0081.0002-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki

12/1/16
0081.0002-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    tháng, có một đêm, thơm nức cả chùa, nhà sư thức dậy trông ra tam-quan, thì thấy sáng rực lên. Nhà-sư sai bà hộ-chùa ra thăm, thì người liền-bà ấy đã sinh ra một đứa con giai. Bà hộ-chùa bế đứa bé vào chùa cho nhà-sư xem thì thấy bàn tay có bốn chữ son: “sơn-hà xã tắc”. Xem rồi, bỗng nhiên trời nổi cơn mưa to gió nhớn. Đến lúc bà hộ-chùa trở ra, thì người liền bà đã chết rồi, nhà-sư sai đem chôn ở đàng sau vườn.
    (thiếu một đoạn ngắn)

    Từ đấy, nhà-sư nuôi người con giai, lên sáu tuổi đã có khí phách thông minh. Một hôm nhà-sư sai mang oản lên chùa dâng cúng, thì chú nhỏ đã khoét lấy ruột oản ăn trước. Sáng mai, nhà-sư gọi mắng chú nhỏ ấy. Chú nhỏ hỏi:

    [​IMG]- Ai nói với ông như thế?

    Nhà-sư kể sự ông Long-thần báo mộng, chú kia tức lắm, lên chùa đánh vào cổ ông Long-thần ba cẳng tay, rồi viết vào sau lưng bốn chữ rằng: “Lưu tam thiên lý”. Đến đêm ông Long-thần lại báo mộng cho ông sư rằng: “Hoàng-đế đã đuổi ta đi rồi, thì ông nghỉ lại để tôi đi”. Nhà-sư thức dậy sớm, vội vàng lên chùa soát xem, thì thấy sau lưng ông Long-thần có mấy chữ ấy, mới bắt tiểu lấy nước vào rửa, thì rửa làm sao cũng không sạch. Nhà-sư bảo chú nhỏ ấy rửa, thì chỉ nhổ ít nước bọt chùi đi sạch ngay.

    Khi 8, 9 tuổi, nhà-sư cho chú nhỏ ấy theo học ông sư ở chùa Tiêu-sơn tên là Vạn-Hạnh. Một khi học không thuộc, phải ông thầy trói lại bắt nằm dưới đất một đêm, mới ngâm một câu thơ rằng:

    Cảnh khuya không dám giang chân ruỗi,

    Vì ngại non sông, xã tắc xiêu.

    Vạn-Hạnh thấy có khẩu khí thiên-tử, tự bấy giờ có lòng kính trọng lắm.

    Ngài nhớn lên, khảng khái có chí khí to, nhân có công, làm quan thời vua Thiếu-đế nhà Lê. Khi vua Thiếu-đế bị giết, thì ngài nằm ôm lấy thây vua mà khóc. Vua Ngọa-triều khen là trung, nhắc lên làm Tứ-tướng quân-chế chỉ-huy sứ, thống lĩnh hết quân túc-vệ.

    Bấy giờ ở làng Cổ-pháp có cây gạo cổ thụ, bị sét đánh tước lần da ngoài, trong thân cây có mấy câu sấm rằng:

    Mộc côn liểu liểu

    Mộc biểu thanh thanh.

    Hỏa đao mộc lạc,

    Thập bát tử thành

    Vân vân.........

    ............................

    Vạn-Hạnh xem câu sấm ấy, biết rằng điềm nhà Lê đổ mà nhà Lý sắp lên, bảo riêng với ngài rằng:

    - Xem câu sấm ấy, thì chắc nhà Lý lên làm vua. Thiên-hạ tuy cũng nhiều họ Lý, nhưng xem ra thì không ai bằng ngài có bụng nhân từ khoan thứ, vả lại lòng dân tin mến nhiều, thì phi ngài không ai làm nổi.

    Ngài thấy nói làm vậy, sợ nói lộ chuyện ra ngoài, phải giấu Vạn-Hạnh ở chùa Tiêu-sơn. Đến khi vua Ngọa-triều mất vua kế tự còn nhỏ, ngài cầm quân túc-vệ trong chốn cung cấm. Có quan chi-hậu là Đào-cam-Mộc mưu với các quan triều, lập ngài lên làm thiên-tử.

