0059.008 - @ nhani78 (Done WIKI)

19/11/15
0059.008 - @ nhani78 (Done WIKI)
  • PDF
    GoogleDocs


    chán ghét quá. Vậy hạ lệnh cho bộ Binh truyền dụ cho trong ngoài phàm lương hằng tháng cấp cho lính và của được ân tứ, ai dám bớt xén và tạ sự dùng dằng, đều xử tội nặng”.

    Lấy Vệ uý vệ Thị tượng nhất là Phạm Văn Điển, Phó vệ uý là Nguyễn Văn Thị làm Chánh phó vệ uý vệ Thị tượng nhất quân Thị nội, Vệ uý vệ Thị tượng nhị là Nguyễn Đình Đề và Phó vệ uý Đặng Tài Cù làm Chánh phó vệ uý vệ Thị tượng nhị quân Thị nội, Vệ uý vệ Thị tượng tam là Nguyễn Văn Toán và Phó vệ uý Nguyễn Văn Trì làm Chánh phó vệ uý vệ Thị tượng tam quân Thị nội, Cai cơ Thị tượng là Lê Văn Hoan làm Vệ uý Thị nội, Quản ba cơ Tiền tượng, Tả tượng, Hữu tượng, Chánh quản cơ Nguyễn Văn Ngũ làm Vệ uý Tượng quân, Quản hai cơ Định tượng, Kiên tượng, Quản chi Trung tượng là Lê Công Thiệu làm Vệ uý Tượng quân quản cơ Thị tượng.

    Trấn Sơn Tây bắt được những quân giặc trốn là Nguyễn Hữu Danh và Đỗ Trọng Ngũ, đem giết. Thưởng cho biền binh đi bắt hơn 50 lạng bạc. Cai đội Nguyễn Văn Thư đánh nhau với giặc bị chết, đình thần bàn cấp tiền tuất 30 quan. Vua nói : “Thư là một tỳ tướng nhỏ, hăng hái không tiếc thân, cái nghĩa làm tôi căm giặc phải nên như thế”. Cấp thêm cho 10 lạng bạc.

    Lấy Cần Chính điện học sĩ là Nguyễn Xuân Tình kiêm Thái thường Tự khanh tham bồi việc Lễ bộ, Ký lục Phiên An là Lê Chấn thự Tả tham tri Hình bộ. Hơn một tháng Chấn chết.

    Chuẩn định phàm các quan vào hầu ở Tiện điện, ban văn ở bên hữu, ban võ ở bên tả, đều theo ban thứ đứng hầu. Văn từ Tham tri, võ từ Đô thống chế trở lên thì khiến được ngồi, cho uống nước chè. Hằng ngày lấy thế làm lệ thường.

    Đặt đàn chay lớn ở chùa Thiên Mụ.Thái trưởng công chúa Ngọc Tú thường nói xin làm trai tiếu((1) Trai tiếu : trai là đàn chay lớn, tiếu là đàn chay nhỏ.1) để truy tiến tiên đế .

    Vua đem việc ấy bảo các đại thần rằng : “Trẫm đọc sách thánh hiền, cũng biết lễ trai tiếu của nhà Phật là không đủ tin. Duy nghĩ Hoàng khảo ta lúc trước để tang Hiếu khang hoàng hậu cũng đã từng làm. Con thờ cha mẹ, thà sai về quá hậu, các khanh nghĩ thế nào” ?

    Nguyễn Văn Nhân tâu rằng : “Tiên đế làm chay là theo ý nguyện và lòng thích của Hiếu khang hoàng hậu, không phải là theo thuyết hoạ phước báo ứng. Bệ hạ nối đức nên lấy lễ nghĩa mà xử định, để cho trên triều đình không thất chính, ở dưới không có nghị luận riêng, há việc gì cũng phải theo cũ mới là hiếu sao ? Thái trưởng công chúa đã xin làm thì chỉ cấp kinh phí cho tự làm là phải”.

    Vua lại hỏi Thượng thư Lễ bộ Phạm Đăng Hưng, Hưng đáp rằng : “Nối chí noi việc là hiếu, việc bệ hạ làm là việc tiên đế đã từng làm, có gì là không thể làm được !”.

