    Câu đối cửa màu son.


    Phu khiêng kiệu ngẩn ngơ

    Thầy lại và thầy thơ

    Ngồi xổm cười bên lọng

    Trước cửa tòa dinh cơ.


    Cương da buộc thân cây,

    Vài con ngựa lắc dây,

    Nghểnh đầu lên gậm lá,

    Đập chân nghiêng mình xoay.


    Đi vui rồi vẩn vơ,

    Hay đâu thức còn mơ.

    Lạc vào trong vườn rộng,

    Mồm vẫn còn ngâm thơ !


    Ô! Vườn bao nhiêu hồng !

    Hương nghi ngút đầu bông.

    Lầu xa tô mái đỏ,

    Uốn éo hai con rồng.


    Thoảng tiếng vàng thanh tao,

    Bên giàn lý bờ ao,

    Một nàng xinh như liễu

    Ngồi ngắm bông hoa đào.


    Tay cầm bút đề thơ,

    Tì má hồn vẩn vơ,

    Nàng ngâm lời thánh thót.

    Ai không người ngẩn ngơ !


    Ta lặng nhìn hơi lâu

    - Nhưng thì giờ đi mau -

    Đứng ngay gần non bộ,

    Có ông lão ngồi câu.


    Nàng chợt nghiêng thân ngà ;

    Thoáng bóng người xa xa,

    Reo kinh hoàng, e lệ,

    Đưa rơi cành bút hoa.


    Ta mơ chưa lại hồn,

    Nàng lẹ gót lầu son.

    Vừa toan nhìn nét phượng,

    Giấy thẹn bay thu tròn…

    Thiên ký sự của một thư sinh đời trước.

    6-5-1933

    Nguyễn nhược Pháp


    *

    Tay ngà


    Đêm nay chờ trăng mọc,

    Ngồi thẩn thơ trong vườn.

    Quanh hoa lá róc rách,

    Như đua bắt làn hương.


    Ta ngồi bên tảng đá,

    Mơ lều chiếu ngày xưa,

    Mơ quan Nghè, quan Thám

    Đi có cờ lọng đưa.


    Rồi bao nàng yểu điệu

    Ngấp nghé bay trên lầu,

    Vừa leng keng tiếng ngựa,

    Lẹ gót tiên gieo cầu.


    Tay vơ cầu ngũ sắc,

    Má quan Nghè hây hây.

    Quân hầu reo chuyển đất,

    Tung cán lọng vừa quay.


    Trên lầu mấy thị nữ

    Cũng nhau khúc khích cười :

    “ Thưa cô đừng thẹn nữa,

    Quan Nghè trông lên rồi ! ”


    Cúi đầu nàng tha thướt,

    Yêu kiều như mây qua

    Mắt xanh nhìn man mác,

    Mỉm cười về cành hoa.


    Ta còn đang luyến mộng,

    Yêu bóng người vẩn vơ ;

    Tay ngà ai phủ trán ?

    Hiu hắt ánh trăng mờ…

    2-5-1934, tập thơ Ngày xưa

    *


    Giếng Trọng-Thủy


    Đêm khuya, gió lốc, mây đen vần,

    Cỏ lướt gieo mình vực giếng thâm ;

    Trọng-Thủy nằm trên làn nước sủi.

    Tiếng mõ cầm canh xa âm thầm.


    Phơn phớt hồn ma đóm lập lòe.

    Cu rúc. Đàn dơi bay tứ bề.

    Răng rắc kêu như tiếng xương đập,

    Gió rền, quỉ khóc, lay cành tre.


    Nhấp nhoáng xiên trời chớp tóe xanh,

    Gầm ran sấm chuyển, mây bùng phanh.

    Mưa đập. Tù và rên văng vẳng,

    Hiệu lính tuần kêu trên mặt thành.

    1-1993, tập thơ Ngày xưa


    Mỵ-Châu

    Lẫy thần chàng đổi móng

    Lông ngỗng thiếp đưa đường.

    Nguyễn khắc-Hiếu



    I


    Đêm hôm gió khóc thổi ru cành :

    Núi bạc âm thầm, bể uốn xanh.

    Hiu hắt Mỵ-Châu nằm trăng phủ.

    Ầm ầm sóng thảm vỗ vờn quanh.


    Cát vàng le lói muôn hàng châu :

    Long lanh trai tuyết nhìn canh thâu.

