0081.0003-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki

12/1/16
0081.0003-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    (tức Quảng-bình, Quảng-trị bây giờ) chiêu mộ dân nghèo cho sang ở đấy khai khẩn.

    Đến năm Thái-ninh thứ tư, vua Thần-tôn nhà Tống sai Thẩm-Khởi, Lưu-Lộng ra coi Quí-châu, có ý muốn dòm nom nước Nam. Vua Nhân-tôn sai Thường-Kiệt đem quân đi cự quân Tống, Thường-Kiệt đánh tràn sang nước Tàu, hạ được châu Khâm, châu Liêm, và vây hãm châu Ung, giết hại quân nhà Tống hơn vạn người.

    Năm sau, vua Tống sai Quách-Quì làm Chiêu-thảo-sứ, đem 9 tướng chia đường đi sang hội với nước Chiêm-thành, nước Chân-lạp, để quấy nhiễu nước Nam. Vua lại sai Thường-Kiệt đi đánh, đánh trận nào được trận ấy, quân nhà Tống chết hơn nghìn người, phải bỏ mà về.

    Khi ấy, Lý-Giác khởi loạn ở xứ nghệ, Giác có yêu thuật, làm cho cỏ cây biến thành binh mã, quan quân đánh mãi không phá được. Thường-Kiệt bấy giờ đã ngoài 70 tuổi, tình nguyện xin đi đánh, thì mới dẹp tan được đám ấy.

    Nhân có nhưng công to ấy, được tiến tước phong làm đại-vương. Về sau mất được phong làm thượng-đẳng-phúc-thần.


    9*.- Tô-hiến-Thành

    Tô-hiến-Thành là bậc trung thời đời vua Anh-tôn nhà Lý, tài kiêm văn, võ, có công đánh phá Ai-lao cùng rợ Ngưu-hống (bây giờ thuộc huyện Hưng-hóa An châu). Lai nã bắt được đảng giặc Thân-lị, làm đến chức Thái-úy.

    Khi ấy có quân Chiêm-thành thường vượt bể vào cướp bóc nhân-dân ở miền ven biển. Hiến-Thành phụng mạnh đi đánh, kéo quân vào đến nước Chiêm (bây giờ là Bình-định Phú-an), đưa thư thiết trách chúa Chiêm, không giữ lễ phiên-thần triều cống, lại bày tỏ điều lợi hại để chiêu dụ, chúa Chiêm sợ phải sai sứ đem trân-châu phẩm-vật, vào cống hiến xin giảng hòa. Hiến-Thành mới phụng mệnh đem quân về.

    Bấy giờ Thái-tử Long-Xưởng bị xử tội tư thông với cung phi, phải truất phế làm thứ dân. Vua Anh-tôn mới họp các tể-thần lại dụ rằng: “Ngôi thái-tử là cội rễ trong nước, nay Long Xưởng đã làm điều bất đạo, trẫm muốn lập Long-Cán để nối đại-thống, nhưng e tuổi còn thơ ấu, sợ rằng không kham nổi chăng?”. Vừa khi ấy quan nội nhân ẵm Long-Cán mới lên ba tuổi ra chơi, trông thấy khăn ngự của vua đội, nhất định đòi cho được, vua chửa kịp cho, thì lại càng khóc thét mãi lên. Vua phải hạ khăn xuống đưa cho, thì Long-Cán cả cười. Vua Anh-tôn lấy làm lạ, mới quyết định lập Long-Cán làm thái-tử. Bèn cho Tô-hiến-Thành làm Thái-phó, gia phong vương tước, để phù lập Long-Cán nối ngôi.

    Khi Anh-tôn mất, Thái-hậu muốn lập Thái-tử cũ là Long-Xưởng sai đem vàng hối-lộ cho vợ Hiến-Thành là Lã-thị phu-nhân. Hiến-Thành nói rằng: “Ta là đại-thần, nhận tờ di-chiếu giúp ngôi ấu-chúa; nếu lại tham lấy của hối-lộ, bỏ vua này, lập vua khác, thì còn mặt mũi nào trông thấy đấng tiên-đế ở dưới suối vàng nữa”.