    Vua cho là phải. Sai Tôn Thất Dịch cùng Vệ uý Trần Đăng Long đến trước chùa Thiên Mụ, dựng nhà tranh, sắm đồ vật. Đến nay bèn dựng đàn chay tam thất ((1) Tam thất : 3 lần 7 tức là 21 ngày.1). Thái trưởng công chúa làm chủ đàn chay. Các tước công lần lượt đến dâng hương. Vua thường đến xem.

    Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An và Thanh Hoa lâu không mưa. Dụ cho sở tại cầu đảo.

    Vua bảo bầy tôi rằng : “Trẫm từ khi lên ngôi đến giờ, nau náu nơm nớp, chỉ sợ chưa hợp ý trời, nay đại hạn và ôn dịch làm tai vạ, có lẽ là trời răn ta bất đức chăng ?”

    Nguyễn Hữu Thận nói rằng : “Thiên tai lưu hành, từ xưa vẫn có. Đấng vương giả gặp tai vạ biết sợ, sửa thêm đức chính, thì tai vạ lại chuyển làm lành”.

    Vua quay bảo Phạm Đăng Hưng rằng : “Làm vua thì một lời nói một việc làm trời đất thần kỳ cũng soi xét cả. Nay chiếu phong tặng bách thần đã 5,6 tháng rồi mà còn chưa làm. Lời nói với dân còn không thể thất tín huống là đối với quỷ thần. Ngươi nên cùng các đại thần bàn ngay đi”.

    Xã An Tiêm (thuộc huyện Hải Lăng) dinh Quảng Trị có ruộng đất công phủ cũ hơn 10 mẫu, dân xã ấy thuê để cày cấy, xin theo lệ ruộng đất công mà nộp thuế. Vua sai bộ Hộ bàn, cứ theo lệ tiền thuê tha cho một nửa mà thu.

    Sai Hữu ty làm ấn quan phòng bằng bạc cấp cho Tả hữu thống chế quân Thị trung, cho Thống chế các vệ Thần cơ, Tiền phong, Long võ, Hỗ oai quân Thị nội và cho năm dinh Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu quân Thần sách và ấn quan phòng bằng ngà cho phó năm dinh quân Thần sách.

    Đổi vệ Long võ ở Trung dinh quân Thần sách làm vệ Ban trực trung, vệ Nghiêm oai ở Tả dinh làm vệ Nghiêm võ, vệ Hổ oai ở Hữu dinh làm vệ Nghĩa võ, vệ Kiên oai ở Tiền dinh làm vệ Trang võ, vệ Cường oai ở Hậu dinh làm vệ Cường võ.

    Thành Gia Định mộ lính lập 3 đội Võ chấn, Tả bính, Hữu bính, tâu xin biên vào ngạch. Vua y cho.

    Ban quần áo và tiền cho các viên biền và thợ thuyền các sở công tác ở Kinh theo thứ bậc khác nhau. Vua thấy gần đây công dịch có nhiều, sai bộ Hộ kê khai danh sách các viên biền, quan lại trở xuống đến thợ thuyền để cấp cho. (Từ chưởng quân đến thứ đội trưởng hơn 490 người, thợ hơn 1.080 người). Lại sắc từ nay về sau có công việc xây dựng thì ngày khởi công phải kính cáo với thần tư công, sai quan làm lễ.

    Sai Vệ uý vệ Quảng võ là Hồ Bôi án thủ bảo Thổ Sơn, Vệ uý vệ Tráng võ là Trương Văn Trâm án thủ bảo Tiên Lý.

    Sai bọn Thiêm sự Lại bộ là Phan Quang Anh, Thiêm sự Binh bộ là Vũ Quang Gia kiểm tra văn thư phòng. Phàm những sách công không thành bộ thì chia cấp cho các nha từ thiêm sự trở lên. Văn thư và ấn tín nguỵ thì tiêu huỷ hết.

    Bổ biền trấn Nghệ An là Nguyễn Quang Thư bắt được tên giặc trốn là Lê Hùng Hổ (đảng của nguỵ Kiền Thái). Sai giết đi. Thưởng cho Quang Thư 50 lạng bạc.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆN NHỊ KỶ - QUYỂN IV

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ

    Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ 1 [1820], mùa thu, tháng 7 ngày mồng 1, tế thu hưởng. Sai Kiến An công là Đài tế thay.

    Sai Khâm sai chưởng cơ thuỷ quân là Nguyễn Văn Hạnh lấy bản chức mà quản bốn cơ Tiền dực, Tả dực, Hữu dực, Hậu dực đóng thú ở Bắc Thành.