    Ngài đã lên trị vì, thấy chỗ kinh-đô Hoa-lư hẹp hòi lắm, mới thiên lên đóng đô ở Đại-la thành, nhân có điềm rồng vàng hiện ra, mới đổi tên gọi là thành Thăng-long (tức thành Hà-nội bây giờ).

    Ngài ở ngôi được 18 năm thì mất.

    Xét ngôi huyệt chỗ giếng trong rừng Báng ấy, những gò ở chung quanh, trông hình như cái hoa sen nở ra tám cánh, cho nên nhà Lý truyền ngôi được tám đời, bây giờ thuộc về làng Đình-bảng huyện Đông-ngàn.

    Vì ngài sinh ra ở chùa Ứng-tâm, cho nên bây giờ thành tên là chùa Dặn.


    5.- Lê Thái-tổ (2)

    Thái-tổ nhà Lê tên là Lợi, người làng Lam-sơn, xứ Thanh-hóa, có chí khí to từ thuở nhỏ.

    Tục truyền ông tổ tam đại nhà ngài nguyên là người làng Như-áng, một bữa đi qua Lam-sơn, thấy có đàn quạ xúm xít bay liệng trên một cái gò. Ông cụ ấy nói rằng: “Chỗ này là chỗ đất hay đấy!” mới đem làm nhà ở dưới cái gò, từ bấy giờ con cái làm hào-trưởng ở xứ ấy. Được ba đời thì sinh ra ngài.

    Cuối đời nhà Trần, Hồ-quí-Ly cướp ngôi, nhà Minh sai bọn Trương-Phụ, Mộc-Thạnh sang đánh, bắt được cả hai bố con Hồ-quí-Ly đem về Tàu rồi chiếm giữ lấy nước Nam, làm ra lắm sự tàn ác: Nào là bắt dân khai mỏ vàng, săn voi trắng; nào là bắt dân mò hạt trân-châu. Lại cấm dân không cho nấu muối riêng. Bắt phải nộp cống hươu trắng, rùa-rùa chín đuôi, vượn bạch, trăn to. Lại lắm chinh sự tàn ác, thuế má nặng nề, hơn 20 năm, dân sự lấy làm khổ ải, bởi vậy trộm giặc chỗ nào cũng nổi lên như ong, dân gian lại càng khốn đốn lắm.

    [​IMG]Truyện “Việt-lam Xuân-thu” có kể rõ các trận vua Lê Thái-tổ đánh quân Tàu.

    Thái-tổ trông thấy tình hình làm vậy, có chí muốn ra dẹp loạn để yên dân.

    Người nhà Minh vốn biết ngài là hào-kiệt nước Nam, muốn dụ ngài ra làm quan, ngài không thèm ra, nói rằng:

    - Đại trượng phu nên giúp lúc nạn to, lập nên công nhớn, chứ lại thèm làm đầy tớ người ta à!

    Đến năm Mậu-tuất (1418), ngài nhân được thanh thần-kiếm, và được bọn Nguyễn-Trãi, Trần-Hãn đến giúp nhận mới mộ quân khởi nghĩa chiêu dụ hào-kiệt. Đánh nhau với quân nhà Minh, lắm trận gian truân, mà chí ngài vẫn không núng.

    Một khi, ngài thua trận ở Côi-huyện, quân sĩ tan chạy mất cả, chỉ còn độc một mình chạy trốn. Tướng nhà Minh đem quân đuổi theo, ngài túng thế không biết làm thế nào, xảy gặp một ông lão nhà quê đang tát ruộng cấy mạ, ngài nhẩy ngay xuống ruộng cầm mạ cấy đỡ cho ông ấy. Một lát, quân Minh đuổi đến nơi, thấy người làm ruộng, hỏi thăm rằng:

    - Có thấy ai chạy qua đây không?

    Ông lão làm ruộng đã biết ý, chắc ngài là vua Lê, mới trỏ tay về phía trước mặt nói rằng:

    - Tôi vừa thấy một người chiến-tướng, hớt-hơ hớt-hải chạy về mé trước kia kìa!

