0081.0001-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki

15/1/16
0081.0001-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    PHAN KẾ BÍNH

    NAM HẢI DỊ NHÂN LIỆT TRUYỆN

    (In lần thứ năm)


    Hiệu chỉnh: LÊ VĂN PHÚC
    Onvrage inscrit au programme du

    Sách có dự vào chương trình học thi tú tài


    HANOI

    IMPRIMERIR

    LÊ VĂN PHÚC

    [​IMG]1930

    Tựa

    Hào kiệt anh tài là khí tinh anh của một nước, cho nên nước nào cũng có, mà thời nào cũng có. Nhân khi xây dựng nên thời thế, tô điểm cho non sông, nhỏ thì lập nên công nghiệp, để danh tiếng về sau, cũng là làm gương cho người đời cả.

    Nước Nam ta từ xưa đến nay trải hơn 4.000 năm chẳng thiếu gì người tài đức, người danh tiếng, nhưng bởi vì sự tích xa xôi mà không rõ, hoặc vì sử sách biên sót mà không tường. Chỉ còn người nào ghi vào sử, hoặc chép vào ký tái của các tư gia thì còn có thể lưu truyền vào được.

    Nhưng lại ngặt vì sách ít, cho nên lưu truyền ra không được rộng. Người ta nói truyện cổ tích chẳng qua chỉ một vài người được trông vào sách, rồi thì truyền khẩu cho nhau, lõm bõm người nhớ khúc này, kẻ nhớ khúc kia, mỗi người truyền đi lại sai một tí, té ra nhầm lẫn sai cả sự thực của người xưa. Vả chăng mình là người nước Nam mình không biết, hóa ra kiến thức của mình kém lắm dư.

    Vì vậy chúng tôi kê cứu trong Chính Sử và các Tạp Ký tìm những người có danh vọng, có sự tích lạ lùng, chia ra từng môn từng mục, cứ theo thể thức trước sau mà đặt, gọi là ‘’Nam Hải Dị Nhân Liệt Truyện’’, trước là để lưu cái sự tích của người trước, sau là để các văn nhân tài tử xem cho biết anh tài nước mình, thì chẳng những là giúp được khi vui cười, mà cũng có thể tư ích trí khôn cho người ta nữa.

    Còn như những sự quái lạ, là lời tục truyền để lại, thì chúng tôi cũng theo mà chép vào đây, hoặc có, hoặc không, tùy người xem nên lấy lý mà đoán, chớ cũng không dám chắc là có những việc ấy cả.

    Ngày 27 tháng sáu năm Nhâm Tí, niên hiệu Duy Tân thứ sáu (le 9 April 1912).

    PHAN KẾ BÍNH cẩn tựa

    LÊ VĂN PHÚC hiệu chỉnh.

    LỜI NGƯỜI HIỆU CHỈNH

    Sách này có dự vào chương trình học thi tú tài, lần này là lần in thứ tư, có hiệu chỉnh lại, và có kê cứu chép thêm vào để ghi cho đủ các bậc anh hùng hào kiệt nước Nam ta, như là sự tích Đức Gia Long cùng các bậc danh thần, danh tướng.

    Xem sách này có thể biết được đại lược lịch sử nước nhà, chẳng khác gì đối với các bậc cổ nhân từ bốn nghìn năm về trước, mà ngắm làm gương chung về sau, không những là giúp về việc vấn đề thi cử, mà về phần trí dục, đức dục cũng có tư ích được ít nhiều.

    Nay kính dẫn

    Kim giang LÊ VĂN PHÚC hiệu chỉnh


    NAM HẢI DỊ NHÂN LIỆT TRUYỆN

    CHƯƠNG THỨ NHẤT

    Các bậc đại Anh Kiệt

    1.- Trưng Vương

    Xưa về thời nội thuộc nhà Đông Hán, ở huyện Mê Linh, đất Phong Châu (tức huyện An Lãng, tỉnh Phúc Yên bây giờ), có quan Lạc Tướng họ Hùng sinh được hai người con gái, chị tên là Trắc, em tên là Nhị. Hai chị em vốn có tiếng anh hùng.

    Chị lấy chồng tên Thi Sách, về dòng dõi vua Hùng Vương, làm quan châu ở bộ Chu Diên (bây giờ là phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên).