    Thương ai sao biết thầm gieo lệ,

    Sương mờ bay tỏa bạc ngàn lau.


    Chân nàng hoa lả nhuốm màu hương

    Vừng trăng lạnh lẽo, chim kêu buồn.

    Thân ngà tóc rủ vờn man mác,

    Thiêm thiếp em chờ ai bên đường.


    II


    Bơ bơ Trọng-Thủy lạc rừng hoang,

    Vời theo lông ngỗng rơi bên đàng ;

    Đau lòng mắt nặng rùng đêm lạnh

    Thoảng tiếng trăng thưa chen lá vàng.


    Lẫy thần trao móng, chàng đi xa.

    Yêu nhau sao nỡ bạc nhau mà ?

    Chàng đi – cho bao giờ gặp gỡ ! –

    Phiên-ngung nước cũ lệ chan hòa.


    Nào lúc con thuyền sóng vỗ quanh,

    Hiu hiu mây thoảng da trời xanh,

    Xiêm bay theo gió, hồn vơ vẩn.

    Gương biếc nàng xưa êm tô hình.


    Nào lúc chiều hôm vang lửa hồng,

    Chim bay tan tác, trời mênh mông.

    Lẹ gót hài tiên nàng yểu điệu,

    Bên lầu tựa cửa cuốn rèm trông.


    Nào lúc đêm thanh mờ bóng trăng,

    Nhìn mây nàng gợi tiếng dương cầm.

    Tóc liễu đua bay vờn má ngọc,

    Lời ca thánh thót, chàng quên chăng ?


    Bơ vơ ngày cũ tưởng càng đau,

    Tìm trông phương nào, hỡi Mỵ-Châu ?

    Lông ngỗng cầm tay nhòa ánh lệ,

    Chàng đi man mác buồn, đêm thâu.


    III


    Thiêm thiếp ai bên đường, hỡi ôi !

    Chàng ôm khóc nghẹn chẳng ra lời,

    - Đầu non mây bạc êm đềm phủ,

    Phơn phớt hồn em bay, ngậm cười…

    1-1933, tập thơ Ngày xưa



    *


    Đi cống

    Lệ cống thì thì phải chọn nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói, thầy toán số và thợ thuyền mỗi hạng ba người, cùng các đồ sản vật như là sừng tê, ngà voi, đồi mồi, châu báo và các vật lạ.

    Trần trọng Kim





    Núi cao, lửa hồng reo chói lọi,

    Đỗ vàng cây cối um tùm xanh

    Khi lòe nắng lóa khi thâm tối,

    Sườn non con đường mềm uốn quanh.


    Hiu hắt cờ bay tua phơ phất,

    Binh lính hò reo gầm bốn phương.

    Nón đỏ, bao vàng, chân dậm đất,

    Một toán đạp rừng um dẫn đường.


    Mặc áo bào xanh, ngồi ngựa trắng,

    Sứ nghe nhạc lắc vang bên rừng.

    Hai bên hai lọng vàng che nắng.

    Trời, mây, trông non nước muôn trùng !


    Mười xe bịt đồng, trâu mập kéo,

    Bánh sắt khi kề lên sườn non,

    Đá đổ ầm ầm như sấm réo,

    Gầm nhảy xuống vực sâu kêu ròn.


    Trên xe nào mâm vàng dát ngọc,

    Châu báu, sừng tê và ngà voi ;

    Hai pho tượng vàng đỏ đòng đọc ;

    Bào nạm kim cương, đai đồi mồi.


    Binh lính hò quanh hoa giáo mác

    - Võ tướng khua đao to lầm lầm -

    Hễ thấy đường chênh kề miệng thác,

    Bỏ giáo lên xe xoay bánh, vần.


    Thầy nho, thầy thuốc bên thầy bói,

    Thợ thêu, thợ chạm cùng thợ nề,

    Mỗi người đeo một cái khăn gói

    Đỏ, buông cương ngựa theo gần xe.


    Lúc ấy trời xanh không u ám,

    Đầu non không tờ mờ bóng sương,

    Làm sao họ âu sầu thảm đạm ?

    Buồn thay ! Ngưới cố quận tha hương.


    Xe đi mỗi lúc một thêm khó.

    Hang thâu hổ đói rên vang lừng ;

    Những con trăn xám văng như gió,

    Quật đuôi đè gãy bẹp cây rừng.


    Sứ bỗng nhìn quanh buồn ủ rũ ;

    Xa xa ngọn cờ vàng phất phơ !