    Thái-hậu lại vời Hiến-Thành đến khuyên dỗ trăm đường, Hiến-Thành nhất định không nghe, nói rằng: “Làm điều bất nghĩa mà được phú, quí, người trung-thần, nghĩa-sĩ không thèm làm. Phương chi lời đấng tiên-đế dặn lại hãy còn văng vẳng ở bên tai, tôi đâu lại dám cải lời; Thái-hậu lại chẳng nghe chuyện Y-Doãn, Hoắc-Quang(1) đời trước à!”. Thái-hậu khuyên dỗ mãi cũng không chuyển.

    Khi Cao-tôn lên nối ngôi, Thái-hậu lại họp cả quần-thần lại để mưu phế, lập; các quần-thần điều thưa rằng: “Quan Thái-phó đã tuân tờ di-chiếu, lập ngôi ấu-chúa, chúng tôi không dám trái lời”. bởi vì khi ấy Hiến-Thành quản cấm-binh, phụ quốc-chính, hiệu lịnh nghiêm mật, thưởng phạt công bình, trong nước đều qui phục cả, cho nên không ai dám có mưu gì khác nữa.

    Khi Hiến-Thành phải bệnh gần mất, có quan Tham-chi chính-sự là Vũ-tán-Đường thường ngày đêm xuống hầu hạ thuốc thang luôn, còn quan Gián-nghị đại-phu là Trần-trung-Tá vì bận việc ít khi đến. Một hôm Thái-hậu ra thăm, hỏi Hiến-Thành về sau ai có thể thay ông được? Hiến-Thành thưa rằng: “Có người Trung-Tá”. Thái-hậu ngạc nhiên nói rằng: “Tán-Đường hầu thuốc thang luôn ở đây, sao ông không cử đến.” Hiến-Thành đáp rằng: “Ngài cốt hỏi người thay tôi để giúp nước, thì tôi cử Trung-Tá. Nếu ngài hỏi người hầu hạ, thì tôi mới cử Vũ-tán-Đường.” Thái-hậu khen là trung trực.

    [​IMG]Hiến-Thành là bậc cố-mệnh nguyên-thần, hết lòng trung thành giúp ngôi ấu-chúa, thời bây giờ lấy làm ỷ-trọng; lại khéo xử lúc biến cố, chẳng chút chuyển di, người đời sau thường ví Tô-hiến-Thành cũng như ông Gia-Cát Vũ-hầu giúp vua hậu-chủ nhà Hán.

    (1) Y-Doãn giúp vua Thái-giáp nhà Thương; Hoắc Quang giúp vua Chiêu-đế nhà Hán đều là ấu-chúa cả

    10.- Hưng-đạo đại-vương (1)

    Vương họ Trần tên Quốc-Tuấn, quê ở làng Tức-mặc, tỉnh Nam-định, con ông An-sinh vương Liễu, (anh ruột vua Trần Thái-tôn).

    Khi trước An-sinh vương phu nhân, nằm mơ thấy một ông thần tinh vàng tướng ngọc, tự xưng là Thanh-tiên đồng-tử phụng mệnh Ngọc-hoàng xuống xin đầu-thai, nhân thế có mang. Đến lúc sinh ra vương, có hào-quang sáng rực cả nhà và có mùi hương thơm ngào ngạt.

    Vương, khôi-ngô kì-vĩ, thông minh sớm lắm, lên 5,6 tuổi, đã biết làm thơ ngũ-ngôn, và hay bày chơi đồ bát-trận. Khi gần nhớn, học rộng các sách, thông hết lục-thao, tam lược có tài kiêm cả văn võ.