    Quan thái thú bấy giờ tên là Tô Định, tính tham tàn hay hại người, thấy Thi Sách lấy được bà ấy, sợ về sau có mưu phản gì chăng, mới kéo binh vây thành Chu Diên, giết mất Thi Sách.

    Bà ấy tức giận lắm, cùng với em là Nhị, chiêu binh tập mã để đánh báo thù cho chồng. Các hào kiệt trong nước ai cũng có bụng oán Tô Định, tranh nhau kéo đến theo bà ấy. Không bao lâu được hơn 10 vạn quân, bà ấy mới mang quân đến đánh Tô Định. Tô Định chống giữ không nổi, phải chạy về bể Nam Hải rồi lẻn về Tàu. Bà ấy thừa thế đánh tràn, hạ được 56 thành ở xứ Lĩnh Nam (thuộc hạt Quảng Đông, Quảng Tây, nước Tàu); mới đổi là họ Trưng, tự lập lên làm vua, gọi là Trưng Vương, bấy giờ là năm Canh Tí niên hiệu Kiến Võ thứ 16 đời vưa Quang Vũ nhà Hán, (sau lịch Thiên Chúa 40 năm).

    Bà Trưng Vương làm vua được 3 năm, vua Quang Vũ sai quan Phục Ba tướng quân là Mã Viện đem binh sang đánh. Bà Trưng Vương đem quân chống nhau với quân Tàu ở hồ Lãng Bạc (tức Hồ Tây, Hà Nội). Mã Viện tài kiêm văn võ, mà lại khéo dùng binh, đánh nhau mấy trận thì quân của bà Trưng Vương cũng thua cả, mới lui về giữ Cấm Khê (bây giờ thuộc phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây). Bà ấy nghĩ mình là quân ô hợp, không thể đương được với quân Mã Viện, mà hàng thì bà ấy cũng không chịu hàng. Sau mới rút quân về đến xã Hát Môn, huyện Phúc Lộc (tức huyện Phúc Thọ, thuộc Sơn Tây), thì bà ấy bức chí nhảy xuống sông Hát Giang tự vẫn.

    Em là Trưng Nhị thấy chị đã liều mình xuống sông, cũng liều mình xuống theo chị nốt.

    Than ôi! Một đôi nữ anh hùng nước Nam, tuy vì tài liễu yếu đào tơ, không làm được công nghiệp oanh oanh liệt liệt, nhưng biết giận kẻ tàn ác, khởi binh đánh đuổi đi, cũng lừng lẫy được một thời mà lưu danh thiên cổ, gây dựng nền độc lập cho đời sau. Khá khen thay, khá khen thay!

    Từ lúc hai bà ấy xuống sông, rồi hóa ra hai người bằng đá, nổi lênh đênh trên mặt nước trôi đi. Các làng quanh sông thấy vậy, tranh nhau ra khấn để vớt về thờ, nhưng chỉ có làng Đông Nhân ở huyện Thanh Trì vớt được, mới lập đền thờ ở bãi làng ấy. Dân xã Hát Môn thấy sự thiêng làm vậy, cũng lập đền thờ vọng ở bên sông.

    Đến thời vua Anh Tông nhà Lý, chỗ bãi Đồng Nhân lở gần đến miếu thờ. Vua sai làng Hưng Viên bên trong đê, ra đền rước tượng hai bà ấy vào, rồi vua ban tiền bạc cho dân lập miếu mà thờ, phong sắc là “Trinh Linh Chi Phu Nhân”. Đền ấy bây giờ vẫn còn, tục gọi là đền Hai Bà.

    Đến đời nhà Trần, lại phong thêm tám chữ: “Uy Liệt Chế Thắng Thuần Trinh Bảo Thuận”. Đến bây giờ vẫn còn anh linh lắm.

    2.- Bố Cái Đại Vương

    Về thời nội thuộc nhà Đường ở quận Đường Lâm, (bây giờ là làng Cam Lâm thuộc huyện Phúc Thọ, Sơn Tây), có ông Phùng Hưng, nguyên đời đời được tập phong làm Tù Trưởng châu ấy (tức là Quan Lang).