    Vợ con ở chân trời mây phủ,

    Hẳn đang nhìn bóng nhạn mong chờ…


    Hỡi ai đi thẩn thơ miền núi !

    Nhìn ngọn cây xanh gió thổi ào,

    Tưởng lại cờ xưa vàng chói lọi,

    Nên yêu người cũ hồn trên cao.

    10-3-1933, tập thơ Ngày xưa

    *


    Mỵ - ê


    Buồm nhô rẽ sóng, Mỵ mơ màng,

    Tay cuốn mền hoa, khóc gọi chàng.

    Thân liễu gieo đưa chìm vực biếc,

    Lời thương bay lảnh động rừng vang.

    Hoa trôi. Thành cũ vườn mây lửa,

    Lau gợn. Chùa cao giỏ tiếng vàng

    Ủ lệ, tay ngã ôm ngực huyết,

    Mỵ vờn theo sóng dạt bờ hoang.

    5-1933, tập thơ Ngày xưa


    *


    Nguyễn thị Kim khóc Lê Chiêu-Thống

    Triều Lê-quí có nàng tiết liệt


    Nhà tan, nước mất, chàng đi thôi.

    Thiếp nén lòng đau khóc nghẹn lời,

    Chậm bước đành nương mình bóng Phật ;

    Màng tin trông ngóng nhạn chân trời.

    Chuông đồng cảnh vắng, hồn mơ sảng,

    Trăng lạnh, đêm sâu, cú đổ hồi.

    Thê thảm, chàng đi, về có vậy !

    Thiếp chờ ai nữa ? Hỡi chàng ôi !

    30-12-1932, tập thơ Ngày xưa


    *


    Mây


    Người xưa mơ, nhìn mây

    Đen, đỏ, vàng đua bay,

    Khi thấy nhiều ma quỷ,

    Lời than trời lung lay ;


    Khi thấy hồn người thân,

    - Nhìn mây lệ khôn cầm ! -

    Trên bầy xe tứ mã,

    Tiếng bánh lăn âm thầm ;


    Khi thấy muôn nàng tiên

    - Lồng lộng màu thanh thiên ! -

    Véo von trầm tiếng địch,

    Lửa hồng vờn áo xiêm.


    Ngày nay ta nhìn mây,

    Mây đen luồng gió lay,

    Hồn xưa tìm chẳng thấy

    Tóc theo luồng gió bay…

    25-1-1934, tập thơ Ngày xưa





    NGUYỄN BÍNH

    1919-1966


    NGUYỄN-BÍNH tên thật là Nguyễn bính Thuyết, sinh năm 1919 tại làng Thiện - vịnh, huyện Vụ-bản, tỉnh Nam-định (Bắc-phần).

    Thuở nhỏ ông không học học ở trường, chỉ học ở nhà với cha và cậu.

    Ông bước chân vào thi đàn Việt-nam khoảng năm 1935-1936.

    Năm 1937, Nguyễn-Bính được tặng Giải Khuyến-khích về thơ của Tự lực văn đoàn.

    Nguyễn-Bính làm thơ thừ 13 tuổi ; đến năm 22 tuổi đã làm được trước sau gần một ngàn bài.

    Các thi phẩm được xuất bản gồm có :

    - Lỡ bước sang ngang (Lê Cường Hà-nội, 1940)

    - Tâm hồn tôi (Lê Cường Hà-nội, 1940)

    - Hương cố nhân (Á-châu Hà-nội, 1941, tập thơ để ghi lại kỷ niệm giữa Nguyễn-Bính và cô Anh-Thơ tên thật là Hương)

    - Bóng giai nhân (kịch thơ)

    Ngoài ra, tác phẩm Một ngàn cửa sổ Mây Tần chưa xuất bản.

    Nguyễn-Bính còn một tập truyện dài vàng thơ lục bát, - ông cho rằng sẽ dài hơn Truyện Kiều – mang tên Thạch xương bồ, ông thích ba chữ đó vì khi thấy nữ sĩ Mộng-Tuyết nấu nước lá thạch xương bồ để tắm gội vào tiết Đoan-ngọ, theo tục lệ ở Hà-tiên. Tác phẩm Thạch xương bồ khi viết được khoảng ba trăm trang, Nguyễn-Bính nổi khí giang hồ, lìa bỏ Nam-phong tiêu các của thi sĩ Đông-Hồ ở Hà-tiên, tác phẩm vì thế mà dở dang.