    Trong năm Nguyên-phong thứ bảy thời vua Thái-tôn (1257). Có giặc Mông-cổ lấn vào phận Hưng-hóa, vua sai vương cầm quân lên giữ mặt thượng-du.

    Đến đời vua Nhân-tôn, Mông-cổ lại sai Thoát-Hoan đem bọn Toa-Đô, Ô-mã-Nhi chia đường sang đánh nước Nam, vương phụng mệnh thống lĩnh các quân của vương, hầu, hội cả ở trại Vạn-kiếp, để chống nhau với quân Mông-cổ. Bấy giờ thanh thế Mông-cổ đang mạnh, vương phải rước xa giá Hoàng-đế lánh vào Thanh-hóa. Hoàng-đế thấy sự-thế nguy cấp, muốn hàng, vương không nghe, tâu rằng:

    - Nếu bệ-hạ muốn hàng, xin trước hết chặt đầu thần đi đã, rồi sẽ hàng cũng chưa muộn. Đầu thần còn thì xã-tắc cũng còn, xin bệ-hạ chớ lo.

    Vua thấy nói cứng cỏi làm vậy, trong bụng cũng yên. Đến tháng tư, phá được quân Mông-cổ ở cửa sông Hàm-tử. Tháng năm, lại đánh vỡ quân Mông-cổ và chém được Đại-tướng là Toa-Đô ở đất Tây-kết, Thoát-Hoan phải rút quân về Tàu.

    Năm Trùng-hưng thứ ba, Thoát-Hoan lại đem bọn Ô-mã-Nhi, A-bát-Xích sang quấy thứ nữa. Vương sai Trần-khánh-Dư phục quân chặn đường, đốt phá được hết thuyền lương của giặc ở cửa bể Lục-hải, (thuộc huyện Hoành-bồ, tỉnh Quảng-yên). Thoát-Hoan cạn lương, muốn rút quân về, vương phục sẵn quân ở sông Bạch-đằng, đóng cột chông ngầm dưới nước, chờ lúc thủy-triều lên ra khơi chiến, dử cho quân giặc đuổi đến chỗ mai phục, thì nước vừa xuống, thuyền giặc vướng mắc cột chông chìm đắm rất nhiều, mới thả quân mai phục ra đánh, bắt sống được Ô-mã-Nhi, và bắn chết được Trương-Ngọc, còn A-bát-Xích, Thoát-Hoan trốn được về Tàu.

    Tự bấy giờ quân Mông-cổ sợ uy-danh của ngài, không dám gọi tên, chỉ gọi là Hưng-đạo-vương, và không dám sang quấy nhiễu nữa.

    Khi Thoát-Hoan sang xâm thứ sau, có một tên ti-tướng là Nguyễn-bá-Linh, (tức Phạm-Nhan), có yêu thuật, biến hiện trăm chiều, vương phải lập trận cửu-cung mới phá được. Khi bắt được Bá-Linh rồi, chém thế nào cũng không chết, vương lại phải dùng đến thần kiếm chém nó mới chịu.

    Vương ba thứ phụng mệnh chống nhau với quân Mông-cổ, trải lắm phen gian truân, mà vẫn vững vàng niềm không núng, cho nên về sau phá được quân giặc, lập nên công to, để cho nước Nam lại vững như cái âu vàng.

    Ngài nhân có công ấy, được tiến phong làm Thái-sư thượng-phụ Hưng-đạo đại-vương. Vua tôn kính coi như đạo cha, lập ra miếu sinh-từ ở Vạn-kiếp và khắc văn bia để tỏ công đức của ngài.

    Ngài thường soạn ra một quyển sách gọi là : “Binh-pháp yếu-lược”, để ban cho các tướng, lại lập ra trận đồ cửu cung bát quái, thần diệu vô cùng.

    Khi ngài già, về trí-sĩ ở Vạn-kiếp, hưởng thọ ngoài 70 tuổi mới mất, trên từ vua cho chí các quan, dưới đến trăm họ, ai ai cũng thương tiếc.