    Quân nhà Minh tưởng thực, kéo cả đi về mé trước ngài nhân thế được thoát.

    Lại một bữa quân Minh đuổi kíp quá, phải núp mình vào trong bụi rậm. Quân Minh có con chó săn cực khôn, lồng lẫy cắn vào trong bụi. Quân Minh cầm giáo xỉa vào, bỗng thấy một con cáo chạy ra, quân mới bỏ đám ấy mà đi, nhân thế lại được thoát.

    Lại một buổi đánh nhau với Tham-tướng Minh là Phùng-Quí, thua trận chạy về đến núi Linh-sơn, quân hết lương ăn, phải nhịn đói mất hơn hai ngày, chỉ đào củ chuối và hái rau ăn trừ bữa.

    Tuy vậy, càng thua lại càng phấn chấn, chớ không ngã lòng, vả lại được các tướng giúp đỡ, như bọn Lê-Sát, Đinh-Lễ, Nguyễn-Xí, Lê-Triện, ai nấy cũng giốc một lòng; cho nên dần dần lại chuyển thua thành được. Về sau đánh được Trần-Trí, đuổi được Phương-Chính, chém được Liễu-Thăng ở núi Mã-an bắt được bọn Thôi-Tụ Hoàng-Phúc, trong mười năm giời quét sạch bờ cõi, bấy giờ ngài mới lên ngôi Hoàng-đế.

    Khi ngài thành công rồi, một bữa ngự thuyền rồng chơi trong hồ Tả-vọng, bỗng thấy một con rùa to bơi trên mặt nước, ngài cầm thanh thần-kiếm chỉ xuống, không ngờ bị con rùa ấy đớp lấy rồi lặn mất, bởi vậy đổi tên hồ ấy là hồ Hoàn-kiếm, nghĩa là giả gươm của giời.

    Ngài đem lại nước Nam, làm nên công nghiệm hiển hách, truyền đời ngót năm giời, thật là một vị đại-anh-hùng đệ nhất nước Nam.


    6.- Bắc-bình vương

    Bắc-bình vương tên là Nguyễn-văn-Huệ, người làng Tây-sơn tỉnh Qui-nhân, em vua Tây-sơn là Nguyễn-văn-Nhạc.

    Bắc-bình vương tiếng to như chuông mắt sáng như điện, sức khỏe tuyệt trần, mỗi khi lâm trận, chỉ hai tay cầm hai dùi đồng, phi ngựa xông vào giữa trận, hàng mấy nghìn người cũng không địch nổi. Lại có trí mưu quyền biến, mẹo mực như thần.

    Khi trước giúp anh khởi loạn ở trong Qui-nhân, về sau giữ từ Thuận-hóa giở ra, tự xưng là Bắc-bình vương.

    Trong năm Bính-ngọ thời Cảnh-hưng (1786), đem quân ra Bắc-hà, mưu trừ họ Trịnh để giúp nhà Lê. Giết được Trịnh-Khải, lập vua Chiêu-thống nhà Lê, rồi đem binh về đóng ở Phú-xuân, mà sai bộ tướng và Võ-Văn-Nhậm đóng quân ở Nghệ-an, để rình tin tức ngoài Bắc-hà.

    Năm sau, nhân có Nguyễn-hữu-Chỉnh muốn giúp vua Chiêu-thống để cự nhau với mình, mới sai Văn-Nhậm đem quân ra đánh Hữu-Chỉnh, đuổi mãi đến núi Tam-tùng bắt được, giải thây giết chết. Rồi lưu Ngô-văn-Sở cùng Ngô-Nhậm ở lại trấn thủ Thăng-long, lập Sùng-nhượng công Duy-Cẩn giám-quốc.

    Vua Chiêu-thống chạy sang Tàu cầu cứu. Vua Càn-long nhà Thanh sai Tổng-đốc lưỡng Quảng là Tôn-sĩ-Nghị đem quân lưỡng Quảng cùng Vân, Quí hơn 20 vạn chia làm hai đường kéo sang.