    Thời tiền chiến, Nguyễn-Bính được kể là một trong những nhà thơ lớn, chiếm ngôi vị vững chắc trong làng thơ mới.

    Thơ Nguyễn - Bính cho ta thấy sắc thái mang nặng một nỗi buồn gần như bất tận. Hầu hết thi phẩm của Nguyễn-Bính đều có âm điệu trầm buồn, nhẹ nhàng, man mác, như thương tiếc xa xôi ; những hình ảnh đau thương, hối tiếc, phân ly v.v… Tất cả tâm trạng của con người và mọi khía cạnh của cuộc đời đều được Nguyễn-Bính đề cập và thi vị hóa một các tài tình. Có người coi thơ Nguyễn-Bính là “điển hình của một chàng trai quê mùa (thơ rất gần với ca dao), một gã si tình lãng mạn, một tay phóng đãng giang hồ, một chiến sĩ, một người bị vỡ mộng khi thấy lý tưởng mà mình theo đuổi trong nhiều năm bị phản bội phũ phàng.”

    Thơ của ông rất hay, được đại chúng biết nhiều nhất, nhưng có lẽ tài bất thắng thời nên cuộc đời Nguyễn-Bính lận đận, lao đao, trôi nổi rày đây mai đó trên kiếp giang hồ.

    Nguyễn-Bính sinh trưởng ở miền Bắc, nhưng lại sống rất nhiều năm tại miền Nam ; và miền Nam đã tạo cho Nguyễn-Bính những hình ảnh đẹp, những kỷ niệm khó phai. Ông đã từng sống ở Kiên-giang (Rạch-giá cũ) với thi sĩ Kiên-giang Hà huy Hà ; trong khoảng thời gian này đã tạo ra những “ giai thoại thi ca ”.[1]

    Nguyễn - Bính là một nhà thơ yêu nước. Ông gia nhập phong trào chống Pháp vào khoảng năm 1946-1947. Ông khởi xướng việc thành lập Đoàn Văn hóa cứu quốc tỉnh Rạch-giá, và cho ra mắt Tập thơ yêu nước sau khi vào chiến khu chừng vài tháng. Những bài thơ lợi yêu nước chúng tôi trích ở phần sau đều ghi theo trí nhớ của nhà văn Sơn - Nam, bạn của Nguyễn-Bính. Tuy nhiên, loại thơ chiến đấu đối với Nguyễn-Bính dường như là món ăn không “ hạp khẩu ”, nên sáng tác của ông không làm sao người ta quên những hồn thơ cùng loại, của Hoàng-Cầm, Hữu-Loan, Quang-Dũng… Nói chung Nguyễn-Bính không thành công ở khía cạnh này vì hoàn cảnh đã giết chết hồn thơ.

    Thời kỳ kháng chiến, Nguyễn-Bính bị quân Pháp bắt giam cầm khá lâu. Đến khi ký kết Hiệp-định đình chiến, với phong trào tập kết ra Bắc, Nguyễn-Bính cũng không tránh khỏi. Sau vụ án Nhân văn giai phẩm, ông bị loại ra khỏi thành phần văn nhân miền Bắc và bị xem như kẻ có tội.

    Cuối cùng, Nguyễn-Bính sống lây lất trong niềm tủi nhục và qua đời vào ngày 20 thánh 1 năm 1966 sau cơn bạo bệnh.

    Nguyễn-Bính mất vừa đúng 47 tuổi ; thế là từ đây trên thi đàn đất nước vĩnh viến mất Bính – mất một nhà thơ lỗi lạc của đau thương, của thế giới u buồn.

    Cuộc đời của Nguyễn-Bính đã đi đúng như thơ của ông:

    Bao nhiêu đau khổ ngần này tuổi

    Chết cũng không oan, yểu nỗi gì.

    ----------
    [1] Xin xem ở phần Cuộc đời của Nguyễn-Bính đi trong khói lửa chiến chinh.

    TRONG những năm từ 1934 đến 1937, thời kỳ cực thịnh của nền thi ca tiền chiến, nếu nói đến những nhà thơ xuất sắc của thế hệ này, người ta nghĩ ngay đến Nguyễn-Bính.

    Thật vậy, Nguyễn-Bính đã tìm cho mình một hướng đi dị biệt, tạo cho mình một địa vị vững chắc, một chỗ đứng có hạng trên thi đàn. Ngôi sao của Nguyễn-Bính vừa mọc là sức sáng chói chang cả khung trời nghệ thuật.