    [​IMG]Bây giờ mỗi năm về hôm 20 tháng tám là ngày húy nhật ngài, thiện-nam tín-nữ đến lễ bái đến Vạn-kiếp thành ra một ngày hội to.

    (1)Truyện “Hưng-đạo vương” tiểu thuyết có kể rõ các trận đánh quân Tàu.

    11.- Nguyễn-Trãi

    Nguyễn-Trãi hiệu là Ức-trai tiên-sinh, cha ông ấy là Tự-khanh công, nguyên người ở huyện Phượng-nhỡn. Ông cụ ấy hay địa-lý, mới đem tiên-phần sang táng ở làng Nhị-khê, huyện Thượng-phúc, rồi làm nhà và nhập tịch làng ấy.

    Đời con là Nguyễn-Trãi, đỗ tiến-sĩ về thời nhà Hồ, làm đến Ngự-sử-đài chánh chưởng. Đến lúc nhà Hồ mất, ông ấy về ẩn ở núi Côn-sơn, có bụng muốn ra dẹp loạn cứu đời.

    Bấy giờ có người ở làng Hoắc-xa tỉnh Sơn-tây tên là Trần-nguyên-Hãn, đi bán dầu kiếm ăn. Một bữa giời tối, đi làng Chèm, mới vào đền Chèm nằm ngủ. Nửa đêm nghe có tiếng ông thần làng khác vào rủ ông Chèm lên chầu giời. Ông Chèm nói có quốc-công ngủ trọ không đi được. Đến gà gáy ông thần kia giở về. Ông Chèm hỏi trên giời có việc gì, thì ông kia nói rằng:

    - Thượng-đế thấy nước Nam chưa có chúa, có cho ông Lê-Lợi (tức Lê Thái-tổ) làm chúa, mà ông Nguyễn-Trãi thì làm bày tôi.

    Trần-nguyên-Hãn nghe rõ câu ấy, chịu khó dò hỏi tìm đến nhà ông Nguyễn-Trãi, kể lại truyện ấy. Nguyễn-Trãi không tin, lại về đền ông Chèm cầu mộng, thì thấy thần báo mộng rằng:

    - Việc thiên-đình bí mật lắm, không dám nói lộ ra ngoài. Có chị Tiên-Dong biết tường việc ấy, vả lại là liền bà, thì giời không trách đến, ông nên đem vàng đến đền ấy mà hỏi.

    Ông Nguyễn-Trãi nghe nhời ấy, đến cầu mộng đền bà Tiên-Dong, thì mơ thấy bà ấy gọi bảo rằng:

    - Nguyễn-Trãi! Lê-Lợi làm vua, mà anh thì làm bày-tôi, anh chưa biết truyện ấy à?

    Ông ấy hỏi cặn kẽ lại thì mới biết ông Lê-Lợi là người làng Lam-sơn tỉnh Thanh-hóa. Mới cùng với Trần-nguyên-Hãn vào Lam-sơn, hỏi thăm đến nhà ông Lê-Lợi. Bấy giờ Thái-tổ còn hàn vi, khi hai ông kia đến, thì ngài đang mặc cái áo cánh cộc, vai vác bừa, tay dắt bò ở ngoài đồng về. Hai ông xin vào hầu, Thái-tổ mời nghỉ lại trong nhà. Xảy gặp hôm ấy nhà có giỗ, hai ông kia xuống bếp thổi nấu, trông trộm lên nhà trên, thì thấy ngài ấy cầm giao thái thịt, đang vừa thái vừa ăn.

    Hai ông bàn riêng với nhau rằng:

    - Bà Tiên-Dong nói lừa chúng ta đây, có lẽ đâu khí tượng thiên-tử mà lại thế kia bao giờ?

    Liền cáo từ ra về, lại đến cầu mộng đền bà Tiên-Dong, thì thấy báo mộng rằng:

    - Lê-Lợi làm vua, giời đã nhất định như thế rồi chỉ vì chưa có thiên-tinh giáng đấy thôi.