    Ngô-văn-Sở đem quân lui vào đóng ở Tam-điệp, Biện-sơn, đưa tin vào cáo cấp.

    Bắc-bình vương được tin cả giận nói rằng: “Những quân Ngô-cẩu này sao dám dông đỡ làm vậy!”. Bèn sai hạ lệnh khởi binh, các tướng-sĩ đều xin trước chính vị hiệu, để hệ nhân-tâm, rồi sẽ đem quân ra. Ngày hôm 25 tháng 11 năm Mậu-thân (1788), Bắc-bình vương lên ngôi Hoàng-đế, kỷ-nguyên là Quang-trung. Rồi khởi hết cả quân Thuận, Quảng, Thanh, Nghệ đem ra Bắc-hà, ngày 20 tháng chạp, kéo đến núi Tam-điệp, khao-thưởng quân-sĩ, truyền cho ba quân tạm làm lễ tết nguyên-đán, hẹn đến mồng 7 tháng giêng, ra thu phục được thành Thăng-long rồi sẽ mở tiệc khai-hạ. Tức thì chia quân các đạo kéo ra. Mồng ba tháng giêng năm Kỷ-dậu (1788) kéo quân đến vây đồn Hạ-hồi, (bây giờ thuộc phủ Thường-tín, Hà-đông), truyền loa gọi dạ ầm ầm, đến hàng vạn người; quân Tàu trong đồn sợ run cầm cập, bỏ tan mà chạy, bắt được giết sạch, không còn tên quân Tàu nào chạy lọt mà về báo Thăng-long được nữa.

    Vua Quang-trung thừa thắng đánh tràn đến đồn Ngọc-hồi, Văn-điển, Yên-Quyết, giết được tướng Tàu là Đề-đốc Hứa-thế-Hanh, Tổng-binh Trương-triều-Long, Thượng-duy-Thăng, Tri-phủ Điền-châu Sầm-nghi-Đống. Tôn-sĩ-Nghị đóng quân ở bến sông Nhị, nghe tin báo vội vàng lên ngựa qua phù-kiều chạy sang bắc, quân sĩ tranh cầu đổ xô nhau mà chạy, cầu đổ, chết hàng mấy vạn người, nước sông Nhị đến nỗi không chảy đi được; hôm ấy là mồng 5 tháng giêng, vua Quang-trung mặc áo chiến bào xông pha trong trận, thẳng vào thành Thăng-long, mà áo chiến bắt hơi súng sám đen cả lại. Vua Quang-trung lại sai quân đuổi theo quân Tàu đến cửa Nam quan tỉnh Lạng-sơn, nói phao lên rằng: sắp kéo tràn qua cửa quan đuổi giết, để theo tìm vua Chiêu-thống. Người Tàu cả sợ, già, trẻ, nhớn, bé, cõng nhau mà chạy, từ cửa Nam-quan giở về bắc, vài trăm dặm, vắng ngắt, không còn có hơi khói lửa người ở.

    Vua Quang-trung đánh được trận ấy, sai người nhặt thây quân Tàu chất lại thành đống, rồi đắp đất lên, tục truyền là gò đống-Đa ở huyện Vĩnh-thuận (bây giờ là huyện Hoàn-long, Hà-đông).

    Khi Tôn-sĩ-Nghị bỏ chạy, vua Quang-trung bắt được những tờ sắc dụ của vua Tàu, biết được ý Tàu chỉ giả dạng đồ lợi, chứ chẳng có ý gì phù Lê. Nhân khi ấy Tàu đã sai Phúc-khang-An ra thay Sĩ-Nghị làm lưỡng Quảng Tổng-đốc, chuyên ý giảng-hòa. Vua Quang-trung mới sai sứ sang giảng hòa, và cấp lương ăn cho những quân Tàu bắt được hơn 800 người mà đưa sang giả Tàu.