    Dựng miếu công thần khai quốc và công thần trung tiết. Trước là Nguyễn Văn Nhân xin lập miếu thờ các bề tôi khai quốc. Vua nói : “Khanh nói chính hợp ý trẫm, bề tôi trung tiết cũng nên có chỗ thờ”. Mới xuống chiếu rằng : “Tôn đức báo công là điển lễ lớn của nhà nước. Hoàng khảo ta là Thế tổ Cao hoàng đế ta làm sáng lại nghiệp cũ chiếm giữ toàn nước Việt, đầu tiên dựng Giao Miếu, rất để ý về thờ tự. Rồi lập miếu công thần trung hưng, để nêu công lớn, nhớ lại công lao, gây dựng giúp đỡ, và thương mến người khí tiết khảng khái lúc loạn lạc, bàn dựng miếu công thần khai quốc và miếu công thần trung tiết mà chưa kịp làm được, hằng năm mùa xuân mùa thu sắc cho Hữu ty lập đàn để tế. Nay trẫm vâng nối nghiệp lớn, cùng dân yên nghỉ, phàm cung điện nhà cửa không có làm lại gì cả. Duy điển lễ thờ tự những tôi trung có công thì không thể hoãn được. Vậy sai bộ Công họp thợ để làm”. (Miếu Khai quốc công thần ở bên tả miếu Trung hưng công thần. Miếu Trung tiết công thần ở bên tả sau miếu Khai quốc công thần. Hàng năm xuân mùa thu tế vào ngày Giáp). Khi miếu đã xong, cấp cho 10 người dân xã Vân Dương cùng với miếu phu miếu Trung hưng công thần mà trông giữ.

    Vua từng bảo bầy tôi rằng : “Khi trẫm mới lên ngôi, từng nằm nệm rơm tại điện Quang Minh, nằm mơ thấy các quan đội mũ mặc áo, đứng la liệt ở dưới thềm. Trẫm nghĩ rằng nhà Lương am ((1) Chỗ vua ở trong khi có tang.1) không phải là chỗ triều hội, sai hỏi, và đòi áo mũ để ra, thì thấy các quan giữ việc ở trước đều không phải là người quen mặt. Phải chăng là các công thần ngày trước âm thầm phù hộ ru”.

    Sai Văn thư phòng từ nay về sau dùng bảo ấn “Văn lý mật sát” thì đều dùng quả lớn thôi. Trước kia bảo ấn “Văn lý mật sát” có hai quả, quả lớn thì theo với ấn “Ngự tiền chi bảo” dùng đóng vào dụ chỉ và chương sớ, quả nhỏ dùng đóng vào sổ sách của Nội vụ phủ. Vua cho rằng hai quả đều dùng cả thì chưa được hoạch nhất, sai cất quả nhỏ đi, phàm các việc nhất thiết lấy quả lớn mà dùng”.

    Sai dinh thần Quảng Đức từ nay trở đi phàm tình hình nắng mưa và giá gạo cứ hằng tháng một lần tâu lên.

    Từ Bình Thuận trở ra đến Quảng Bình có tin báo bệnh dịch. Vua lấy bạch đậu khấu trong kho và phương thuốc chữa dịch sai người ban cấp. Sắc cho các địa phương mỗi nơi đặt một đàn tế lễ. Người ốm thì cấp thuốc, người chết thì cấp tiền vải, theo như lời dụ trước. Nhà vua rất lo về dịch lệ, từng ở trong cung trai giới và cầu đảo ngầm. Bảo bầy tôi rằng : “Theo sách vở chép thì bệnh dịch chẳng qua chỉ một châu một huyện, chưa có bao giờ theo mặt đất lan khắp như ngày nay. Trẫm làm chủ của dân, duy có ngày đêm kính sợ, xét mình sửa đức để hồi lại ý trời. Đến như vì dân mà cầu đảo thì không cái gì là không làm, ngõ hầu khí độc có giảm ít đi chăng ?”. Bèn sai Nguyễn Văn Nhân cầu đảo ở đàn Thái tuế Nguyệt tướng (đàn đặt ở bên tả đàn Nam Giao, bậc thứ ba), Trần Văn Năng đảo ở miếu Đô thành hoàng, Nguyễn Văn Hưng đảo ở Miếu hội đồng. Lại sai bố thí cho các chùa, làm đàn trai tiếu khiến cầu đảo cho dân. Vừa gặp trấn thần Phú Yên là Nguyễn Văn Quế đem tình hình bệnh dịch trong trấn dâng biểu xin chịu tội. Vua bảo rằng : “Trẫm không có đức, trên can phạm hoà khí của trời, bốn phương có dịch đều là lỗi trẫm”. Nhân sai Phạm Đăng Hưng theo ý ấy mà soạn dụ. Đăng Hưng tâu rằng : Gặp tai vạ biết lo sợ, vốn là thịnh đức của đấng nhân quân. Nhưng thần nghe bệnh dịch từ Tây dương sang, bệ hạ hà tất lấy làm tội của mình”.