    Hai ông lần sau lại đến thăm Thái-tổ, thì bấy giờ ngài đã được quyển thiên-thư. Khi ấy đang đêm đóng cửa xem sách. Nguyễn-Trãi đứng ngoài cửa dòm vào, rồi đẩy cửa, hai ông cùng vào. Thái-tổ cắp thanh gươm đi ra, hai ông cùng lạy phục xuống đất và nói rằng:

    - Chúng tôi xa xôi lặn ngòi noi nước đến đây, là vì thấy ngài làm được chúa thiên-hạ, xin cho chúng tôi được theo hầu.

    Thái-tổ cười lưu hai người ở lại, mưu việc khởi binh. Ông Nguyễn-Trãi lấy mỡ viết vào lá cây tám chữ: “Lê-Lợi vi quân, Nguyễn-Trãi vi thần”. Về sau sâu cắn những lá ấy rụng xuống, người ta thấy vậy cho là sự giời định, đồn rực cả lên, bởi thế nhân dân tranh nhau kéo theo về với ông ấy, quân thế mỗi ngày một thịnh.

    Đến năm Mậu-tuất, mới bắt đầu ra đánh nhau với quân nhà Minh, ông Nguyễn-Trãi bàn mưu lập kế giúp vua Thái-tổ đánh hơn 20 trận. Năm Bính-ngọ, quân ta thắng trận, tiến sát đến Đông-đô, tướng nhà Minh là Vương-Thông giữ vững trong thành. Nhà Minh lại sai An-viễn hầu là Liễu-Thằng và Kiềm quốc-công là Mộc-Thạnh chia quân làm hai đường sang cứu Đông-đô. Thái-tổ đón đánh ở núi Mã-an, chém được Liễu-Thăng, và bắt sống được bọn Hoàng-Phúc, Thôi-tụ hơn 300 người, Mộc-Thạnh phải trốn về nước, Vương-Thông mở cửa thành ra hàng.

    Tự bấy giờ hai nước lại thông hiếu, nội là tờ giao thiệp với Tàu, do tự một tay Nguyễn-Trãi cả.

    Vì có công được phong quốc-tinh, gọi họ là Lê, mà thăng lên làm Vinh-lộc đại-phu nhập-nội-hành-khiển, coi cả việc trong ba quân và được phong là Tế-văn-hầu.

    Trần-nguyên-Hãn thì được phong làm quốc-công, đến khi mất, lại được phong làm thành-hoàng, bây giờ còn đền thờ ở làng Hoắc-xa.

    Nguyễn-Trãi văn chương hùng dũng, có khí-lực, phàm các bài như là văn “Bình ngô đại-cáo” cùng là văn bia “Lam kinh thần-đạo”, có chép vào bộ thực-lục, là tự tay ông ấy soạn ra cả.

    Tính ông ấy điềm đạm, không ham mê danh lợi, thường có chí muốn từ chức về nhà. Ông ấy có một trại riêng ở tỉnh Bắc, gọi là Tiêu-viên. Đến thời vua Thái-tôn, Nguyễn-Trãi trí sĩ về ẩn ở trại ấy. Cuối đời Thiệu-bình, vua Thái-Tôn nhân đi chơi qua tỉnh Bắc, vào chơi trại Tiều-viên, Nguyễn-Trãi đi vắng, có người nàng hầu là Thị-Lộ, ở nhà pha chè hầu vua, chiều hôm ấy vua mất, nịnh-thần cho là Thị-Lộ giết vua, vì thế cả nhà ông Nguyễn-Trãi phải chịu tội chu di.