    Vua tàu dụ phải thân sang chầu. Năm Canh-tuất, vua Quang-trung đổi tên là Nguyễn-quang-Bình, sai cháu là Phạm-công-Trị trạng mạo giống mình, đội tên sang thay mình để triều cống; ngoại thức cống-phẩm lại đưa sang cống hai cặp voi đực, quân Tàu phải đưa đón đi dọc đường rất khổ sở. Khi đến nơi hành-tại trên sông Nhiệt-hà, vào chầu vua Tàu. Vua Tàu tưởng thực vua Quang-trung, thưởng cho rất hậu, ngự bút lại đề bốn chữ đại-tự và thơ, câu đối ban cho. Khi vào bệ-kiến từ về, lại ban cho áo mũ đồ đạc, bằng các vị thần-vương, và vời đến gần sập-ngự, vỗ vai phủ dụ ôn tồn, lại họa ngự-cảnh ban cho.

    Vua Quang-trung từ đấy lập Nghệ-an làm Trung-đô, đổi Thăng-long làm Bắc-thành, dựng sổ đinh, điền; đinh chia làm ba hạng, điền chia làm ba đẳng. Lại lập ra tín bài, đề bốn chữ: “Thiên hạ đại tín” bắt dân-đinh nộp thuế phải đề rõ tên họ, niên canh, quán chỉ, cặp chỉ làm tin, nếu người nào không có thẻ thì là lậu-đinh, bắt phải sung dịch, mà lý trưởng phải phạt. Lại-dịch nhân thế xét bắt quấy dân, có kẻ phải chui vào hang để trốn rất là khổ sở.

    Vua Quang-trung lại muốn thừa cơ, lấy lại đất Quảng-đông, Quảng-tây, Vân-nam của nước Nam khi xưa, đã mộ binh đóng tàu chiến, sắp sửa làm biểu sai sứ sang Tàu cầu hôn, để dò ý vua Tàu, mượn chuyện để khởi binh, chẳng may gặp phải bệnh mất, việc ấy lại phải dìm đi. Vua Quang-trung lên ngôi được 3 năm, thọ 40 tuổi.

    *7.- Đức Gia-long

    Bản-triều Thế-tổ Cao hoàng-đế

    Đức Gia-long là con giai thứ ba đức Hưng-tổ, là cháu đức Duệ-tôn. Khi đức Hưng-tổ băng, thì ngài mới lên 4 tuổi. Khi nhớn lên, ngài thiên-tư thông tuệ khác thường, đức Duệ-tôn lấy làm khí-trọng lắm.

    Khi ấy đức Duệ-tôn nối nghiệp chúa ở Thuận-hóa. Nhưng có kẻ quyền-thần là Trương-phúc-Loan chuyên quyền; mà trong Qui-nhân thì anh em Tây-sơn là Nhạc, Huệ nổi lên; ngoài Bắc-hà thì Trịnh chúa sai Hoàng-ngũ-Phúc vào xâm lấn; Thuận-hóa thất thủ, ngài theo đức Duệ-tôn chạy vào Quảng-nam, rồi lại vượt bể vào Gia-định. Đức Duệ-tôn cho ngài làm Chưởng-sử, coi một đạo quân Tả-dực. Ngài liệu tính việc quân không sai một ly nào, các hàng chư tướng đếu giốc lòng theo ngài.

    Một hôm, ngài hộ giá đức Duệ-tôn đương đi nửa đường, chợt nghe có quân giặc đuổi theo. Đức Duệ-tôn thấy nguy cấp lắm, mới nhường con ngựa cho ngài cưỡi, giục ngài đi lên trước; ngài bất đắc dĩ phải nhận ngựa cưỡi đi lên. Đi một lát, lại dừng ngựa đợi. Khi đức Duệ-tôn theo lên kịp thấy ngài vẫn đứng đợi ở ven đường. Đức Duệ-tôn nói rằng: “Cháu ta có bụng tốt như vậy, giời thực chứng giám cho”.