    Nhà ông Phùng Hưng giàu có quyền hành nhất vùng ấy, lại có sức khỏe lạ thường, có thể đấm chết hổ, đẩy ngã trâu. Em tên là Phùng Hải, cũng có sức khỏe đội nổi nghìn cân, đi hơn 10 dặm. Các người rợ đâu đâu cũng phục nhà ông ấy.

    Trong năm Trinh Nguyên nhà Đường (791), nước Nam có đám loạn quân khởi biến. Hai anh em ông Phùng Hưng nhân dịp ấy, mới đem quân đi dẹp loạn các nơi lân ấp, đi đến đâu dẹp tan đến đấy.

    Ông ấy đắc chí rồi, đổi tên gọi là Cự Lão, tự xưng là Đô Quân. Em thì đổi tên là Cự Lực, tự xưng là Đô Bảo. Nhân dùng mẹo của bộ tướng tên là Đỗ Anh Luân, đem quân tràn ra các châu quận, người theo về càng ngày càng nhiều, có ý muốn đến phá phủ Đô Hộ.

    Quan đô hộ bấy giờ là Cao Chinh Bình, đem quân đi đánh bị thua, rồi lo lắng thành bệnh mà chết. Ông Phùng Hưng mới chiếm giữ phủ thành, tự coi việc Đô Hộ, được 7 năm thì mất.

    Chúng muốn lập em là Hải lên nối ngôi, nhưng trong bọn bầy tôi có người đầu mục tên là Bồ Phá Lặc, có sức khỏe đạp đổ núi, nhấc nổi vạc, người ấy nhất định không nghe, mới lập con ông Hưng tên là An lên nối nghiệp, mà đem quân ra cự nhau với Phùng Hải. Hải chịu thua, Bồ Phá Lặc bắt đầy ra ở đồng Chu Nhan.

    An được lập rồi, tôn vua cha được gọi là Bố Cái Đại Vương (tục bấy giờ gọi cha là Bố, gọi mẹ là Cái). Được hai năm vua Đức Tông nhà Đường sai Triệu Xương sang làm Đô Hộ, TriệubXương sai sứ đến dụ hàng, An chịu hàng, cơ nghiệp họ Phùng mới đổ.

    Khi trước ông Phùng Hưng mới mất, thường có hiển linh ở trong dân thôn, hiện hình ra nghìn xe, muôn ngựa, bay ở trên các mái nhà, trên ngọn cây cổ thụ, trông tựa hồ đám mây ngũ sắc. Lại có tiếng đàn sáo bát âm ở trên không, và tiếng quát tháo. Lại thấp thoáng trông thấy cả cờ, tán, võng, lọng. Phàm trong làng có việc gì mừng hay sợ, tất báo mộng trước cho các người hào trưởng. Dân gian thấy lắm sự hiển linh, mới lập miếu ở mé tây phủ Đô Hộ để thờ. Dân có việc cầu đảo, thường ứng nghiệm lắm.

    Đến thời Ngô Quyền, có giặc Bắc sang xâm. Ngô chủ nằm mơ thấy một ông cụ đầu bạc phơ , áo mũ tề chỉnh, tự xưng là Phùng Hưng và nói rằng: ‘‘Tôi xin lĩnh một muôn thần binh, phục sẵn ở chỗ hiểm yếu, ông nên tiến binh mà đánh giặc đi, đã có tôi giúp, không cần phải lo”. Đến lúc này Ngô Chủ đánh nhau với Hoằng Tháo ở sông Bạch Đằng, quả nhiên nghe trên không có tiếng xe ngựa ầm ầm. Ngô Chủ phá được quân Nam Hán Trở về, sai sửa sang đình miếu cho hoa mỹ rồi dùng lễ Thái Lao đến tạ ơn.

    Từ bấy giờ chiều nào cũng có phong tặng, phong làm “Phu Hựu Chương Tín Sùng Nghĩa Đại Vương”.


    3.- Đinh Tiên Hoàng

    Tiên Hoàng họ Đinh tên là Hoàng, người ở đổng Hoa Lư, phủ Đại Hoàng (bây giờ là phủ An Khánh, tỉnh Ninh Bình), nguyên là con quan nha tướng của Dương Đình Nghệ tên là Đinh Công Trứ.