    Khi trước đánh nhau ở núi Mã-an, Nguyễn-Trãi bắt được thượng-thư nhà Minh là Hoàng-Phúc, Hoàng-Phúc nguyên giỏi nghề địa-lý, khi ở nước Nam, bao nhiêu chỗ kiểu đất hay, đã biên ký lấy cả. Bấy giờ phải bắt, Nguyễn-Trãi có ý khinh bỉ. Hoàng-Phúc cười bảo rằng:

    - Mả tổ nhà tôi có Xá-văn-tinh, chẳng qua chỉ phải nạn trong năm ngày là cùng, không đến nỗi như ông có đất phải chu di tam tộc.

    Bấy giờ cũng cho nhời ấy nói xằng, về sau quả nhiên Hoàng-Phúc được tha về, mà Nguyễn-Trãi thì mắc nạn, mới biết nhời ấy là nghiệm.

    Tục truyền khi ông Nguyễn-Trãi chưa đỗ, dạy học ở làng Nhị-khê, thường có sai học-trò dọn cỏ một cái gò ở ngoài đồng để làm trường dạy học. Đêm hôm trước, mơ thấy một người đàn bà vào kêu rằng: “Tôi, mẹ yếu con thơ, xin ông khoan cho ba ngày để tôi đem con tôi đi chỗ khác, rồi ông sẽ sai dọn cỏ”. Sáng sớm, thức dậy ra đồng xem thì học-trò đã dọn sạch rồi, và bắt được hai cái trứng rắn.

    Ông Nguyễn-Trãi hỏi học-trò thì nói rằng:

    - Ban nẫy con thấy con rắn ở trong đám cỏ rậm, đánh nó đứt đuôi mà chạy mất, chỉ bắt được hai cái trứng ở đây.

    Nguyễn-Trãi nghĩ con rắn hẳn là người đàn bà báo mộng hôm qua, phàn nàn không ngần nào, mới đem hai cái trứng về nhà nuôi cho nở. Đêm hôm ấy, đang ngồi xem sách, có con rắn trắng leo lên xà nhà, rỏ máu trúng vào chữ đại ([]) trong trang sách, thấm xuống ba tờ giấy. Nguyễn-Trãi biết là nó tất báo oán đến ba đời, đến khi hai cái trứng kia nở ra, thì một con, dài một con ngắn, Nguyễn-Trãi sai đem thả xuống sông Tô-lịch ở cạnh làng.

    Khi Nguyễn-Trãi đã hiển đạt. Một bữa, ở trong triều về, đi qua hàng chiếu, giời đã tối sâm sẩm, gặp một đứa con gái đi bán chiếu, nhan sắc tuyệt trần, Trãi đọc lên bốn câu thơ để hỏi đùa.

    Thơ rằng:

    Ả ở đâu đi bán chiếu gon?

    Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn?

    Xuân thu chừng độ bao nhiêu tuổi?

    Đã có chồng chưa được mấy con?

    Người con gái ấy cũng đọc lên một bài đáp lại:

    Thơ rằng:

    Tôi ở Tây-hồ bán chiếu gon,

    Nỗi chi ông hỏi hết hay còn?

    Xuân thu tuổi mới giăng tròn lẻ,

    Chồng còn chưa có, có chi con!

    Nguyễn-Trãi thấy nói đối đáp ngay được, lấy làm khoái chí lắm. Hỏi tên thì nói tên là Thị-Lộ, mới đem về cho làm nàng-hầu.

    Vua Thái-tôn nghe tin nàng ấy đẹp và hay chữ, sai làm nữ-học-sĩ, thường thường cho ra vào trong cung.

    Khi vua vào chơi nhà ở Tiêu-viên, thì ông Nguyễn-Trãi đi vắng, chỉ có Thị-Lộ ở nhà. Nàng ấy pha nước dâng lên vua xơi, vua uống phải thì mất ngay. Nguyên Thị-Lộ tức là con rắn hiện hình ra làm người để nó báo thù. Khi nó pha nước thì đã nhả cái nọc độc vào trong chén nước, cho nên vua trúng độc mà mất.