    Năm Bính-thân, ngài đến Tam-phụ (tục gọi Ba-đống, thuộc Định-tường), chiêu mộ quân Đông-sơn (là bọn Đỗ-thanh-Nhân, tự xưng là Đông-sơn tướng-quân). Sực có quân Tây-sơn vào cướp Sài-gòn, đức Duệ-tôn phải chạy đến Đăng-giang, ngài đem quân Đông-sơn đến ứng viện, rước đức Duệ-tôn chạy đến Cần-thơ; rồi lại chạy đến Long-xuyên, thì đức Duệ-tôn bị nạn. Đang đêm, ngài muốn vượt thuyền ra bể để tránh giặc, khi thuyền quay mũi ra thì có con cá sấu ba lần đến ngăn trở thuyền ngài lại, không đi được. Sáng hôm sau, cho thám xem, mới biết đêm qua có thuyền giặc đón eo ở mé trước. Ngài phải chạy ra cù-lao Thổ-châu.

    Sau ngài lại đảo về cử nghĩa-binh ở Long-xuyên, đánh phá quân Tây-sơn ở doanh Long-hồ (bây giờ là Vĩnh-long), thu phục được thành Sài-gòn lần thứ nhất.

    Năm Mậu-tuất (niên hiệu Lê Cảnh-hưng thứ 39, lịch tây 1777), chư tướng tôn ngài lên làm Đại nguyên-soái, nhiếp quốc-chính, khi ấy ngài mới 17 tuổi. Đến năm Canh-tí (1779), tháng giêng, ngài lên ngôi vua ở Sài-gòn.

    Năm Nhâm-dần, quân Tây-sơn kéo vào cửa bể Cần-thơ, ngài sai Chưởng-cơ Tống-phúc-Thiêm điều bát quân thủy ra cự-chiến. Quân Tây-sơn thừa thế tiến vào hăng lắm. Cai cơ Mạn-Hòe (Ma-nuel, người Pháp) cưỡi tàu xông vào cự địch, quân giặc ném thuốc súng xuống đốt tàu, Mạn-Hòe tử tiết. Ngài thân đốc binh thuyền ra ứng tiếp, mình mặc nhung-y, đầu đội nón chiến, tay cầm súng đứng trên mũi thuyền, bắn sang thuyền giặc. Ngài bắn súng cực giỏi, không phát nào sai, (tay súng ấy phong là: Võ-công lưỡng-khí) hô chư quân vừa đánh vừa lui, rồi ngài ngự đến Tam-phụ, thành Sài-gòn lại mất về Tây-sơn.

    Sau ngài ngự thuyền ra cù-lao Phú-quốc. Tháng tám năm ấy, Chu-văn-Tiếp cử binh kéo cờ hiệu bốn chữ: “Lương-sơn tá quốc” lại về thu phục được thành Sài-gòn lần thứ hai. Ngài ngự giá từ Phú-quốc trở về, sai sứ sang Xiêm-la thông hiếu.

    Năm Quí-mão, Tây-sơn Nguyễn-văn-Huệ đem quân vào đánh phá cửa Cần-thơ, ngài phải ngự đến Tam-phụ, bày tôi theo hầu ngài chỉ còn có Nguyễn-kim-Phẩm và năm sáu người mà thôi, ngài đi đến sông Lật-giang, quân giặc đuổi theo kíp lắm, mà nước sông chảy xiết quá, không có đò sang, ngài vốn tài bơi lội, bèn bơi vượt sang được bờ bên kia sông. Khi chạy đến Đăng-giang, khúc sông ấy nhiều cá sấu lắm, không thể bơi sang được, may có con trâu nằm ở bờ sông, ngài mới cưỡi trâu sang sông, đến giữa dòng nước chiều dâng lên to, chìm cả trâu, may có con cá sấu đưa giạt vào bờ, ngài ngự đến Mỹ-tho, rồi rước cả Quốc-mẫu và cùng gia-quyến ra trú ở cù-lao Phú-quốc. Quân Tây-sơn chợt kéo đến, ngài phải chạy ra cù-lao Côn-lôn (Poulo-condor).