    Tục truyền ở đổng Hoa Lư xưa có con rái cá cực to, vợ ông Công Trứ một hôm tắm ở dưới suối, bị con rái cá hiếp, về mới có mang. Khi con rái cá bị người ta bắt được ăn thịt, quẳng xương ra đường cái, thì bà ấy nhặt về mà gác lên gác bếp.

    Về sau, ông Công Trứ mất rồi, bà ấy mới sinh ra Đinh Tiên Hoàng, Tiên Hoàng lớn lên, thông minh nhanh nhẹn, mà tài nghề lội nước. Nhà nghèo, phải nương nhờ ở với chú. Bấy giờ có một thầy địa lý Tàu sang nước ta xem đất, đi từ Hưng, Tuyên theo long mạch đến mãi phủ Đại Hoàng, trông xuống dòng sông thấy nước sâu thăm thẳm mà xoáy mạnh lắm, đồ là ở đấy tất có huyệt đế vương. Mới gọi trẻ thuê tiền cho thử lặn xuống chỗ ấy xem làm sao. Tiên Hoàng vốn tài lặn, mới nhận lời lặn xuống thì sờ thấy có con ngựa bằng đá đứng ở dưới đáy sông, mới lên bờ bảo với người khách, người khách đưa cho nắm cỏ, bảo thử xuống nhử vào mồm ngựa xem ra làm sao, ngài cầm nắm cỏ xuống nhử thì con ngựa há miệng ra đớp ngay.

    Ngài lại lên nói chuyện với người khách, người khách lấy tiền thưởng cho ngài rồi đi. Ngài vốn thông minh, biết ngay chỗ ấy hẳn là đại huyệt, rồi về nói chuyện với mẹ. Xem mả cha ở đâu, để đem táng vào huyệt ấy. Bà mẹ trỏ lên gác bếp, rồi lấy nắm xương đưa cho ngài, ngài đem ra, lặn lại xuống chỗ vực sâu ấy, cũng lấy cỏ bọc nắm xương nhử vào mồm ngựa thì con ngựa cũng đớp và nuốt đi.

    Từ đấy ngài sinh ra bạo tợn, các trẻ chăn trâu bò đều sợ, bầu ngài lên làm tướng, bẻ hoa lau làm cờ, chặt tre làm khí giới, đi đánh nhau với trẻ làng khác. Đi đến đâu, các trẻ phải sợ hãi kinh phục. Một bữa, hội hết trẻ các làng ở ngoài đồng, nhân có con bò của chú cho đi chăn, mổ ngay ra làm cỗ để khao các chúng. Chú ở nhà nghe tin, vác gậy ra đồng xem làm sao, thì thấy chúng đã ăn tiệc xong rồi. Chú tức giận lắm, vác gậy đuổi đánh, ngài sợ hãi, chạy đã bí đường, phải nhảy choàng xuống sông, bỗng dưng có con rồng vàng ở dưới sông hiện ra đội ngài lên, người chú thấy vậy kinh hoảng, vội vàng bỏ gậy mà lạy phục xuống đất.

    Từ bấy giờ danh tiếng ngài lừng lẫy, các hào kiệt trong nước để lòng trông mong về ngài. Nhân bấy giờ cuối đời Nam Tấn, nước Nam có 12 ông sứ quân nổi lên, mỗi người chiếm giữ một phương, như là:

    1.- Ngô Xương Xí giữ ở Bình Kiều.

    2.- Kiểu Công Hãn giữ ở Phong Châu (nay là Bạch Hạc, Vĩnh Yên), tự xưng là Tam Chế.

    3.- Nguyễn Khoan giữ phủ Tam Đái, (nay là phủ Vĩnh Tường, Vĩnh Yên) tự xưng là Thái Bình Công.

    4.- Ngô Nhật Khánh giữ châu Đường Lâm (nay là làng Cam Lâm, huyện Phú Thọ, Sơn Tây) tự xưng là Anh Hiền Công.

    5.- Đỗ Cảnh Thạc giữ ở Tương Giang (tức là Đỗ Động Giang nay thuộc Thanh Oai, Hà Đông).

    6.- Lý Khuê giữ ở Siêu Loại (Thuận Thành, Bắc Ninh).

    7.- Nguyễn Thủ Tiệp giữ ở Tiên Du, (thuộc Bắc Ninh), tự xưng là Nguyễn Lịnh Công.