    Các quan bắt con Thị-Lộ vào tra hỏi, thì nó xưng là ông Nguyễn-Trãi sai nó, định-thần mới chiểu luật bắt tội nhà ông ấy, mà đem con Thị-Lộ vào cũi đem quẳng ra sông Nhị-hà, thì nó lại hóa ra con rắn ở trong cũi chui ra đi mất.

    Lúc nhà ông Nguyễn-Trãi đang phải nạn, có người vợ lẽ đang có mang, chạy trốn xuống ở tỉnh Nam. Về sau sinh được người con giai đặt tên là Anh Võ. Ở đã lâu, chủ nhà mới biết là vợ lẽ ông Nguyễn-Trãi.

    Đến thời Quang-thuận, vua Thành-tôn thương ông ấy mắc phải tội oan, và phong tặng làm Thái-sư Tuệ-quốc-công. Sai tìm dòng dõi nhà ông ấy, thì mới tìm thấy Anh-Võ. Vua phong quan chức cho Anh-Võ, để nối dõi nhà ông ấy. Đến sau Anh-Võ sang sứ Tàu, đi qua hồ Động-đình, bỗng thấy con rắn ở dưới nước bò lên, rồi thì phong ba nổi lên ầm ầm. Anh-Võ biết lại là con rắn trước báo oán, mới khấn rằng: “Xin cho trọn việc nước, rồi đến lúc giở về sẽ xin chịu tội”. Khấn vừa đoạn thì sóng gió lại yên. Đến lúc việc sứ xong giở về, quả nhiên lại nổi cơn sóng gió, đắm thuyền mà mất.

    Vua Thái-tôn truy tặng cho làm Thái-sư Sùng-quốc-công.

    Trong năm Cảnh-hưng, triều đình duyệt lại các sắc phong của ông khai-quốc công-thần. Khi duyệt đến sắc ông Nguyễn-Trãi, thì quan thị lang là ông Lê-quí-Đôn xé đạo sắc ấy ra nói rằng:

    - Bọn loạn-thần tặc-tử, còn để cáo sắc làm gì nữa.

    Nói vừa buông nhời, bỗng nhiên ngã gục ngay xuống, rồi thấy hai tên lính bắt đi, đưa đến một chỗ đền đài, tường dễu xung quanh, có các cây cổ thụ hàng mười ôm. Trong đền có vài chục chiếc ỷ. Ở mé hữu có một tấm sập, trên sập có một ông quan ngồi, đầu đội mũ, mình mặc áo bố-tử. Lính hầu xúm xít xung quanh. Hai tên lính bắt ông Lê-quí-Đôn quì ở dưới thềm, rồi ông quan ngồi trên sập thét lên rằng:

    - Ta là Tế-văn-hầu đây, người là sơ học tiểu-sinh, sao dám bỉ báng người có công tiền-triều, tội ngươi đáng chết!

    Lê-quí-Đôn ngồi nín lặng, không dám ngẩng mặt lên nhìn. Bên cạnh có người đội khăn lượt mặc áo xanh, kêu van thay cho Lê-quí-Đôn, ông quan lại nói rằng:

    - Công danh sự nghiệp của ta, không thèm so sánh với ngươi, ngươi đừng tưởng ngươi đỗ Bảng-nhỡn mà đã khinh người, cho ngươi về mà thử xem bài “Bình-ngô đại-cáo” của ta, nếu ngươi làm hay hơn được bài ấy, thì xé sắc của ta cũng phải.

    Lê-quí-Đôn tỉnh dậy, kinh hãi lắm, lập tức viết lại sắc của ông Nguyễn-Trãi. Vì thế sắc của công-thần không ai phải tước cả.