    Vua nói : “Nếu trẫm không thiếu đức thì tai vạ ở nước ngoài vào làm sao được. Nguyễn Văn Quế chỉ là một mục thú còn tự nhận là lỗi mình, huống trẫm là vua thiên hạ, có thể chối lỗi được sao ?”.

    Lấy thuốc viên chữa dịch mới chế chia cho bầy tôi.

    Xuống chiếu cầu lời nói thẳng.

    Chiếu rằng : “Trẫm nghe đường ngôn luận mở rộng thì nước mới trị. Cho nên cờ tiến thiện, cây gièm chê là cốt biết tình dân để thông đạo trị mà đem lời khuyên can((1) Ngu Thuấn cho dựng cây gỗ ở trong triều, ai thấy chính trị có điều gì thiếu sót đáng chê thì đến biên vào cây gỗ ấy.1). Trẫm thấy thân nhỏ bé, nối nghiệp lớn lao thường nơm nớp sợ gánh nặng được phó thác, vẫn cùng các đại thần huân cựu, dậy sớm, ăn muộn, sửa sang chính trị. Nay bỗng gặp khí trời không hoà, nhân dân khó sống, có lẽ là chính sự có điều gì thiếu sót chăng, ẩn tình của dân có chỗ chưa suốt đến chăng ? Người muốn thấy hình của mình, tất nhờ ở gương sáng ; vua muốn nghe lỗi của mình, tất phải đợi ở tôi ngay. Vậy cho các văn võ ở Kinh từ Tứ phẩm trở lên, các quan thành dinh trấn ở ngoài đều lo cố gắng, đua nhau đối đáp rõ rệt, hoặc lỗi chính ở trẫm, về kính đức nối sáng có thiếu, về nhân ân yêu giữ chưa tròn. Vậy lấy chư thần làm bầy tôi pháp độ, làm kẻ sĩ giúp vầy, như đá để trị ngọc, như đá để mài vàng, chớ như lời nói của mình quý như vàng ngọc mà giấu, cần phải chỉ ngay vào điều lỗi không kiêng kỵ gì. Lại phàm nghe thấy chính sự có thiếu sót, dân tình có khổ sở, đều cho dùng phong bì mà tâu thực lên. Trẫm sẽ thân xem, chọn để đem làm. Tôi quan ở trong ở ngoài, nên thể tất ý thiết tha lo tìm của trẫm để vua tôi sửa chữa lẫn nhau, may ra trên báo đáp được lòng trời, dưới chữa sống được bệnh dân, để cùng hưởng phước thái bình”.

    Thiêm sự Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân dâng sớ nói : “Hiện nay quân dân đương có bệnh dịch, xin nghỉ công tác 1, 2 tháng để dưỡng sức cho người và sai các quân ở Kinh và ở ngoài thao diễn để cho khí hăng hái lên. Dương thịnh thì âm suy, người mạnh thì tật yếu, cũng là một thuật để ngăn tai vạ”.Vua khen là phải.