    8.- Lã Đường giữ ở Tế Giang, (nay thuộc Văn Giang, Bắc Ninh), tự xưng là Tá Công.

    9.- Nguyễn Siêu giữ Tây Phù Liệt (thuộc Thanh Trì, Hà Nội), tự xưng là Nguyễn Thạch Công.

    10.- Kiểu Thuận giữ ở Hồi Hồ (nay thuộc huyện Cẩm Khê, Phú Thọ) tự xưng là Kiểu Linh Công.

    11.- Phạm Bạch Hổ giữ Đằng Châu (nay là Khoái Châu, Hưng Yên), tự xưng là Phạm Phòng Át.

    12.- Trần Lãm giữ ở cửa Bố Chính (nay là Kỳ Bố thuộc phủ Kiến Xương), tự xưng là Trần Minh Công.

    Tiên Hoàng nhân dịp ấy, theo về nương nhờ với Trần Minh Công. Trần Minh Công thấy ngài là dòng dõi tướng võ, và có tài cán, mới dùng cho cai quản binh lính. Không bao lâu, Trần Minh Công mất, ngài thay lĩnh hết cả quân quyền, tự xưng là Đinh Bộ Lĩnh, dần dần đem quân đi dẹp các nơi, thì đi đến đâu dẹp tan đến đấy, tự xưng là Vạn Thắng Vương. Rồi lại nhất thống được hết mọi nơi, mới lên ngôi thiên tử đóng đô ở Hoa Lư, sửa sang thành quách, cung điện, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt.

    Khi trước thầy địa lý Tàu về lại trở sang, toan mang mả tổ táng vào thủy mã huyệt, sang đến nơi thì đã thấy ngài nổi lên hùng dũng, biết là ngài được đất ấy rồi. Người khách không sao được, muốn lập mưu để phản lại, mới vào hầu mà nói rằng:

    - Ngài được ngôi đại địa ấy, cũng bởi lúc phúc nhà ngài mà trời cho đấy, nhưng có ngựa phải có kiếm thì mới tung hoành ra bốn bể, vậy ngài nên để thanh kiếm lên cổ ngựa thì mới hay.

    Tiên Hoàng tưởng nó nói thật, mới lấy thanh gươm gác lên trên cổ ngựa, không ngờ kiếm có sát khí, (1) có kiếm tuy làm được lừng lẫy, nhưng không làm được lâu dài. Vì thế ngài ở ngôi được 11 năm thì bị Đỗ Thích giết mất, mà đến đời con là Vệ Vương, thì cơ nghiệp lại về tay triều khác.


    4.- Lý Thái Tổ

    Thái Tổ họ Lý tên là Công Uẩn, người làng Cổ Pháp, tỉnh Bắc Ninh.

    Tục truyền đời ông thân sinh ra ngoài, nhà nghèo khó, đi làm ruộng thuê ở chùa Tiêu Sơn, huyện An Phong, phải lòng một người tiểu nữ có mang, (2) nhà sư thấy thế đuổi đi chỗ khác. Hai vợ chồng mang nhau đi, đến chỗ rừng Báng, mỏi mệt ngồi nghỉ mát. Chồng khát nước đến chỗ giếng giữa rừng uống nước, chẳng may sẩy chân xuống giếng chết đuối. Vợ ngồi chờ lâu không thấy, đến giếng xem thì đất đã đùn lấp giếng rồi, ngồi khóc lóc một hồi, rồi vào ngủ nhờ trong chùa Ứng Tâm ở gần đấy. Ông sư chùa Ứng Tâm, đêm hôm trước nằm mê thấy ông Long Thần báo mộng rằng: “Ngày mai dọn chùa cho sạch, có Hoàng Đế đến”. Nhà sư tỉnh dậy, sai tiểu quét dọn sạch sẽ, chực đợi từ sáng đến chiều, chỉ thấy một người liền bà có mang xin vào ngủ nhờ.

    Nhà sư thấy làm lạ hỏi rằng:

    - Chồng con quê quán ở đâu?

    Người liền bà kể tên họ nhà chồng, và nói lại chuyện sa xuống giếng. Nhà sư cho ở nhờ ngoài cửa tam quan. Được vài
  • Chia sẻ trang này