    Nguyễn-văn-Huệ đem quân thủy bổ ra bao vây Côn-lôn, thế rất nguy cấp, bỗng đâu giời nổi cơn mưa bão, mây kéo mù mịt, thuyền ghe giáp nhau mà cũng không trông rõ mặt người, sóng bể ầm ầm, thuyền giặc chìm đắm không biết bao nhiêu mà kể. Ngài ngự một chiếc thuyền vượt ra ngoài trùng-vi, bạt phong đến cù-lao Cổ-cốt. Ít bữa lại về Phú-quốc, lương thực hết cả, quân lính đến nỗi phải đào rễ cỏ, củ-mài mà ăn. Lúc bấy giờ có một nàng lái buôn là thị Uyển người Hà-tiên chở một thuyền gạo lại hiến.

    Khi ấy ngài nghe ông Bá-Đa-lộc (Evêque d’Adran) ở Chân-bôn, bèn sai người đến bàn tính, rồi giao ông hoàng-tử Cảnh mới lên bốn tuổi cho ông Bá-đa-Lộc đưa sang Pháp-quốc để cầu viện.

    Hoàng-tử Cảnh đi rồi, ngài đem ra 20 lạng vàng, chia đôi đưa cho bà Nguyên-phi (Tống-thị sinh ra ông hoàng-tử Cảnh) một nửa mà bảo rằng: “Con ta đi rồi, ta cũng phải ra đi, Phi phụng dưỡng quốc-mẫu ở đây, chưa biết sau này ngày nào lại gặp được nhau mà ở tại chỗ nào, thì cứ lấy vàng này mà làm tin”.

    Nói rồi, ngài ngự thuyền vào cửa bể Ma-li, để dò thám quân giặc; chợt gặp hơn hai mươi chiếc thuyền giặc đến vây; thuyền ngài vội vàng giương buồm cứ trông theo phương đông mà chạy, phiêu lưu ngoài bể bảy ngày đêm, trong thuyền hết cả nước uống, quân sĩ đều khát. Ngài mới mật khấn rằng: “Nếu ta có phận làm vua, thì giạt thuyền vào bờ, để cứu lấy mạng người trong thuyền này. Nhược bằng không thì đánh chìm đắm ở giữa bể này, cũng cam tâm vậy!”.

    Vụt chốc, gió lặng, sóng yên, trông thấy trên mặt nước, hắc, bạch chảy rẽ đôi dòng, một bên nước trong leo lẻo, trong thuyền một người nếm thử thấy ngọt, hô lên rằng: “Nước ngọt...!”. Rồi tranh nhau múc uống, khỏi cả phiền khát, vừa múc được bốn năm chĩnh, thì nước bể lại mặn như trước.

    Khi giặc lui đi rồi, ngài lại ngự thuyền về Phú-quốc. Quốc-mẫu thấy ngài về cả mừng. Ngài mới kể lại tình trạng lúc bạt phong giữa bể, để quốc-mẫu nghe. Quốc-mẫu than rằng: “Con ta bên giời, góc bể, lịch duyệt gian nan. Nhưng xem như trận gió Côn-lôn, nước ngọt giữa bể, thì ý giời khá biết, chớ thấy gian hiểm mà ngã lòng.” Ngài bái tạ xin vâng lời dạy.

    Lúc ngài đi bể, chỉ dùng muối, ớt, gừng, tỏi, hồ tiêu, hồi hương, quế-chi, ô-mai, bẩy tám vị ấy đều tán nhỏ trộn lẫn với nhau để làm thức ngự-thiện. Ngài thường ban cho các tùng-thần, và bảo rằng. Đi chốn sơn, hải lam chướng, nên ăn những thức này, và tỏ ý rằng ta cùng với các ngươi cũng cam khổ vậy.”

    Năm Giáp thìn, ngài sang Xiêm-la cầu viện. Vua Xiêm cho hai tướng đem 20.000 thủy binh, 300 chiến thuyền sang giúp. Nhưng bị Nguyễn-văn-Huệ phục binh đánh tan cả. Ngài lại ngự sang thành Vọng-các (Bangkok, kinh đô Xiêm).

    Khi ấy ngài có giúp Xiêm đánh tan quân Miến-điện. Vua Xiêm cảm tạ lại muốn giúp binh. Nhưng ngài biết rằng dẫu quân Xiêm có giúp cũng vô ích. Mà Nguyễn-văn-Thành cũng tâu rằng: “Ta nên dưỡng sức đợi thời, có thể tự làm lấy được, không nên dẫn quân rợ vào chốn trọng địa nước mình”. Ngài lấy làm phải.