    Tuân lại dâng sáu điều : 1) Đặt viện Ngự sử. Xin chọn văn võ trọng thần kiêm lãnh chức Đài hiến sứ, ở trong thì đàn hặc sửa chữa trăm quan để khiến gắng sức siêng năng, ngoài thì củ sát các châu huyện để răn sự gian tham nhũng lạm. 2) Đặt Thái phỏng sứ. Xin chọn quan Kinh, người nào thanh liêm, trung thực, đứng đắn, trong sạch, thì sai đi khắp các châu quận, xét chính tích, xem tình dân, để nghiệm xem các thủ thần giỏi hay không, và để thấu suốt lợi bệnh của tiểu dân. 3) Bớt những viên chức thừa đi. Nói rằng triều đình cẩn thận chọn bề tôi nho học làm Tri huyện, mà chỉ giao làm một việc giấy tờ kiện tụng, còn việc tiền thóc binh lương vẫn uỷ thác tất cả cho cai huyện, ký huyện. Vả trong một huyện quan lại và tạo lệ không ít, mà lại đặt riêng bọn cai huyện, ký huyện hơn 10 người, thì muốn không xâm phạm của dân khó lắm. Xin bớt đi. Phàm việc giấy tờ kiện tụng, lương tiền, binh lính, dao dịch cầu cống, đường sá là giao cả cho Tri huyện. Nếu một người không làm nổi thì đặt hai người, để cho họ được phát triển điều sở học, rồi mới trách được việc phục vụ cho dân. 4) Đặt nhà học ở dinh trấn châu huyện. Xin chọn những bậc lão sư túc nho làm Trợ giáo. Phàm học trò trước hết phải đến châu huyện học tập, Trợ giáo phải xét tài năng khí độ mà dạy. Khi đã hơi thông kinh sách và biết làm văn, thì cho đến dinh trấn để Đốc học dạy. Thường khảo xét người nào trúng cách thì cử lên Thái học cho giám đốc học khảo duyệt bài lại mà tâu lên. Vua bèn sai văn thần hội với giám đốc học khảo hạch lại. Người nào kinh thuật rộng khắp, học hạnh thuần đủ, cho làm sinh viên, cấp cho lương ăn mà học tập, để đợi lục dụng. 5) Mở khoa ân thí. Nói rằng hiện nay đương cử hành ân chính, thiên hạ đều được nhờ ơn, học trò bốn phương, không ai là không nghển cổ để trông đức tốt. Xin sang năm mở ân khoa như điều lệ nước Đại Thanh. 6) Cử hành ân tự. Trước kia Thế tổ Cao hoàng đế đắp thành vàng, mở đường sá, những phần mộ hoang phế, đều để ý thương xót, chiếu cho hữu ty cấp cho áo quan và vải để liệm táng, hằng năm một lần hội tế, rồi sau mấy năm lễ tế ấy không đặt nữa. Nay nhà vua là chủ bách thần, thần kỳ lớn nhỏ đều được nhờ ơn, duy những cô hồn không người thờ cúng thì chưa kịp thương đến. Đời xưa có nói rằng : “Ma quỷ không có chỗ nương tựa thì làm dịch lệ. Xin định làm lệ tế, để cho có chỗ nương tựa”.

    Sớ tâu vào, vua sai đình thần bàn để lần lượt thi hành.

    Định rõ thêm điều cấm thuốc phiện. Vua dụ bầy tôi rằng : “Thuốc phiện là thứ thuốc độc từ nước ngoài đem lại, những phường du côn lêu lổng lúc mới hút cho là phong lưu, rồi chuyển thành thói quen, thường thường nghiện mà không thể bỏ được. Quan thì bỏ cả chức vụ, dân thì phá hết sản nghiệp, thậm chí gầy mòn thành tật. Tổn thương cơ thể sinh mệnh. Nên bàn để nghiêm cấm đi”.

    Bấy giờ đình thần bàn tâu : Không kể quan hay dân, ai dám hút thuốc phiện, và cất giấu mà nấu nướng buôn bán thì xử tội đồ. Ai bắt được mà tố cáo thì thưởng bạc 20 lạng. Cha anh không hay răn cấm con em, xóm giềng biết mà không tố giác, đều bị xử trượng.

    Lời nghị tâu lên, nhà vua chỉ sửa là quan chức có phạm thì phải cách, còn các điều khác thì theo lời bàn mà thi hành.

    Dinh thần Quảng Đức tâu nói : “Ruộng đất ở năm xã An Ninh, An Cựu, Thanh Lương, Lang Xá và Phú Xuân, hoặc bán cho nhà nước, hoặc lấy nung gạch ngói thành ra vũng sâu, xin tính mẫu mà tha thuế”. Vua theo lời tâu.

    Trong kinh kỳ nắng. Vua mật đảo ở trong cung. Ngày hôm sau mưa to.

    Sai biền binh các đội Tuần thành và Lâm công vệ Kỳ võ lên núi lấy gỗ, thưởng tiền 200 quan.