    12.- Trịnh-Kiểm

    Trịnh-Kiểm người làng Sóc-sơn, huyện Chân-phúc, tỉnh Thanh-hóa. Khi còn hàn vi, nhà nghèo lắm, mà thờ mẹ rất hiếu. Mẹ tính hay ăn thịt gà, mà nhà thì không có, ngày nào cũng phải ăn trộm một con gà của láng-giềng để nuôi mẹ. Láng-giềng ai cũng ghét, một bữa nhân ông ta đi chơi vắng, bắt mẹ ông ta ném xuống vực Tôm ở cạnh làng, để khỏi phải ăn trộm gà nữa. Không ngờ lòng giời run rủi, chỗ vực ấy là một huyệt to. Đêm hôm ấy, giời nổi cơn mưa gió nhớn, rồi vực ấy bỗng nổi đất lên thành mộ. Về sau có người địa-lý Tàu xem ngôi mộ đất ấy, nói rằng: “Ngôi đất này phát ra không phải đế, cũng không phải bà, mà có quyền nhất cả thiên-hạ; truyền được tám đời, rồi vạ tự trong nhà sinh ra.”.

    Trịnh-Kiểm tự khi mẹ mất, đi lơ bờ kiếm ăn, nấn ná sang Ai-lao, ở chăn ngựa cho đức Triệu-tổ đương làm Điện-tiền tướng-quân, rước con cả vua Cung-đế nhà Lê là vua Trang-tôn chạy sang Ai-lao, tìm kế khôi phục, cho nên ở bên ấy.

    Một hôm, đang đêm Triệu-tổ đứng dậy mở cửa ra sân, trông xuống dưới trại, thấy có hai khối tinh đỏ đòng đọc, tựa hồ hai bó đuốc, sai người đánh đuốc xuống xem cái gì, thì té là Trịnh-Kiểm đang ngủ ở chỗ ấy, hào quang từ trong mắt ánh ra. Triệu-tổ lấy làm kỳ, gọi lên hỏi truyện, thì ứng đối giỏi giang, tài đảm hơn người.

    Triệu-tổ thấy người có tướng lạ, biết không phải người tầm thường, đem lòng yêu mến, cử lên làm tướng bộ-hạ và gả con gái là nàng Ngọc-Bảo cho Trịnh-Kiểm.

    Tự khi ấy, Trịnh-Kiểm theo Triệu-tổ đi đánh giặc, lập được nhiều công trạng to, Triệu-tổ lại càng kính trọng lắm, cử lên làm đại-tướng, sai đốc binh ra đánh Nghệ-an, dần dần tiến ra đến Thanh-hóa khôi phục được Tây-đô.

    Đến khi Triệu-tổ mất bao nhiêu quyền chính của ngài, vua Trang-tôn giao phó cả về tay Trịnh-Kiểm, Trịnh-Kiểm có quyền to tự đấy.

    Trịnh-Kiểm tuy người võ, nhưng mưu trí hơn người, giúp vua Trang-tôn, đánh nhau với nhà Mạc, lập lên công trạng, được tiến vị phong làm Thái-sư, Dực-quận-công, sau lại thăng làm Lang-quận-công. Đến đời con là Trịnh-Tùng lại sắc xảo lắm, giúp vua Anh-tôn phá được quân nhà Mạc ở cửa bể Thần-phù, dần dần tiến binh ra thành Thăng-long, bắt được Mạc-mậu-Hiệp, đem lại được giang sơn cho nhà Lê, được tiến phong làm Bình-an vương.

    Từ bấy giờ con cháu họ Trịnh, đời đời tập phong tước vương, quyền chính lấn cả thiên tử. Trải 200 năm, tám đời truyền kế nhau, đến đời Trịnh-Khải bị Bắc-bình-vương giết mất, bấy giờ mới hết.

    13.- Lương-hữu-Khánh

    Chi họ Lương ở Thanh-hóa, phong phú có tiếng nhất ở vùng ấy. Tổ họ ấy khi xưa sinh được ba con giai, thành ra ba chi. Đang khi cuối đời nhà Trần loạn lạc, một chi xiêu dạt sang Tàu, ở
  • Chia sẻ trang này