    Bấy giờ nghe tin anh em Tây-sơn khích-bác nhau, ngài mới quyết kế kéo quân về, nghĩa-binh các đạo đều đến họp tập, thanh thế lừng lẫy. Tháng tám năm Mậu-thân, lại thu phục được thành Sài-gòn lần thứ ba. Tháng sáu năm Kỷ-dậu, Bá-đa-Lộc đưa ông hoàng-tử Cảnh tự Tây về, và đưa hai tướng là Nguyễn-văn-Chấn (Vannier), Nguyễn-văn-Thắng (J-B. Chaignau(1)) sang giúp.

    Năm Canh-thân, ngài thống suất thủy, bộ chư quân ra cứu viện thành Bình-định, Thị-nại dùng chước hỏa công đánh phá thủy đồn.

    [​IMG]Năm Tân-dậu, ngài kéo quân ra thu phục được Phú-xuân. Từ đấy đánh tràn đi, diệt Tây-sơn, định Bắc-hà, nhất thống cả Nam, Bắc

    (1)Theo sách Gương xứ Nam, thì là Despiau

    Năm Nhâm-tuất, (năm thứ 7 vua Gia-khánh nhà Thanh lịch Tây 1802) kỷ nguyên Gia-long, đưa thư sang Tàu định quốc hiệu là Nam-việt, nghĩa là ngài mở rộng được cõi Nam-kỳ, mà có cả toàn việt. Nhưng vua Gia-khánh lại đổi lại để chữ Việt trên chữ Nam, cho là triều Nguyễn ta trước chiếm có đất Việt-thường, nay có cả cõi An-nam. Ngài đưa thư sang chiết biện mãi rồi mới đặt quốc-hiệu là Việt-nam.

    Ngài mở mang cõi nước Nam ta thêm rộng ra được 6 tỉnh Nam-kỳ, buổi đầu rất là gian lao, nào là đặt quan Điền-tuấn; mở đất đồn điền; phân hoạch địa giới Gia-định Định-tường; đào thông ngòi lạch Hà-tiên, Châu-đốc. Lại còn đặt ra tòa đệ-chỉnh ở Bắc-thành định ra đê-thức; soạn ra bộ nhất thống địa-dư; định ra điều lệ hương đảng; định phép tuyển-duyệt; nghiêm cấm đổ bác; định luật lệ 398 điều. Đó là qui-mô khai-quốc, kể lược qua như vậy. Lại còn công việc ngài giao thiệp với nước Xiêm-la; thông hiếu với nước Đại-pháp; xử trí nước Chân-lạp, Vạn-tượng, đều qui phục cả.

    Công đức ngài kiêm cả trung-hưng, sáng nghiệp triều Nguyễn ta, trong 22 năm mới thu phục được cựu-kinh, lên ngôi được 18 năm, thọ 58 tuổi, miếu hiệu là Thế-tổ Cao hoàng-đế, ngài thực là một vị vua khai sáng anh-hùng.

    [​IMG]


    CHƯƠNG THỨ II

    Các bậc danh thần

    8.- Lý-thường-Kiệt

    Thường-Kiệt tự là Hị-liệt, người làng Thái-hòa huyện Thọ-xương, (tức là thành phố Hà-nội bây giờ), có tài kiêm cả văn võ. Khởi thân làm Thái-giám. Đến thời vua Nhân-tôn nhà Lý, làm đến chức Thái-Úy, Trong năm Thái-ninh, nước Chiêm-thành đến quấy nhiễu xứ Nghệ-an, vua sai Thường-Kiệt cầm quân đi đánh, Thường-Kiệt đánh đuổi về mãi nước Chiêm, lấy được châu Bố-chính, châu Địa-ly và châu Ma-linh, mới sai vẽ địa-đồ ba châu ấy, đổi châu Địa-ly làm phủ Tân-bình, châu Ma-linh làm châu Minh-linh,
  • Chia sẻ trang này