    Sai bộ Lễ gửi thêm chữ huý các liệt thánh cho các địa phương. Vua dụ bộ Lễ rằng : “Những chữ tôn huý gần đây của quốc triều, năm trước đã tuyên bảo rằng cấm (lúc đọc thì đọc tránh âm đi, lúc làm việc thì đổi dùng việc khác, cộng có 8 chữ, một chữ bên tả là chữ nhật, bên hữu là chữ viên [Noãn ] khi làm văn đổi dùng chữ úc [ ] ; một chữ bên tả là chữ nhật ; bên hữu là chữ ương [Ánh ] đổi dùng chữ chiếu [ ] ; một chữ bên tả là chữ hoà, bên hữu là chữ trọng [Chủng ] đổi dùng chữ thực [ ] ; một chữ bên tả là chữ nhật, bên hữu là chữ luân [Luận ] đổi dùng chữ diệu [ ] ; một chữ bên tả là chữ ngọc, bên hữu là chữ hoàn [Hoàn ], đổi dùng chữ viên [ ] ; một chữ trên thảo đầu, dưới chữ môn bọc lấy chữ giản [Lan ], đổi dùng chữ hương [ ] ; một chữ bên tả là chữ nhật, bên hữu là chữ giao [Hiệu ], đổi dùng là chữ hiệu [ ] ; một chữ bên tả là chữ nhục, bên hữu là chữ nhiêm [Đởm ], đổi dùng chữ phủ [ ]. Có ba chữ Khang, Khoát, Thuần, khi đọc thì đọc tránh đi, khi làm văn thì thêm bộ xuyên lên đầu [ ]. Ngoài ra những chữ đồng âm, lúc làm văn đều không cấm. Duy tên các thánh triều trước, năm tháng xa lâu, gián hoặc có kẻ lầm lấy đặt tên gọi, rất là không kính, thì chuẩn cho phàm quan dân, từ trước như có lầm dùng chữ huý đặt tên, tức thì nên đổi, từ nay về sau không được tái phạm. Đến như làm văn thì những chữ đồng âm không ở lệ cấm. Một chữ bên tả là chữ thuỷ, bên hữu là chữ kim
    [Kim ], một chữ bên tả là chữ thuỷ, bên hữu là chữ hoàng [Hoàng ], một chữ bên tả là chữ thuỷ, bên hữu là chữ nguyên [Nguyên ], một chữ bên tả là chữ thuỷ bên hữu là chữ lan [Lan ],một chữ bên tả là chữ thuỷ, bên hữu là chữ tần [Tần ], một chữ bên tả là chữ thuỷ, bên hữu là chữ thái [Thái ],((1) Các sách khác đều chép là Trăn ( )1) một chữ bên tả là chữ thuỷ, bên hữu là chữ chu [Chu ] ; một chữ bên tả là chữ thuỷ, bên hữu là chữ thụ [Thụ ].

    Đổi huyện Gia Định ở trấn Kinh Bắc làm huyện Gia Bình, huyện Yên Việt làm huyện Việt Yên.

    Sửa miếu công thần trung hưng, định thêm các lễ Trừ tịch, Chính đán, Đoan dương, ngày sóc, ngày vọng.

    Sai bọn biện lý Nội vụ phủ là Hồ Hữu Thẩm đến Quảng Nam và Quảng Ngãi hội với dinh thần trấn thần đặt mua đường cát. Khi Hữu Thẩm về, đem việc dân vui lòng nộp cho nhà nước, tâu lên. Vua hài lòng nói rằng : “Đường cát dân không thể ăn cho khỏi đói, mặc cho khỏi rét được mà người Tây thì ưa lắm. Từ nay về sau nên mua nhiều để đổi lấy hàng hoá của Tây. Đến như thóc gạo tơ bông, vải lụa, dân ta phải nhờ đấy mà sống, thì không thể đổi được”.

    Lấy Vệ úy vệ Tuyên võ là Lê Quốc Thái quản các đội Tam ngự Bảo biên ở thành Nam Vang.

    Dinh Quảng Bình dựng miếu Hội đồng. Đào đất có nhiều xương khô, quan giám thành đem việc tâu lên. Vua thấy làm thương xót, sai cấp tiền để đem táng nơi khác, và tìm đất khác để làm miếu.