    Khác với Xuân-Diệu, Huy-Cận hay Hồ-Dzếnh bộc lộ tâm tình quá tự nhiên như người Tây-phương, ca tụng, mời mọc tình yêu , cổ võ sự khao khát ái tình, đề cao yêu thương thèm muốn, lãng mạn đến một cao độ. Nguyễn-Bính cũng không giống một Lưu trọng Lư mơ tình trong cõi mộng, huy hoàng, diễm ảo thì có, nhưng nó xa vắng, mông lung, tình yêu chập chờn hư hư thực thực trong thơ. Ngược lại Nguyễn-Bính đã dành hết tâm tình mình cho những cõi lòng của các cô gáo mộc mạc trong nếp sống cổ xưa, bối rối, bông khuâng trước tình yêu tha thiết mà không dám cưỡng mệnh hoặc phá vỡ nề nếp cũ ; rụt rè, e ngại trước bức tường đạo lý để rồi tình duyên lỡ nhịp, chỉ còn biết thở than, rên rỉ. Nguyễn-Bính cảm thông được nỗi niềm và đã ký thác vào lòng thơ của mình nỗi buồn thầm kín, vằng vặc, nó không da diết, khống quá bi thương, nó là một thứ trầm buồn rười rượi như tiếng chày nện nhịp đều đều trong những đêm khuya.

    Từ hình ảnh một cô gái đến tuổi trưởng thành ngày khoác chiếc áo hoa về nhà chồng, nàng đau khổ xót xa, lo lắng cảnh nhà mẹ yếu, cha già, đàn em thơ dại, bỏ lại luống cải, cánh đồng mà nơi đó nàng đã ghi lại bao nhiêu kỷ niệm êm đềm… ; qua những buổi chia ly trên sân ga nào đó, với cảnh vợ tiễn chồng ra miền quan tái, mẹ già gạt nước mắt lìa con ; cho đến hai kẻ yêu nhau nhưng tình không trọn vẹn, cảnh trạng thương tâm của người thiếu phụ lỡ duyên, khóc đời góa bụa, than cảnh lỡ làng, một người yêu không bao giờ dám nói để rồi cuối cùng người mình yêu vĩnh biệt cõi đời, những mối tình tuyệt vọng, dở dang, v.v… là chất liệu của hồn thơ Nguyễn-Bính.

    Các tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn-Bính là Lỡ bước sang ngang, Hương cố nhân Một ngàn cửa sổ.

    Thi phẩm Lỡ bước sang ngang có chừng 30 bài thơ và thi bản Lỡ bước sang ngang lại là tên của bài thơ dài và hay nhất của ông, mang tâm sự của người con gái 17 tuổi trước khi lấy chồng, dặn dò em gái ở lại trông nom nhà cửa, mẹ cha. Thế rồi mấy năm sau duyên tình gãy đổ, nàng đành sống cảnh góa bụa khi tuổi mới nửa chừng xuân. Cuộc đời tưởng đâu dừng ở đó, nhưng tình yêu lại đến, nàng tiến thêm bước nữa bên cạnh một chàng trai nghệ sĩ. Nàng đã sống qua những giờ phút thần tiên với người tình mới, nhưng định mệnh khắt khe, chàng cũng ra đi và nàng lại phải trở về khóc cho số phận mình.

    Bây giờ chúng tôi xin mời các bạn thử đọc thi phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn-Bính :

    Em ơi ! Em ở lại nhà,

    Vườn dâu em hái, mẹ già em thương.

    Mẹ già một nắng hai sương.

    Chị đi một bước trăm đường xót xa.

    Cậy em, em ở lại nhà,

    Vườn dâu em hái mẹ già em thương,

    Hôm nay xác pháo đầy đường,

    Ngày mai khói pháo còn vương khắp làng.

    Chuyến này chị bước sang ngang,

    Là tan vỡ giấc mộng vàng từ đây…

    Thật là một tâm trạng buồn thương của người chị đi lấy chồng, cậy nhờ em ở lại trông mom cha mẹ, mọi việc trong ngoài, bởi vì:

    Miếu thiêng vụng kén người thờ,

    Nhà hương khói lạnh chị nhờ cậy em.

    còn phần chị thì :

    Một vai gánh vác giang san

    Một vai nữa gánh muôn vàn nhớ thương
  • Đang tải...