    Trấn thần Quảng Ngãi tâu nói : "Những sách Man phụ vào hai nguồn Bà Địa, Ba Tơ xiêu tán, không có người lĩnh trưng, xin tha thuế hai nguồn ấy". Vua y cho.

    Triệu Ký lục Quảng Trị là Lê Đồng Lý về kinh. Vua thấy bộ Lại nhiều việc, quan thuộc còn thiếu, dụ cho Trịnh Hoài Đức đem Lý tiến lên. Bèn triệu về, rồi thăng làm thự Tham tri Lại bộ tham biện việc bộ.

    Lấy Cai bạ Bình Định là Vũ Xuân Cẩn làm Ký lục Quảng Trị. Vua dụ rằng : “Ngươi ở Bình Định 8 năm, chính sự mau chóng, trẫm vẫn để ý chọn. Mới rồi triệu về muốn bổ cho ở kinh. Nhưng dinh Quảng Trị đã điêu hao lắm, phiền ngươi vì trẫm vỗ về”.

    Xuân Cẩn tâu rằng : “Quảng Trị hộ khẩu tuy ít, mà việc cũng giống như dinh trấn khác, một mình thần sợ không làm xiết”. Vua bảo rằng : “Ngươi cứ đi đi, nếu có việc khó giải quyết thì làm sớ chạy trạm tâu lên”.

    Lấy Hữu Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Tường Vân thự Thượng thư Binh bộ, Hữu tham tri Binh bộ là Nguyễn Tăng Địch thự Thượng thư Công bộ. Rồi Địch chết, tặng Thượng thư Công bộ, cho 200 quan tiền và 2 cây gấm Tống.

    Đặt đàn ân tự để tế những người chết về việc nhà nước.Vua bảo bộ Lễ rằng : “Nay các công thần khai quốc và trung hưng đều đã đặt nơi tế tự rồi. Duy nghĩ rằng nhà nước từ lúc khai sáng đến giờ, bề tôi và quân lính chết vì việc nước không phải ít mà họ tên vùi mất không được thăm viếng tế tự, rất đáng đau thương”. Bèn chuẩn định hằng năm lấy hai kỳ xuân thu, sau khi tế miếu công thần rồi, thì tế riêng những người chết về việc nước gọi là đàn Ân tự.

    Nhà sư ở nước Chân Lạp tên là Kế làm loạn. Kế lấy bùa chú làm mê hoặc dân phiên, người theo càng ngày càng đông, bèn họp đảng mưu loạn, tự xưng là Chiêu vương, lấn cướp các đạo thủ Quang Hoá, Quản Phong, Thuận Thành (thuộc trấn Phiên An). Dân Hán (Việt) sợ chạy tan cả. Phó tổng trấn Gia Định là Hoàng Công Lý nghe tin báo, tức thì sai Trấn thủ Phiên An là Đào Quang Lý đem quân đi đánh. Lại báo cho vua Phiên phái uỷ An phủ (tên quan nước Chân Lạp) phủ Ba Cầu Nam (tên phủ nước Chân Lạp) là Tham Vi Đô Chân góp sức đánh bắt, Quang Lý không đánh được, Tham Vi Đô Chân lại bị giặc bắt, giặc càng hung hăng, giữ núi Ba Cầu Nam để hoành hành cướp bóc.

    Tổng trấn Lê Văn Duyệt đã đến Gia Định, sai Hoàng Công Lý tiến đánh dẹp, gửi hịch cho nước Chân Lạp thêm quân để làm thế đánh hai mặt. Công Lý đánh nhau với giặc, giặc thua chạy, bèn dẫn quân về.

    Lấy Cai đội Nguyễn Tiến Nghĩa làm Phó vệ uý vệ Cung võ, thự việc vệ uý.

    Vua dụ bầy tôi rằng : “Chính lệnh của nhà nước tất do sáu bộ, mà chức việc sáu bộ cũng nên nhất thể thông nhau thì trăm việc mới làm được. Từ nay về sau, những ngày ra chầu nghe chính, chính sự trong ngoài đã qua trẫm xét định rồi, các quan sáu bộ ai được vào hầu đều nên ghi lấy, thì chính thể biết đủ cũng có ích thêm. Đó là khuôn phép giữ chức làm việc vậy”.

    Định ngạch tượng binh cho ba vệ Thị tượng (voi ngự một con thì 20 người lính, ngoài ra thì voi đực 10 người, voi cái 5 người, có thiếu ngạch thì mộ dân sung vào).

    Bộ Hình tâu dâng án thu thẩm. Vua thân tự xét xử phần nhiều giảm nhẹ và hành hình.

    Ngày Bính tý dựng cung Từ Thọ (cung ở phía tây cấm thành). Sai thự Tiền quân là Trần Văn Năng trông công việc. Dụ rằng : “Nay bệnh dịch lưu hành, đáng nên để cho quân dân nghỉ ngơi, đình bãi các công tác. Duy việc dựng cung Từ Thọ là việc không thể hoãn được. Ngươi nên hiểu dụ cho quân nhân biết ý bất đắc dĩ của trẫm”.

    Trấn thần Nghệ An tâu nói : “Dân trong hạt xiêu tán cộng 63 xã thôn. Gần đây đã dần dần có người trở về 10 phần được 1, 2 phần. Nay nếu bắt riết điền thế lính trốn thì sợ dân lại tản đi, xin hãy đình hoãn”. Vua y cho.

    Gọi lính hai cơ Thanh thuận, An thuận cho đi thú ở Gia Định.

    Năm trước Lê Văn Duyệt đi kinh lược miền Thanh, Nghệ, những phạm trốn ra thú có hơn 900 người biên bổ làm lính, người quân ở Thanh Hoa thì gọi là cơ Thanh thuận, người quán ở Nghệ An thì gọi là cơ An thuận, đều cho theo trấn thần sai phái. Đến khi nghe tin đi thú, nhiều người bỏ trốn, chỉ còn hơn 500 người mà thôi.

    Bổ 20 người ở Nội hàn ty làm thư tả ở Văn thư phòng chia làm ba phiên ứng trực, cấp cho lương tháng để theo làm việc công ở ba viện Thị thư, Thị hàn và Hàn lâm.

    Vua dụ bộ Lại rằng : “Văn thư phòng là nơi khu mật của nhà nước, không phải người dự việc, cấm không được vào”.

    Vua Thanh băng ở Loan Dương, Thái tử là Miên Ninh lên ngôi, lấy năm sau là năm Đạo Quang thứ 1 [1821].

    Vua bàn sắp đi tuần miền Bắc. Dụ cho từ Quảng Đức trở ra đến Bắc Thành, 35 sở dịch trạm thì sáu sở (Thượng Xá, Trấn Ninh, Dũng Quyết, Đa Giá, Lam Cầu, Hoàng Mai) gần lỵ sở dinh trấn thì nghỉ lại ở hành cung, ngoài ra đều y theo thức của bộ Công gửi cho, sang xuân phải dựng 16 sở nghỉ trưa (Thượng An, An Lạc, Thượng Lập, Thạch Giá, Bồ Khê, Thần Đầu, Hữu Lạc, Đan Chế, Kim Khê, Tây Luỹ, Khoa Trường, Thái Lai, Trịnh Sơn, Cổ Du, An Phú, An Khoái), đều cấp tiền 180 quan, và 13 sở nghỉ đêm (Mỹ Xuyên, Cao Xá, Đặng Lộc, Đông Cao, An Lộc, Lỗi Sa, Thạch Khê, Độ Liêu, Hương ái, Quỳnh Hoa, Liên Xá, Cao Lũng, Hà Hồi), đều cấp tiền 200 quan. Dụ rằng : “Đặt hành cung để phòng lúc dừng chân, nên làm bằng gỗ tạp và cỏ tranh, cần tiết kiệm, không chuộng mỹ quan, đến như cầu cống đường sá có chỗ nào vỡ lở hư nát thì sửa lại, cũng bất tất phải làm cao rộng”.

    Dựng các điện đường hành cung ở Bắc Thành, và sứ quán ở Kinh Bắc, Lạng Sơn (hành cung Bắc Thành, trước điện Kính Thiên dựng điện Thị triều, điện Cần Chính, đều lợp ngói cả. Ngoài năm cửa làm liền một dãy hành lang dài, trước mặt là cửa Chu Tước. ở bờ nam sông Nhị Hà đặt nhà tiếp sứ lợp ngói ; bờ bắc sông Nhị Hà, các trạm từ sứ quán Gia Quất đến Lạng Sơn, cộng 7 sở, ở chính giữa đều dựng
  • Chia sẻ trang này